Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều năm nay, chương trình nạc hóa đàn lợn luôn là mục tiêu
hàng đầu của nhà nước ta nhằm cung cấp con giống có chất lượng cao cho
người chăn nuôi, với các giống siêu nạc, chỉ số tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc
lại cao, giá bán ra thị trường hoặc xuất khẩu rất được giá, đem lại lợi nhuận
cho người chăn nuôi.
Ở nước ta hiện nay, việc phát triển chăn nuôi lợn theo hình thức trang
trại đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các trang trại có vốn đầu tư nước
ngoài, được phát triển theo hướng chuyên môn hoá, điển hình như các trang
trại lợn của công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam có vốn đầu tư từ
Thái Lan.
Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng
khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống chịu bệnh tật kém.
Đây là vấn đề khó khăn mà các trại chăn nuôi thường gặp phải. Trước tình
hình đó, yêu cầu các trang trại chăn nuôi phải có qui trình tiêm phòng, vệ sinh
phòng bệnh chặt chẽ và kết hợp với điều trị bệnh có hiệu quả.
Đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái, vấn đề thường gặp và cũng là
vấn đề nan giải hiện nay vẫn là bệnh phân trắng lợn con ở lợn con theo mẹ.
Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tuỳ thuộc vào sự thay đổi ít, nhiều của các
yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắc
bệnh cao 70 - 80%, có nơi 100%, tỷ lệ chết có thể 18 - 20% (Đào Trọng Đạt,
1996)[2]. Khi lợn con mắc bệnh mà điều trị lâu khỏi sẽ gây chi phí điều trị cao,
lợn con bị còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợn
giống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con sau này.
Chính vì vậy bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ rất lâu, từ
đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị hiệu quả là việc rất quan trọng.
1
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
Paltineae và cộng sự (1975) đã cho biết trong quá trình chẩn đoán bệnh
phân trắng lợn con phát hiện thấy E.coli và đề nghị chú ý đến các Serotyp: O
5
,
O
8
, O
55
, O
64
, O
78
, O
149
, O
179
.
Theo Sokol và cộng sự (1991)[18] cho rằng vi khuẩn E.Coli có vai trò
cộng sinh thường trực trong đường ruột trở thành vi khuẩn gây bệnh là vì
trong quá trình sống, cá thể vi khuẩn tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh mà
theo ông đó là các yếu tố gây dung huyết (HY), yếu tố cạnh tranh (Col), yếu
tố bám dính (K
88
, K
99
), độc tố đường ruột (Enterotoxin), yếu tố kháng kháng
sinh R. Các yếu tố gây bệnh này không được truyền qua ADN của
chromosome mà di truyền bằng ADN nằm ngoài chromosome được gọi là
Plasmid, qua hiện tượng trao đổi di truyền bằng tiếp hợp. Chính nhờ các yếu
tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột
(80%), Sulfonamid (75%).
2.2. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ LỢN CON
Ở lợn con, do cấu tạo cơ thể cũng như chức năng của các cơ quan, bộ
phận cơ thể, chức năng của hệ thống thần kinh, thể dịch chưa hoàn thiện, do
đó sự thích ứng của lợn con với điều kiện ngoại cảnh còn kém. Hiểu rõ được
điều này giúp cho người chăn nuôi có những biện pháp tốt để chăn nuôi tốt và
4
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
hạn chế tối đa bệnh phân trắng lợn con.
Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến lợn con thích ứng kém với
môi trường: điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, hệ
thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, thiếu sắt, hệ thống miễn dịch và
hormone chưa phát triển.
* Điều hoà thân nhiệt kém
Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5
0
C – 39
0
C, thân nhiệt trung
bình là 33
0
C – 35
0
C. Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: nhiệt
độ trực tràng giảm 2
0
C khi nhiệt độ chuồng nuôi 18
0
C, nhưng sẽ giảm 5
Kháng (1996)[2], lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu axít HCl tự
do trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa. Do
vậy việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắn
được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tạo khả năng xây
dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Cho tới 15 - 21 ngày, enzyme của lợn con chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa
(chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactaza
cho lactoz). Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzym tiêu hoá tinh bột và
protein thực vật phát triển nhanh. Do đó việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích
thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá.
