ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
8
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ
BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VÕ NHAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2015 - 2017
: 2015 – 2017
Giảng viên HD
: TS. Nguyễn Văn Sửu
THÁI NGUYÊN, 2017
LỜI CẢM ƠN!
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của
mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Trạm chăn nuôi và thú
y huyện Võ Nhai. Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh
viên, đội ngũ thú y viên cơ sở, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân
trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.
Nguyễn Văn Sửu đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành
công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này. Tôi xin cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo
điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trạm Chăn nuôi
Thú y huyện Võ Nhai, Ban lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã đã giúp
đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại huyện Võ Nhai.
Tôi xin cảm gia đình bác Lâm Mỳ đã giúp đỡ tạo điều kiện và chia sẻ
kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
2.1.3. Tình hình sản xuất tại cơ sở ................................................................... 5
2.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt ..................................................... 5
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi .................................................... 6
2.1.4. Nhận định chung .................................................................................... 8
2.1.4.1. Thuận lợi ............................................................................................. 8
2.1.4.2. Khó khăn ............................................................................................. 8
2.2. Cơ sở khoa học .......................................................................................... 9
2.2.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ .................................... 9
2.2.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục ...................................................... 9
2.2.1.2. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa ......................................... 10
2.2.1.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt .......................................... 11
2.2.1.4. Đặc điểm về hệ miễn dịch ................................................................. 12
2.2.1.5. Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột ............................................. 13
2.2.2. Bệnh phân trắng lợn con ...................................................................... 14
2.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con ....................................... 15
2.2.2.2. Cơ chế sinh bệnh ............................................................................... 20
2.2.2.3. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh ................................................... 21
2.2.2.4. Phòng bệnh ........................................................................................ 22
2.2.2.5. Điều trị bệnh ...................................................................................... 23
2.2.3. Một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn
con trong quá trình thực tập tại huyện Võ Nhai. ............................................ 25
2.2.3.1. Nor - 100 ........................................................................................... 25
2.2.3.2. Nova - Amcoli ................................................................................... 26
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 28
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ....................................................... 28
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ......................................................... 29
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 32
4.2.1.3. Kết quả khảo sát bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ .. 43
4.2.1.5. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt ..................... 46
4.2.1.6. Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con mắc
bệnh phân trắng lợn con ................................................................................. 47
4.2.2. Kết quả điều trị phân trắng lợn con ...................................................... 49
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................ 51
5.1. Kết luận ................................................................................................... 51
5.2. Đề nghị .................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 52
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
cs
: Cộng sự
Cl.
: Clostridium
ĐVT
: Đơn vị tính
PTLC
: Phân trắng lợn con
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta, nhưng để chăn nuôi lợn phát
triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo
vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn
thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi có
lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư chăn
nuôi theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền
thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp.
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hại
kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai
đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nước
đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời
tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc
nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn
con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không
đảm bảo chất lượng dinh dưỡng. Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu
quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng
của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế. Do đó, phòng tiêu chảy cho lợn con góp
phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có
chất lượng tốt.
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất cũng như góp phần tư liệu về
quy trình tiêm phòng, vệ sinh phòng bệnh, điều trị bệnh phân trắng lợn con tại
địa bàn huyện Võ Nhai có hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng
quy trình kỹ thuật phòng và trị bệnh phân trắng lợn con trên địa bàn huyện
Võ Nhai”
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Võ Nhai - Thái Nguyên có diện tích 845,10 km2. Dân số là 64241
người (năm 2009), mật độ dân số đạt 76 người/km2. Võ Nhai giáp các
huyện Chợ Mới và Na Rì (tỉnh Bắc Kạn) về phía bắc; giáp huyện Đồng Hỷ về
phía tây; giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) về phía nam và giáp tỉnh Lạng
Sơn về phía đông (các huyện Bình Gia, Bắc Sơn và Hữu Lũng).
Đơn vị hành chính: huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính cấp
xã/phường gồm 1 thị trấn Đình Cả và 14 xã gồm: Bình Long, Cúc Đường,
Dân Tiến, La Hiên, Lâu Thượng, Nghinh Tường, Liên Minh, Phú Thượng,
Phương Giao, Sảng Mộc, Thần Sa, Thượng Nung, Vũ Chấn, Tràng Xá.
2.1.1.2. Khí hậu, thủy văn
Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm.
