VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM MINH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2017
Công trình đ-ợc hoàn thành tại : Học viện Khoa học xã hội
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bựi Nguyờn Khỏnh
Phản biện 1: PGS.TS.Nguyn Minh Phng
Phản biện 2: GS.TS. Nguyn Hu Khin
Luận vn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận vn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội v o 13 giờ ngày 10 .tháng 10 năm
2017
1
nước ở Trung ương hiện nay”làm nội dung nghiên cứu của luận văn
thạc sỹ chuyên ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước” của PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân
Sầm, Nxb Chính trị quốc gia 2003; các tác giả đã đúc kết, đưa ra các
quan điểm, định hướng trong việc xây dựng và hoàn thiện chính
sách, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung;
“Pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và một số
nước trên thế giới” của TS Trần Anh Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia,
2011. Cuốn sách đề cập đến những vấn đề pháp lý của hoạt động
công vụ Việt Nam từ 1946 đến nay và so sánh các chế định pháp luật
công chức ở Việt Nam với các chế định pháp luật của một số nước
trên thế giới, trong đó có các vấn đề pháp lý về tuyển dụng công
chức.
Các tác phẩm và công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh
chính sách công và pháp luật về một nền công vụ, công chức; các
luận cứ khoa học cho việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng
từ công chức; so sánh và đề xuất việc tiếp thu các chính sách về công
chức ở các nước trên thế giới cho Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có tác
giả nào đi sâu nghiên cứu việc thực hiện chính tuyển dụng công chức
ở Việt Nam với tư cách là một loại chính sách tác động trực tiếp đến
hoạt động công vụ ở các cơ quan HCNN ở Trung ương. Vì vây, việc
chọn nghiên cứu đề tài luận văn: “Thực hiện chính sách tuyển dụng
công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương
hiện nay” sẽ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ thêm lý luận và
3
+ Không gian: Chính sách tuyển dụng công chức mới vào
làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương.
+ Thời gian: Nguồn để phân tích thực trạng trong khoảng
thời gian 2013 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội
học và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công.
Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính
sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách
công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách
công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình
thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
- Phương pháp luận của duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
trong nghiên cứu khoa học
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp,
được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các
nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện,
tài liệu, Nghị quyết của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và
các bộ, ngành ở Trung ương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo,
tài liệu thống kê của các Bộ, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách tuyển dụng.
Đồng thời, thu thập các số liệu của các tổ chức và học giả quốc tế
liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận:
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Lý luận về chính sách và thực hiện chính sách tuyển
dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước
“Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan của
nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công
cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định
của đảng chính trị cầm quyền.”
Ở nước CHXHCN Việt Nam, Đảng lãnh đạo toàn diện tuyệt
đối nhà nước và xã hội (Điều 4, Hiến pháp 2013). Do đó, mọi chính
sách phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển con người nhằm
xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng, nhà nước của
dân, do dân và vì dân đều được xuất phát từ định hướng mang tính
chất chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN
là một trong những chính sách công do nhà nước ban hành nhằm thể
chế hóa đường lối của Đảng trong hoạt động công vụ thuộc lĩnh vực
tuyển dụng nhằm sử dụng và quản lý công chức một cách có hiệu
quả.
1.2. Khái niệm hoạt động công vụ, công chức và tuyển
dụng công chức
1.2.1. Khái niệm công chức
Khái niệm công chức được quy định rõ tại Điều 4 Luật Cán
bộ, công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan
khác trong nền hành chính thì công chức là nhân tố tham gia xây
dựng, đề xuất chính sách, đồng thời là chủ thể triển khai, thực hiện
7
chính sách, pháp luật, là cơ sở bảo đảm sự thành bại của các quyết
định quản lý.
1.3. Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay
1.3.1. Mục tiêu, yêu cầu và nội dung chính sách tuyển
dụng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
Mục tiêu thực hiện chính sách tuyển dụng công chức
Mục tiêu tổng quát của thực hiện chính sách tuyển dụng là
tìm kiếm và lựa chọn người có phẩm chất, trình độ, năng lực phù hợp
với các vị trí cần tuyển vào làm việc trong các cơ quan HCNN.
Mục tiêu cụ thể của thực hiện chính sách tuyển dụng:
- Tạo ra môi trường, cạnh tranh lành mạnh về tài năng giữa
các ứng viên mong muốn trở thành công chức.
- Lựa chọn một cách khoa học trình độ các ứng viên để sắp
xếp phù hợp với từng ngạch công chức và vị trí việc làm.
- Nâng cao chất lượng công chức và sắp xếp lại bộ máy hành
chính theo hướng “có vào – có ra”, đáp ứng yêu cầu tinh giản biên
chế trong bộ máy hành chính nhà nước.
Yêu cầu thực hiện chính sách tuyển dụng:
Thứ nhất, việc thực hiện chính sách tuyển dụng phải bảo đảm
tính công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
Thứ hai, bảo đảm tính cạnh tranh trong thi tuyển
Thứ ba, việc tuyển chọn phải đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
và vị trí việc làm và ngạch công chức
Thứ tư, yêu cầu về việc bảo đảm chế độ tiền lương và các chế
quản lý trong các cơ quan HCNN. Các cơ quan HCNN bao gồm hệ
thống danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Đây là cơ
9
sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng đảm bảo cơ
cấu hợp lý.
Phân loại vị trí việc làm được coi là nền tảng quan trọng cho
việc lựa chọn phương thức và quy trình tuyển dụng công chức.
Thứ ba, giải pháp nâng cao chất lượng công chức làm công
tác tuyển dụng
Nâng cao năng lực tuyển dụng (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
cho người làm công tác tuyển dụng là việc làm không thể thiếu được
trong công tác tuyển dụng. Người làm công tác tuyển dụng phải có
chuyên môn cao và những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhất
định; am hiểu lĩnh vực công tác của Bộ, ngành cần tuyển dụng.
Thứ tư, giải pháp thu hút nhân tài
Thu hút người có tài năng trong cơ quan hành chính nhà
nước được hiểu là tổng thể các chính sách tạo sức hấp dẫn và sự lôi
cuốn nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt (cả điều kiện vật chất
và tinh thần) để người có tài năng, những người có năng lực, trình độ
cao và phẩm chất đạo đức tốt vào làm việc.
Các công cụ thực hiện chính sách tuyển dụng
Công cụ chính sách được hiểu là những cách thức mà chủ thể
sử dụng để tổ chức triển khai thực hiện chính sách. Các công cụ thực
hiện chính sách tuyển dụng bao gồm:
Thứ nhất, công cụ dựa vào tổ chức
Thứ hai, công cụ dựa vào quyền lực
Thứ ba, công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền
1.3.3. Chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng công chức
bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc,
11
giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong
bối cảnh môi trường, kinh tế, xã hội ngày càng phát triển thì mức độ
cạnh tranh lại càng cao. Nhu cầu về chất lượng cán bộ, công chức
ngày càng được nâng lên để phục vụ cho hệ thống hành chính nhà
nước ngày một tiến bộ theo hướng tinh giản, khoa học và hiệu quả.
Đặc biệt, các nhu cầu dữ liệu hóa các thủ tục hành chính càng cần
thiết và nắm bắt xu hướng của thời đại. Nếu chúng ta không chủ
động nâng cao chất lượng công chức cũng như điều chỉnh chính sách
tuyển dụng công chức, điều chỉnh các quy định về pháp lý phù hợp
với điều kiện mới của nền hành chính công vụ thì khó có thể khắc
phục được các phát sinh tiêu cực xuất hiện trong quá trình phát triển
của xã hội.
Hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị của Việt Nam được
cấu thành bởi ba hệ thống cơ quan, tổ chức: Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức đoàn thể chính trị - xã hội. Hệ thống chính trị có thể chia thành
các yếu tố nhỏ hơn như: yếu tố văn hóa chính trị, hiến pháp và thể
chế chính trị. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạch
định, xây dựng, thực thi, đánh giá chính sách TDCC.
Các yếu tố bên trong: ảnh hưởng đến chính sách TDCC
trong các cơ quan HCNN ở Việt Nam như: hệ thống kinh tế; hệ
thống các giá trị xã hội; năng lực, khả năng của tổ chức, đội ngũ công
chức xây dựng, hoạch định chính sách tuyển dụng, các tác động,
phản hồi từ dư luận xã hội.
12
giám sát tài chính quốc gia), Thủ tướng Chính phủ thành lập mà
không phải đơn vị sự nghiệp công.
2.1.2. Số lượng, chất lượng đội ngũ công chức trong các cơ
quan hành chính nhà nước ở Trung ương
Theo số liệu thông kê năm 2013 của Bộ Nội vụ, đội ngũ
công chức trong các cơ quan HCNN từ cấp huyện trở lên bao gồm
270.262 người (chiếm 70,4% tổng số công chức nói chung trên cả
nước). Báo cáo của các bộ, ngành, địa phương cho thấy chất lượng
đội ngũ công chức trong bộ máy HCNN từ Trung ương tới cấp huyện
(khối hành pháp) theo trình độ đào tạo trên các mặt đã được nâng lên
một bước nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động thực
thi công vụ.
Số lượng công chức trong các cơ quan HCNN thuộc Trung
ương là 110.256 người chiếm 40,8% số công chức trong toàn hệ
thống cơ quan HCNN. Về cơ cấu ngạch và trình độ chuyên môn thì
số CVCC và Tiến sỹ đều thuộc các cơ quan HCNN thuộc Trung
ương chiếm đa số. Tuy nhiên, ta có thể thấy trình độ công chức là
thạc sỹ và tiến sỹ trong cơ cấu công chức còn thấp và độ tuổi lao
động của cán bộ công chức dưới 30 và trên 50 khá phổ biến, trình độ
ngoại ngữ thấp so với yêu cầu của chính sách công chức trong điều
kiện hội nhập. Từ đó đặt ra yêu cầu cần có chính sách thu hút nguồn
nhân lực chất lượng cao, đồng bộ trong các cơ quan HCNN nói
chung và cơ quan HCNN thuộc Trung ương nói riêng.
2.2. Tình hình thực hiện chính sách tuyển dụng công
chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
2.2.1. Kết quả thực hiện chính sách tuyển dụngcông chức
trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
14
15
phương diện: (1) chính sách pháp luật không thống nhất cả về tiêu
chuẩn, chỉ tiêu biên chế và vị trí việc làm. (2) Khi thực hiện mục tiêu,
yêu cầu một số Bộ, ngành còn chủ quan trong tuyển dụng. Quan
niệm có nhiều thì tuyển dụng nhiều, không căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ và tính chất của từng ngành. (3) Việc dự báo sắp xếp (đầu
ra – đầu vào) các công chức ở các vị trí việc làm chưa được khoa
học.
2.2.3. Kết quả thực hiện các giải pháp chính sách tuyển
dụng
Trong quá trình thực hiện chính sách, Chính phủ và Bộ Nội
vụ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tổ chức thực hiện các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc TDCC. Do đó, các giải pháp
chính sách tuyển dụng cũng đã được thực hiện đồng bộ, hiệu quả hơn
so với trước đây.
2.2.4. Kết quả thực hiện các công cụ chính sách tuyển
dụng tại các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương
Mặc dù các giải pháp chính sách được thực hiện chưa đạt
hiệu quả cao nhưng, các cơ quan thuộc khối Trung ương đã thực hiện
các công cụ chính sách sau để hoàn thành việc TDCC:
Công cụ dựa vào tổ chức
Từ 2013 đến nay, có rất ít vụ việc khiếu nại, tố cáo nào tại
các cơ quan hành chính Trung ương về công tác tuyển dụng. Trên
90% các Hội đồng tuyển dụng được thành lập ở các Bộ, ngành) có
Bộ, ngành rất cẩn thận, mời các chuyên gia, cách nhà khoa học có
kinh nghiệm trong thành phần Hội đồng..). Tuy nhiên, chất lượng của
các Hội đồng cũng là hạn chế đặt ra trong công tác tuyển dụng.
Nhiều Bộ, ngành thành lập một cách hình thức, không đúng, đủ thành
thiện công vụ, công chức, phát triển nguồn lực. Từ đó, có những biện
pháp triển khai và thực hiện chính sách tuyển dụng.
17
Những khó khăn, hạn chế
Về công tác ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Luật cán bộ, công chức còn chậm so với hiệu lực thi hành
của Luật; một số quy định chưa được ban hành hoặc đã có nhưng
không phù hợp với thực tế; chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, gây khó
khăn cho việc thực hiện chính sách, đối với cán bộ, công chức trên
thực tế. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong ban hành văn bản quy
phạm pháp luật chưa đồng bộ và việc tổ chức thực hiện theo chức
năng, nhiệm vụ được phân công chưa tốt.
Nguồn kinh phí phân bổ cho chính sách TDCC vẫn còn hạn
chế nên các công tác chuẩn bị cho việc tuyển dụng chưa thực sự đáp
ứng được chủ trương, chính sách đề ra.
Chương 3
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG
3.1. Phương hướng và mục tiêu hoàn thiện chính sách
tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở
Trung ương
3.1.1 Phương hướng hoàn thiện chính sách tuyển dụng
công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
Một là, cần nhận thức sâu sắc hơn nữa việc xây dựng chế độ
công vụ, công chức một cách khoa học, tiên tiến, đặt công chức là vị
trí trọng tâm, quyết định toàn bộ các hoạt động quản lý nhà nước.
Hai là, cần có sự phân công cụ thể trách nhiệm của các chủ
không thực hiện đúng chính sách.
Mục tiêu thứ năm, các cơ quan HCNN tiếp tục hoàn thiện các
đề án vị trí việc làm trên cơ sở bản mô tả công việc và khung năng
19
lực của từng công chức để làm căn cứ cho việc tuyển dụng tại mỗi
Bộ, ngành hiện nay.
3.2. Hoàn thiện việc thực hiện chính sách tuyển dụng
công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
3.2.1. Hoàn thiện về thể chế chính sách
Trong quá trình hoàn thiện thể chế nói chung, việc hoàn
thiện các quy định về tuyển dụng công chức nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức phải được chú trọng và quan tâm hàng đầu;
cải cách chế độ tuyển dụng công chức không thể đứng ngoài hoạt
động xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật..
Để có thể hoàn thiện thể chế thì từ Chính phủ đến các bộ,
ngành cần có những cơ chế phối hợp nhịp nhàng, tránh việc chồng
chéo, dẫm chân lên nhau. Xây dựng, hoàn thiện, bổ sung các quy
định về TDCC, tạo hành lang pháp lý để các cơ quan tổ chức thực
hiện. Chính phủ cần hoàn thiện hơn về chính sách, sớm ban hành các
Nghị định bổ sung, hỗ trợ cho việc TDCC.
3.2.2. Hoàn thiện các giải pháp trong việc thực hiện chính
sách
Về nâng cao chất lượng tuyển dụng
Thứ nhất, cần thay đổi hình thức, nội dung và quy trình tuyển
dụng. Cần có quy định cụ thể hơn về các đối tượng thi tuyển và xét
tuyển theo yêu cầu, nhiệm vụ của từng cơ quan, từng vị trí công việc.
Đối với các vị trí công việc, cần áp dụng tuyển dụng phù hợp, không
nên vị trí nào (đơn giản hay phức tạp) đều áp dụng hình thức thi
công chức ; hoàn thiện hệ thống bảng lương, xác định các mức lương
cho từng vị trí công việc và các quan hệ liên quan đến tiền lương.
Quỹ tiền lương công chức hành chính phải đảm bảo mức độ hợp lý
trong chi thường xuyên và trong tổng chi ngân sách nhà nước. Cải
21
cách chính sách tiền lương công chức hành chính phải được đặt trong
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.
Về giải pháp thực hiện việc thu hút nhân tài
Cần xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài nói chung
và của các cơ quan hành chính ở Trung ương nói riêng. Chính sách
thu hút nhân tài cần gắn với việc tuyển dụng, tạo nguồn, quy hoạch,
đề bạt, bổ nhiệm để khuyến khích, tạo động lực cho những công chức
thật sự có tài tích cực đóng góp sức mình vào hiệu quả hoạt động
công vụ.
3.2.3. Nâng cao năng lực chủ thể thực hiện chính sách
Một là, đề xuất, ban hành việc nâng cao năng lực chủ thể xây
dựng và thực hiện chính sách TDCC là nâng cao năng lực xây dựng
các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện chính sách của các cơ
quan như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành khác có
liên quan.
Hai là, muốn quy trình hoạch định chính sách, phân tích
chính sách có hiệu quả thì phải tăng cường sự tham gia của người
dân, các chuyên gia, cách nhà khoa học vào quá trình hoạch định
chính sách.
Ba là, hình thành nhóm nghiên cứu và thiết kế chính sách
công vụ nói chúng trong đó có TDCC.
Bốn là, thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan xây dựng
chính sách.
quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của Bộ máy nhà nước.Để có được
đội ngũ công chức có phẩm chất và năng lực tốt thì tuyển dụng là
khâu quan trọng nhằm thu hút, phát hiện người có tài, có đức, đủ điều
kiện để đáp ứng yêu cầu của công việc.
Qua nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chính sách
TDCC tại các cơ quan HCNN ở Trung ương hiện nay, luận văn đã
23