Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG SƠN

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Hiển

Phản biện 1:

PGS. TS. Trần Đình Nhã

Phản biện 2:


tra các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải
Phòng” làm luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tại Học viện Khoa học xã hội cũng có một vài luận văn cao học
nghiên cứu công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy như

1


Luận văn cao học “Phòng, chống tội phạm ma túy trên địa bàn thị xã
Lai Châu, tình Lai Châu” của Thạc sĩ Vũ Hoài Thanh năm 2013;
Luận văn cao học “Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên
địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” của Thạc sĩ Nguyễn
Minh Tuân năm 2013; Luận văn cao học “Đấu tranh phòng, chống
tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh
Hương năm 2013. Tuy nhiên đều dừng lại ở mức độ khái quát chung
và chỉ tập trung nghiên cứu sâu vào công tác phòng, chống đối với tội
phạm ma túy mà chưa có sự đánh giá nghiên cứu về hoạt động KSĐT
đối với loại tội phạm này. Mặt khác các đề tài nghiên cứu tình hình
tội phạm ma túy tại các địa phương khác chứ không phải tại quận Lê
Chân, thành phố Hải Phòng với những đặc thù riêng biệt. Đề tài:
“Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân,
thành phố Hải Phòng” là một nghiên cứu chuyên sâu ở bậc cao học
về một công tác kiểm sát cụ thể trong điều kiện địa lý, điều kiện kinh
tế xã hội của quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vẫn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát
điều tra các vụ án về ma túy, thực tiễn kiểm sát điều tra các tội phạm

vụ án về ma túy theo quy định tại BLHS, xảy ra trên địa bàn quận Lê
Chân, thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở lý
luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
3


các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng chống
tội phạm nói chung và kiểm sát hoạt động điều tra tội phạm nói riêng.
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp thống kê, tổng
hợp, phân tích, so sánh hệ thống hóa; trực tiếp khảo sát trao đổi nghiệp
vụ với đội ngũ KSV tại đơn vị VKSND quận Lê Chân và một số đơn vị
VKSND quận, huyện khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở khảo sát thực tế đề tài đã đánh giá, phân tích thực trạng
kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn quận Lê
Chân trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, những ưu, khuyết
điểm và nguyên nhân của tình hình, kiến nghị, đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hoạt động kiểm sát trong giai đoạn điều tra nói
chung và điều tra các vụ án về ma túy nói riêng. Với hy vọng rằng
đây sẽ là tài liệu tương đối đầy đủ và hữu ích cho sinh viên tham
khảo và phục vụ cho cán bộ, KSV ngành Kiểm sát nghiên cứu, học
tập, vận dụng trong hoạt động thực tiễn của mình.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra
các vụ án về ma túy.

hoặc tổng hợp đã được xác định và có tên gọi khoa học riêng được
quy định trong các văn bản pháp luật, khi được đưa vào cơ thể con
người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của
người đó. Nếu con người lạm dụng ma túy sẽ lệ thuộc vào nó cả về
thể chất và tinh thần”.
5


Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý chất ma túy là loại
chất gây nghiện nguy hiểm với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi
hành vi vi phạm, ở bất kì khâu nào của quá trình quản lý chất ma túy
đều bị quy định là tội phạm.
BLHS năm 1999 quy các tội phạm về ma túy tại Chương XVIII
bao gồm 10 điều luật quy định về 10 tội danh khác nhau. Sau khi
được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bãi bỏ Điều 199 về “Tội sử dụng
trái phép chất ma túy”, còn lại 9 điều luật quy định 9 tội danh khác
nhau được quy định tại Chương XVIII.
Về khái niệm tội phạm theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999
khẳng định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nên văn hóa,
quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp
vủa tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tự
do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm
những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS và khái
niệm về ma túy như đã phân tích ở trên, có thể định nghĩa các tội
phạm về ma túy như sau: “Các tội phạm về ma túy là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại chương “các tội phạm về ma