Nhiệt độ trung bình là 25oC, chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6:
28,9oC) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2oC) là 13,7oC. Do nằm trong vùng
khí hậu cận nhiệt đới ẩm nên thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
- Mùa khô: kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.000 đến 2.500mm, cao nhất vào
tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Nhìn chung kiểu khí hậu thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp.
2.1.1.3 Giao thông và cơ sở hạ tầng
4
Huyện Võ Nhai có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển. Hệ thống giao thông
trên địa bàn huyện có đường quốc lộ 1B chạy qua, nối giữa thành phố Thái
Nguyện với Lạng Sơn thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán trao đổi hàng
sóng Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện và 2 Đài cụm xã.
2.1.2.4. Tình hình y tế, giáo dục
Mạng lưới y tế gồm bệnh viện đa khoa huyện và các trạm y tế trên địa bàn
14 xã. Do vậy đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, tiêm chủng định
kỳ cho trẻ em, chămsóc sức khỏe và thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Huyện Võ Nhai có 3 trường trung học phổ thông, và tại tất cả các xã
đều có trường trung học cơ sở, tiểu học, mầm non được đầu tư cơ sở vật
chất đầy đủ và đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn cao.
2.1.3. Tình hình sản xuất tại cơ sở
2.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Võ Nhai là một huyện có nhiều tiềm năng về phát triển nông nghiệp.
Tuy nhiên sản phẩm của nông nghiệp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị
trường, sản xuất nông nghiệp của huyện còn mang tính tự cung, tự cấp,
các loại rau quả và các thực phẩm khác sản xuất ra cũng chủ yếu là tiêu
thụ nội địa.
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt là 51.850 tấn, trong đó thóc
25.250 tấn, ngô 26.600 tấn. Sản lượng một số cây công nghiệp ngắn ngày
như sau: cây lạc 250 tấn, đỗ tương 172 tấn, sắn 4.786 tấn.
- Diện tích trồng rừng tập trung là 1.405,59 ha, chăm sóc rừng trồng
đối với rừng phòng hộ 153 ha.
- Diện tích trồng chè là: 50,9 ha, chè cũng là cây công nghiệp chính
của nhiều hộ gia đình và ngày càng được trồng rộng rãi hơn.
Hiện nay cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường đời sống và nhu
cầu của người dân ngày càng được nâng cao đòi hỏi có những sản phẩm
6
phải có chất lượng tốt, bà con nông dân bước đầu đã áp dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, các giống mới đã được đưa vào trồng để nhằm nâng cao
dân bằng cách cấp bò giống cho người dân được hộ nghèo và sau vài năm
sẽ thu lại 1 con bò con nên số lượng bò trong huyện đã tăng lên nhiều, giúp
cho ngành chăn nuôi bò ngày càng phát triển.
* Tình hình chăn nuôi gia cầm:
Đàn gà tại địa phương được nuôi khá phổ biến ở các hộ gia đình, được
người dân quan tâm và đầu tư mạnh mẽ, đây là nguồn thu nhập chủ yếu để
phát triển kinh tế hộ gia đình.
* Tình hình chăn nuôi lợn:
Trong một vài năm gần đây chăn nuôi lợn của huyện đã có xu hướng
phát triển mạnh, chủ yếu trong khu vực hộ gia đình với phương thức trang
trại quy mô vừa và nhỏ. Để đem lại hiệu quả kinh tế cao, các hộ gia đình
chăn nuôi đã quan tâm và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
phục vụ sản xuất nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo nhiều sản
phẩm cho xã hội.
Gần đây với chính sách chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng. Ngành
chăn nuôi đã trở nên đa dạng hơn nhiều, nhiều hộ gia đình ngoài việc chăn
nuôi các loại vật nuôi truyền thống, cũng đã đầu tư vào các giống vật nuôi
khác nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Bên cạnh
đó, trong quá trình chăn nuôi cũng phát sinh nhưng vấn đề khó khăn như:
giá cả thị trường biến động, dịch bệnh xảy ra… làm thiệt hại nhiều tới lợi
ích của người chăn nuôi.
- Công tác thú y:
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó
quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi. Ngoài ra, nó
còn ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh
8
tế của người dân. Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp,
năng suất và chất lượng chăn nuôi.