* Thiếu sắt
Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn
đến hạn chế sản xuất kháng thể.
Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70 mg ở gan), trong khi đó nhu cầu
của cơ thể lợn tới 6 - 7 mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1 mg/con/ngày.
Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là khi cai sữa. Vì vậy việc bổ sung sắt
là việc cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế được
bệnh phân trắng lợn con .
* Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh
Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như không có kháng thể. Lượng kháng
thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu. Cho nên khả năng miễn
dịch của lợn con hoàn toàn là thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể thu
được nhiều hay ít từ sữa mẹ.
Trong sữa đầu của lợn nái, hàm lượng protein rất cao. Những ngày đầu
6
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
mới đẻ hàm lượng protein chiếm tới 18 - 19%, trong đó hàm lượng
γ_globulin chiếm số lượng khá lớn (34 - 35%). γ_globulin có tác dụng tạo sức
đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch
* Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: nhóm vi khuẩn này thích ứng với
môi trường của đường tiêu hoá trở thành vi khuẩn bắt buộc gồm: Escherichia
coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus
Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn đường
ruột “Enterobacteriaceae”.
Enterobacteriaceae: là một họ lớn bao gồm các trực khuẩn Gram âm,
sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân rác, nước
tiểu, trong đất hoặc trong thực vật. Enterobacteriaceae đại diện có: E.coli;
Salmonella; Klebsiella; Shigella; Proteus.
- Escherichia coli (E.coli)
Vi khuẩn luôn tồn tại trong đường tiêu hoá người và gia súc, gia cầm.
Đây là loại vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi, mọi
chỗ. Khi có điều kiện cho cơ thể vật chủ thì các chủng E.coli trở lên cường
độc gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có đủ ba loại kháng
nguyên. Kháng nguyên K cũng có nhiều loại như: L, A, B. Dựa vào cấu trúc
kháng nguyên người ta chia E.coli ra làm các Serotyp khác nhau. Dựa vào cấu
trúc kháng nguyên người ta đã xác định được 170 kháng nguyên: 80 kháng
nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng nguyên F.
Bệnh phân trắng lợn con do serotyp O
78
: K
88
gây ra ở lợn con thường làm
chết lợn ở 1 tuần tuổi và 2 tuần tuổi, do E.coli vào trong cơ thể gây tiêu chảy và
bại huyết.
- Salmonella
Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae, vi khuẩn
Salmonella được gọi là trực khuẩn đường ruột. Ở điều kiện bình thường
Salmonella không gây bệnh mà có vai trò góp phần giữ cân bằng hệ vi sinh
9
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
kỳ bú mẹ. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 50 - 100%, trong đó tỷ lệ chết có thể tới 60
- 70%, nếu không can thiệp kịp thời, bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng thường
phát mạnh khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào).
2.4.1. Nguyên nhân
Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm,
nghiên cứu và đưa ra những nhận định khác nhau về nguyên nhân gây bệnh.
Song, tập trung nguyên nhân gây bệnh có thể theo hai hướng chính như sau:
- Nguyên nhân nội tại
- Nguyên nhân do ngoại cảnh
* Nguyên nhân nội tại
Theo các tác giả Nguyễn Văn Thanh, Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã (2004)
[14]. Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá
và hệ miễn dịch. Trong dạ dày lợn con thiếu axít HCl do đó pH dạ dày cao
(pH = 3 - 4), tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
Khi thiếu HCl, Pepsinozen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt động
được. Khi thiếu men pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dưới
dạng casein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của casein
chưa được tiêu hoá).
Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết nhiệt của lợn con
chưa hoàn chỉnh, do đó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của
thời tiết, khí hậu. Lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%.
Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và
thải nhiệt. Đặc điểm này lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra ồ ạt, hàng loạt
khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường.
* Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thống nhất. Bệnh
phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng
ẩm thích hợp cho lợn con vào khoảng 75 - 85%. Do đó trong những tháng
11
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
mưa nhiều thì số lượng lợn con bị phân trắng tăng rõ rệt, có khi tới 90 - 100%
toàn đàn. Vì vậy việc làm khô chuồng là vô cùng quan trọng. Nền chuồng ẩm
thấp, khó thoát nước trong mùa nóng bức làm bệnh phân trắng dễ phát sinh.
Theo tác giả Sử An Ninh (1993)[8], Bệnh phân trắng lợn con có liên
quan đến trạng thái stress. Trong đó Stress lạnh ẩm làm cho lợn con không
giữ được mối cân bằng hoạt động của hệ thống: hạ khâu não - tuyến yên -
tuyến thượng thận làm thay đổi hàm lượng Fe
2+
, Na
+
và K
+
trong máu làm
giảm sức đề kháng của lợn con, nhất là lợn con sơ sinh, gây hiện tượng ỉa
phân trắng. Do vậy, việc tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm áp về mùa
đông, thoáng mát về mùa hè và giữ khô ráo chuồng là hết sức cần thiết. Khi
độ ẩm chuồng nuôi dưới 60% thì bệnh phân trắng lợn con giảm rõ rệt, nên
việc vệ sinh chuồng trại là yếu tố quyết định trực tiếp đến sức khoẻ của lợn
con. Vệ sinh tốt sẽ làm tăng khả năng miễn dịch không đặc hiệu của lợn.
* Do đặc điểm nuôi dưỡng
Ngoài điều kiện về các yếu tố bên ngoài, điều kiện về nuôi dưỡng cũng
đóng vai trò quan trọng, do lợn con mới sinh, đặc điểm thích nghi còn kém,
các cơ quan nhất là cơ quan tiêu hoá chưa phát triển đầy đủ. Do vậy nếu yếu
tố dinh dưỡng không tốt, không hợp lý cũng là nguyên nhân chính gây bệnh.
Bệnh phân trắng lợn con là do hai nguyên nhân, tác động nặng, nhẹ khác nhau:
+ Do thành phần sữa mẹ có nhiều chất khô, mỡ khó tiêu lợn con sinh
* Nguyên nhân do E.coli
Đây là nguyên nhân được nhiều tác giả nghiên cứu từ rất lâu, và đã
chứng minh được vai trò của E.coli trong bệnh phân trắng lợn con.
Theo tác giả Lê Văn Tạo và cộng sự (2006)[12], đã phân lập từ phân của
lợn con mắc bệnh phân trắng được 75 chủng E.coli thuộc 13 serotyp kháng
nguyên là O
111
, O
86
, O
26
, O
149
, O
1
, O
55
, O
124
, O
127
, O
8
,….
Cũng theo tác giả Lê Văn Tạo (2006)[12]. Bệnh thường xảy ra ở lợn
con, đặc biệt là lợn con sơ sinh từ 1 đến 21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong
10 ngày đầu, có con mắc rất sớm ngay khi sinh 2 - 3 giờ và mắc muộn hơn
sau khi đã tròn 4 tuần tuổi, bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi, khí hậu
rét, mưa nhiều, độ ẩm cao. Bệnh hay xảy ra ở các đàn lợn mẹ đẻ lần đầu, lợn
mẹ chửa không được chăm sóc đầy đủ, chuồng trại chăn nuôi mất vệ sinh, vi
* Nguyên nhân do virus
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus.
Một số nhà khoa học Khi nghiên cứu đã thấy Rotavirus thuộc họ Reovindae
gây ra. Bệnh hay xảy ra ở lợn 1 - 5 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 - 100%. Có
triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu
vàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón.
2.4.2. Cơ chế gây bệnh
Bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến trạng thái stress như: thời tiết
14
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
ẩm lạnh hoặc nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về
lượng đạm và chất béo, chất khoáng và vitamin.
Hệ thống dạ dày - ruột đặc biệt mẫn cảm với stress. Ngay ở giai đoạn
báo động của quá trình stress, nhu động ruột tăng, thậm chí gây ỉa chảy cấp
tính. Nếu tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắn
xảy ra viêm dạ dày - ruột. Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày - ruột bởi
stress, các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá đã làm bệnh trầm trọng hơn, tổn
thương nặng hơn.
Các tác nhân stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi khuẩn phát triển,
nhất là vi khuẩn E.coli.
Vi khuẩn E.coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào đường
ruột của lợn. Trong ruột, khi có đủ các điều kiện thuận lợi, vi khuẩn nhân lên
với số lượng lớn, sản sinh yếu tố kháng khuẩn Colicin V (Col V). Yếu tố này
tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt
là các vi khuẩn có lợi: B.subtylis, các vi khuẩn lactic, trở thành vi khuẩn có số
lượng lớn trong đường ruột. Khi có số lượng lớn, chiếm ưu thế, vi khuẩn tràn
lên ruột non. Ở ruột non nhờ kháng nguyên bám dính, vi khuẩn bám dính vào
lớp tế bào biểu mô nhung mao ruột, nhờ yếu tố xâm nhập, vi khuẩn xâm nhập
vào trong lớp tế bào biểu mô, vi khuẩn phát triển và nhân lên lần thứ nhất làm
- Giai đoạn tiếp theo, phân táo bón chuyển sang sền sệt, màu vàng, sau
2 – 3 ngày phân chuyển thành màu vàng trắng hay trắng xám, sau có thể là
vàng. Phân ngày một lỏng hơn, số lần ỉa chảy cũng ngày càng nhiều, có khi
15 – 20 lần/ngày, có mùi tanh khắm, trong phân có lẫn những hạt sữa chưa
tiêu lổn nhổn như vôi, hay có lẫn nhiều bọt khí. Có trường hợp mới mắc bệnh
đến ngày thứ ba, phân đã loãng như nước, tháo ra tung tóe, lúc này lợn mất
nước nặng, lợn rơi vào trạng thái hôn mê, hấp hối và chết, tỷ lệ chết cao có
thể là 40 – 70%, thậm chí là 100%.
- Giai đoạn khỏi bệnh, lợn đi ỉa phân từ màu trắng xám chuyển thành
xám đen hay đen, phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khỏe.
* Bệnh tích:
Xác chết gầy, đuôi và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô
16
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
mất tính đàn hồi.
Dạ dày chứa đầy sữa đông vón màu vàng trắng do chưa tiêu. Ruột non
có dịch màu vàng và có xuất huyết điểm ở thành ruột, niêm mạc ruột bị hoại
tử từng đám. Trong ruột (ruột già) chứa phân màu vàng. Làm cho ruột xuất
huyết, hạch màng treo ruột sưng.
Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng, chứa dịch.
2.4.5. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh
Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh gây ra bởi nhiều nguyên nhân
kết hợp với nhau, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá.
Do vậy mà việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện
pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc tốt
Theo Lê Văn Tạo (2006)[12], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi sinh, đường tiêu hoá của vật chủ. Khi môi sinh
, O
147
, O
141
, O
149
, O
129
, O
138
, O
127
, O
115
, O
8
,… Vac - xin chế
dạng vô hoạt dùng tiêm cho lợn mẹ 1 - 2 lần trước khi đẻ. Lợn mẹ được
miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con qua sữa, nhất là sữa đầu. Lợn
con có khả năng chống đỡ với các chủng E.coli gây bệnh. Hiệu quả 60%.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam, ngoài Vac - xin trong nước sản
xuất đang lưu hành các loại Vac - xin do nước ngoài sản xuất như:
Neocolipor của hãng Nissan chemical Indutries, Vac - xin litler Guard LT
- C của hãng Embrex INC sản xuất phòng tiêu chảy phòng bệnh tiêu chảy
do E.coli.
* Trị bệnh
Hiện nay, các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là
hiệu quả điều trị bệnh. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đi đến
kết luận: Cần phải điều trị sớm, kết hợp với nhiều biện pháp tổng hợp
nhằm khống chế và khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạn
Ngoài ra khâu hộ lý chăm sóc, bổ sung nước và chất điện giải là cần
thiết để cơ thể bệnh nhanh chóng hồi phục.
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Lợn con giai đoạn theo mẹ từ 1 - 21 ngày tuổi ở trại lợn giống siêu nạc
Thanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội.
19
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Điều tra tình hình chăn nuôi, dịch bệnh của trại lợn giống siêu
nạcThanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội.
+ Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo
mẹ tại trại lợn giống siêu nạc Thanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội.
- Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo
mẹ từ năm 2006 – 2008 và các tháng trong năm 2009
- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ
+ Theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc phân trắng lợn con
+ Thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phương pháp điều tra dựa vào số liệu được cung cấp tại phòng kỹ thuật
của trại và qua quan sát trực tiếp
* Phương pháp xác định bệnh dựa vào dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng
Để xác định các chỉ tiêu lâm sàng của bệnh, chúng tôi tiến hành theo dõi
trên những lợn con đã mắc bệnh. Theo dõi tỉ mỉ và đếm chính xác những con có
biểu hiện lâm sàng đặc trưng trên tổng số con theo dõi: 65 con.
* Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo độ tuổi của
lợn con
Để xác định nội dung này, chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con
cũng như nguyên tắc sử dụng kháng sinh đồng thời thực hiện chăm sóc,
nuôi dưỡng tốt.
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ mắc bệnh (%) =
Tổng số con mắc bệnh
Tổng số con theo dõi
x 100
Tỷ lệ khỏi (%) =
Tổng số con khỏi
Tổng số con điều trị
x 100
21
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
Tỷ lệ tái phát (%) =
Tổng số con mắc lại
Tổng số con điều trị khỏi
x 100
Tỷ lệ chết (%) =
Tổng số con chết
Tổng số con theo dõi
x 100
Tỷ lệ còi cọc (%) =
Tổng số con còi cọc
Tổng số con điều trị khỏi
x 100
* Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được chúng tôi xử lý bằng phương pháp thống kê
sinh học trên phần mềm Excel
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1.2. Tình hình chăn nuôi lợn của trại
Trại Thanh Mỹ - Sơn Tây - Hà Nội là một trại nuôi lợn nái ngoại. Trại
hoạt động nhằm sản xuất lợn thương phẩm F1, sau đó lợn F1 được chuyển
đến các trại lợn thịt của công ty CP hoặc bán cho khách hàng.
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,2 - 2.5 lứa/năm. Tỷ
lệ sơ sinh: 11,77 con/đàn, tỷ lệ cai sữa: 9,97 con/đàn. Trại hoạt động vào mức
khá theo đánh giá của công ty CP. Hoạt động chăn nuôi của trại là chỉ chăn
nuôi lợn nái, cơ cấu đầu lợn của trại được biểu thị qua bảng 4.1.
Bảng 4.1.1. Kết quả điều tra cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống siêu nạc
23
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Văn Cường – Thú Y A – K49
Thanh mỹ - Sơn Tây – Hà Nội (tháng 4/2009)
Loại lợn Giống Số lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
Đực giống Duroc 6 0,90
Pidu 6 0,90
Nái sinh sản Yorkshire 320 48,19
Landrace 290 43,67
Nái hậu bị Yorkshire 26 3,92
Landrace 16 2,41
Tổng 664 100
(Nguồn: Phòng kỹ thuật)
Qua bảng 4.1.1 chúng tôi thấy:
Trại chỉ sản xuất lợn thương phẩm F1, do đó cơ cấu của trại chỉ có lợn
nái, lợn đực giống và lợn con theo mẹ. Cụ thể: lợn đực giống có 12 con, lợn
nái sinh sản có 610 con, lợn nái hậu bị 42 con.
Tại trại lợn nái nuôi con đến 21 ngày tuổi, đến lúc cai sữa là cho xuất
duy nhất vào khu chăn nuôi trên đường này có hố vôi tiêu độc xe ôtô.
Khi công nhân vào khu nuôi lợn đều phải sát trùng tại nhà sát trùng và
thay quần áo. Quần áo bên ngoài không được mang vào khu chuồng nuôi
lợn và ngược lại, quần áo lao động trong khu chuồng nuôi không được sử
dụng bên ngoài.
Ở trong các chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ, chuồng được định kỳ tiêu
độc bằng Biocid vào đầu giờ chiều hàng ngày, pha Biocid với tỷ lệ 1,5 ml
Biocid trên 1 lít nước sạch, phun vào không khí, sàn chuồng, xung quanh
trại. Các hành lang giữa các dãy chuồng thường xuyên được rắc vôi bột.
Gầm chuồng thường xuyên được xịt rửa vào mùa hè, và 2 ngày xịt rửa
một lần vào mùa đông.
Các ô chuồng nuôi lợn cai sữa, sau khi bán lợn con, lợn mẹ được chuyển
sang chuồng nuôi lợn mang thai. Các tấm đan chuồng này được tháo ra,
mang ra ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1
25