được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và
không làm oan người không có tội.
Như vậy, kiểm sát hoạt động điều tra các vụ về ma túy là: “Hoạt
động do VKSND thực hiện nhằm kiểm sát hoạt động điều tra của
CQĐT xuyên suốt quá trình điều tra các vụ án về ma túy để bảo đảm
cho các hoạt động điều tra được tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục,
thẩm quyền, thời hạn theo quy định của phát luật TTHS”.
7


1.1.3. Đặc điểm hoạt động KSĐT của VKS đối với các vụ án về
ma túy
- KSĐT các vụ án về ma túy luôn gắn liền với quan điểm, đường
lối chỉ đạo của Đảng về phòng, chống tội phạm về ma túy.
- Chủ thể của công tác KSĐT các vụ án về ma túy phải tuân thủ
nghiêm ngặt quy định của pháp luật, phải đảm bảo bí mật.
- Chủ thể thực hiện công tác KSĐT các vụ án về ma túy phải hiểu
biết rõ những quy định của pháp luật về tội phạm ma túy.
- KSĐT các vụ án về ma túy phải chuẩn bị phương án xử lý khi gặp
điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ.
- Chủ thể khi thực hiện hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy
ngoài việc cần nắm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến
loại tội phạm này còn phải thường xuyên chủ động nghiên cứu, tìm
hiểu về những chất ma túy mới.
- KSĐT các vụ án về ma túy đòi hỏi cán bộ, KSV phải nhanh
chóng, khẩn trương thu thập chứng cứ, lấy lời khai đối tượng phạm
tội, người liên quan,…
- Khi thực hiện KSĐT các vụ án về ma túy cán bộ, KSV phải
kiểm sát chặt chẽ hoạt động giám định các chất ma túy.
1.1.4. Đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát

biên tài sản
Thứ sáu, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong trưng cầu giám
định
Thứ bảy, kiểm sát việc dùng tiếng nói và chữ viết trong TTHS
1.1.6. Nội dung kiểm sát điều tra theo quy định của BLTTHS
2015
Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 sẽ có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/2018. Nội dung của hoạt động KSĐT theo quy định tại

9


Điều 166 BLTTHS năm 2015 đã tăng 4 khoản và bổ sung thêm nhiều
nội dung mới so với BLTTHS năm 2003, cụ thể:
– Đối tượng của công tác KSĐT không chỉ là CQĐT như
BLTTHS năm 2003 mà cả cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra.
– Khi KSĐT, VKS có quyền yêu cầu CQĐT và cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên
quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra
khi cần thiết (điểm mới).
– Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm thì VKS có
quyền yêu cầu CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra thực hiện một số hoạt động: Tiến hành điều
tra đúng pháp luật; kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho
VKS; cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có
vi phạm pháp luật trong việc điều tra. Đây là các quy định hoàn toàn
mới, rõ và cụ thể hơn so với BLTTHS năm 2003.
1.2. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan
điều tra trong hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm về ma

Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Khái quát tình hình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về
ma túy trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong 5
năm từ năm 2012 đến năm 2016
2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.1.1.1. Đặc điểm về địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội
Quận Lê Chân là một quận nội thành được thành lập năm 1961,
nằm ở vị trí phía Tây Nam của thành phố Hải phòng với diện tích
12,4km2 gồm 15 phường với nhiều hộ dân sinh sống theo hình thức
tạm trú và lấn chiếm xây dựng nhà, lều quán trái phép, đa số có trình
độ dân trí thấp.
2.1.1.2. Tình hình và đặc điểm hình sự các tội phạm về ma túy
- Tình hình tội phạm về ma túy:
Trong 5 năm từ năm 2012 – 2016 lực lượng Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy Công an quận Lê Chân đã tiếp nhận, thụ lý và giải
quyết 665 tin báo, tố giác về tội phạm ma túy. Kết quả xác minh xử
lý 650 tin báo, tố giác (chiếm 97,71%): trong đó đã ra quyết định
khởi tố 589 vụ; chuyển địa phương khác 11 vụ; xử lý hành chính 50
trường hợp; 15 tin báo, tố giác quá hạn giải quyết (chiếm 2,29%).
Ttrong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016, các cơ quan chức năng
đã phát hiện và tiến hành khởi tố 589 vụ/ 666 bị can, trung bình 118
vụ/ 133 bị can một năm. Số vụ án CQĐT khởi tố và phải xử lý trong
năm 2013 giảm 3 vụ/ 4 bị can (tỷ lệ giảm 3,12% số vụ); năm 2014
tăng 21 vụ/ 24 bị can (tỷ lệ tăng 21,88%); năm 2015 tăng 23 vụ/ 30 bị
12




Thành phố Hải Phòng có 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành
và 2 huyện đảo, tổng số vụ án ma túy xảy ra trên địa bàn quận Lê
Chân trong 5 năm (2012 – 2016) chiếm 27,68%, tổng số bị can phạm
tội về ma túy chiếm 25,43% so với toàn thành phố.

Tỷ lệ án ma túy

hàng năm trên địa bàn quận Lê Chân trung bình chiếm hơn 50% số
vụ và hơn 47% số bị can. Trung bình mỗi năm VKS truy tố 110 vụ/
124 bị can, Tòa án trung bình mỗi năm xét xử 106 vụ/ 119 bị can, đạt
tỷ lệ giải quyết là 96,36%, không vụ án nào quá hạn luật định.
2.1.3. Khái quát về cơ cấu tổ chức, bộ máy VKSND quận Lê
Chân
Tính đến thời điểm 31/12/2016 biên chế của VKSND quận Lê
Chân là 25 người. Trong đó có 22 người làm nghiệp vụ Kiểm sát.
Với số lượng vụ án hình sự nói chung và các vụ án về ma túy nói
riêng được khỏi tố như hiện nay thì cơ cấu tổ chức và biên chế như
hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng trên địa
bàn quận Lê Chân.
2.2. Kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân,
thành phố Hải Phòng
2.2.1. Kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự, khởi tố bị can
Trong 5 năm (2012 – 2016), VKSND quận Lê Chân đã kiểm sát
tất cả 589 vụ án về ma túy do cơ quan có thẩm quyền khởi tố chuyển
VKS để kiểm sát (đạt tỷ lệ 100%).
2.2.2. Kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng,

VKSND quận Lê Chân đã tiến hành kiểm sát hoạt động điều tra
100% các vụ án về ma túy

15


Trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016, không có trường hợp
nào VKSND truy tố nhưng TAND xét xử không có tội.
2.4. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân
dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
2.4.1. Những Hạn chế, bất cập
2.4.1.1. Những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật
- Về hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm:
Điều 103 BLTTHS năm 2003 quy định VKS kiểm sát tin báo, tố
giác tội phạm, nhưng chưa có thông tư hướng dẫn làm như thế nào,
các ngành cung cấp tin báo cho VKS ra sao, nên vẫn còn khó khăn,
lúng túng trong hoạt động kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm.
- Về hoạt động kiểm sát việc trưng cầu giám định:
Hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể trường
hợp nào cần giám định “hàm lượng” để tính “trọng lượng” chất ma
túy làm căn cứ điều tra, truy tố, xét xử nên vẫn còn khó khăn trong
hoạt động giải quyết vụ án.
2.4.1.2. Những hạn chế, bất cập từ thực tiễn kiểm sát điều tra
- Vẫn còn tồn tại vi phạm về thời hạn giải quyết, cụ thể vẫn còn
15 tin báo, tố giác quá hạn giải quyết (chiếm 2,29%).
- Công tác giám định còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa có sự thống
nhất giữa VKS và CQĐT.
- Việc ban hành những kiến nghị, kháng nghị và yêu cầu của VKS
đối với CQĐT để khắc phục những thiếu sót, vi phạm pháp luật trong

những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ KSĐT các vụ án về ma túy,
ý thực trách nhiệm chưa cao dẫn đến khi thực hiện KSĐT loại tội
phạm này còn để xảy ra sai sót, gây hậu quả đến chất lượng công
việc.

17


Chương 3
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN VỀ MA TÚY TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1. Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động kiểm sát điều
tra các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố
Hải Phòng
3.1.1. Cơ sở dự báo
Mặt trái của sự phát triền kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế là sự
gia tăng, phát sinh tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói
riêng. Toàn cầu hóa là con dao hai lưỡi, bên cạnh những tác động tích
cực thì nó cũng ảnh hưởng tiêu cực khiến giới trẻ trở nên thích hưởng
thủ những cái mới, dễ bị lôi kéo, sa ngã vào ma túy.
3.1.2. Nội dung dự báo
Dự báo tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Lê Chân
trong những năm tới vẫn có chiều hướng phức tạp với những thủ
đoạn phạm tội tinh vi. Bên cạnh đó, số người nghiện không giảm
cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma túy mới nên hậu quả do tội
phạm về ma túy gây ra cho xã hội sẽ vẫn đặc biệt nghiêm trọng.
3.1.3. Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động kiểm sát
điều tra các vụ án về ma túy
Thứ nhất, đó là tình hình tội phạm về ma túy. Hiện nay tình

năng lực còn hạn chế và chưa đồng đều dẫn đến việc khi thực hiện
hoạt động KSĐT loại tội phạm này còn lúng túng, gây ảnh hưởng đến
hiệu quả công tác.
19


3.2. Một số giải pháp góp phần tăng cường kiểm sát điều tra
các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải
phòng
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
3.2.1.1. Pháp luật hình sự
- Việc quy định chung các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy vào Điều 194
BLHS 1999 như hiện nay là chưa hợp lý. Vấn đề này đã được BLHS
2015 khắc phục bằng việc quy định mỗi hành vi ứng với một điều
luật cụ thể và với khung hình phạt khác nhau phản ánh đúng mức độ
nguy hiểm.
- BLHS 2015 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội tàng trữ trái phép
chất ma túy. Việc quy định như vậy xuất phát từ yêu cầu cải cách tư
pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phù hợp với xu hướng chung trên thế giới nhưng có thể dẫn
đến tiêu cực trong việc định tội danh.
- Các đối tượng phạm tội về ma túy thời gian gần đây rất manh
động, sẵn sàng chống trả lại lực lượng chức năng bằng những thủ
đoạn tàn ác như dùng hung khí nguy hiểm hay kim tiêm nhiễm HIV...
Vì vậy cần quy định rõ ràng trong các điều luật về trường hợp người
phạm tội dùng thủ đoạn nguy hiểm chống trả lại khi bị phát hiện so
với trường hợp không có hành vi chống trả.
- Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46

tụng thuận lợi hơn.
+ Cần quy định cụ thể những trường hợp cần phải giám định
“hàm lượng” để tính “khối lượng hoặc thể tích” chất ma túy vào
trong BLHS.
3.2.1.2. Pháp luật tố tụng hình sự
21


Cần sửa đổi, bổ sung Điều 113 BLTTHS 2003 theo hướng mở
rộng quyền năng cho VKS chỉ đạo quá trình điều tra. Điều 166
BLTTHS 2015 đã phần nào khắc phục vấn đề này, cụ thể:
+ Đối tượng của công tác KSĐT không chỉ là CQĐT như
BLTTHS năm 2003 mà cả cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra.
+ Khi KSĐT, VKS có quyền yêu cầu CQĐT và cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu
liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều
tra khi cần thiết.
+ Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm thì VKS có
quyền yêu cầu CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra thực hiện một số hoạt động: Tiến hành điều
tra đúng pháp luật; kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho
VKS; cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có
vi phạm pháp luật trong việc điều tra.
- Cần sửa đổi khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003 theo hướng cho
phép người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn cho phù hợp với
khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định người bị bắt, tạm giữ có
quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Vấn đề
ngày cũng đã được BLTTHS 2015 khắc phục.
- Điều 66 BLTTHS 2015 quy định cụ thể về cơ chế nhằm đảm

với CQĐT, xây dựng mối quan hệ thực chất, hiệu quả.
3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm
việc cho ngành Kiểm sát nhân dân
Cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, KSV, ngành
Kiểm sát nhân dân cũng chú trọng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status