- Trong chăn nuôi, trâu bò giảm đi nhiều do người dân bán trâu bò đi
mua máy cày. Tổng đàn lợn giảm do thức ăn chăn nuôi cao, giá thịt lợn
không ổn định cùng với thời tiết diễn biến phức tạp nên một số dịch bệnh
phát triển. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn nên công tác chăn nuôi
phát triển chậm.
- Thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp còn chưa ổn định nhất
là các sản phẩm chăn nuôi.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [24] so với khối lượng sơ sinh thì sau 10
ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần,
lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc
50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và
hàm lượng hemoglobin 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn
con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho tập ăn sớm.
Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh
dưỡng mạnh. Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 9 - 14 g
protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được
0,3 - 0,4 g protein/1kg khối lượng cơ thể. Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng
cơ thể, lợn con cần ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn trưởng
thành. Vì vậy, khối lượng tăng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra
10
ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh
khoảng 0,11 lít).
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung
tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có
quan hệ với khả năng tiêu hóa xenlulose khá cao trong thức ăn bổ xung. Vì
vậy, cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi.
Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày. Giai đoạn
này gọi là thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ thể mới
thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ.
Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin
được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn
nữa là sự cần thiết cho hoạt động sinh lý bình thường. Theo Đào Trọng Đạt và
cs, (1996) [6] thì việc tập ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm cho lợn con đã rút
ngắn giai đoạn thiếu HCl, tăng khả năng tạo miễn dịch cho lợn con. Vì vậy
trong các thời kỳ nuôi dưỡng lợn con ta cần chú ý: Lợn con sơ sinh giai đoạn
(7 - 10) ngày tuổi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ nhất cần cho lợn con bú
sữa đầu vì sữa đầu có nhiều kháng thể, lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn sữa
thường. Từ 21 ngày tuổi trở đi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ 2, là thời kỳ
sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, để khắc phục tình trạng này cần cho lợn con
tập ăn sớm, kích thích tăng lượng enzim, HCl, tạo động lực cho sự phát triển
của dạ dày, ruột.
2.2.1.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, (2009) [7], Lợn con mới sơ sinh có sự thay
đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định
13
sang qua sữa đầu. Lượng γ globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần ở lợn con sau khi
sinh, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình là 65
mg/100ml máu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu... được
tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho
lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại
mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con.
Theo Trần Cừ ( 1972) [1], máu thực hiện chức năng sinh lý quan trọng
như: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, duy trì cân bằng nước, điều hoà thân nhiệt,
bảo vệ... máu có chức năng lưu thông nên phản ánh đúng và kịp thời mọi biến
đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể.
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm ( 1995) [10], nhất thiết lợn con
sơ sinh phải được bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh. Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho
lợn con có sức đề kháng. Vì thế cần cho lợn sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số con trong đàn được bú sữa đầu của lợn mẹ. Trong điều
kiện bình thường, nếu không cho lợn con bú sữa đầu thì rất khó nuôi.
2.2.1.5. Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
-
Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E. coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus... Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E. coli. Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
E. coli trở lên cường độc gây bệnh, cấu trúc kháng nguyên của E. coli rất
phức tạp. Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng
thì con vật chết rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao 80 - 90% (Phạm Sỹ Lăng và cs,
2003) [18]. Trường hợp lợn con bị nhiễm ghép với các vi khuẩn gây bệnh
khác như: Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn (Salmonella) lợn con có thể
chết 100% (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2006) [33].
Bệnh PTLC thường xảy ra quanh năm, không theo mùa vụ (Đào Trọng
Đạt và cs, 1996) [6].
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh đã được
15
khống chế phần nào song việc loại trừ nó ra khỏi chăn nuôi tập trung thì còn
gặp rất nhiều khó khăn không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ
khoa học tiên tiến trên thế giới.
2.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân nội tại
Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa
hoàn thiện. Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất
lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì lợn con sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn
bẩn... gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.
Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [20], Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa
phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch. Trong dạ dày lợn con
thiếu HCl, do đó pepsinozen tiết ra không được hoạt hóa để chuyển thành
pepsin. Khi thiếu men pepsin sữa bị kết tủa dưới dạng cazein không tiêu hóa
được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân
có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa.
Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [6], thì một trong các yếu tố làm cho lợn
con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh
bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [34], Sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia
súc. Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của
chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn.
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ
quan chưa ổn định và hoàn thiện. Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng
phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy, lợn con là đối
tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng
thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu.