Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG SƠN

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG SƠN

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

2.3. Đánh giá kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma
túy của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng .................... 49
2.4. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 50
Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ thực
tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ........................................................... 59
3.1. Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng .................................................... 59
3.2. Một số giải pháp góp phần tăng cường kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ
thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ........................................................ 62
Kết luận ................................................................................................................... 74
Tài liệu tham khảo ................................................................................................. 75


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. BLHS ........................... Bộ luật hình sự
2. BLTTHS ...................... Bộ luật tố tụng hình sự
3. CQĐT .......................... Cơ quan điều tra
4. KSĐT .......................... Kiểm sát điều tra
5. THQCT ........................ Thực hành quyền công tố
6. VKSND ....................... Viện kiểm sát nhân dân
7. VKS............................ Viện kiểm sát
8. ĐTV........................... .Điều tra viên
9. KSV............................ Kiểm sát viên
10. TNHS ...................... Trách nhiệm hình sự


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm về

diễn biến phức tạp với tính chất và mức độ ngày càng nguy hiểm, chủ yếu vẫn là
các tội mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy như heroine, ma túy
tổng hợp ATS, ketamine, methamphetamine; bên cạnh đó cũng xuất hiện một số
loại ma túy mới như “cỏ Mỹ”, “trà sữa”, “kẹo”, “nước vui”… đây thực chất là các
loại ma túy tổng hợp có nguồn gốc từ Trung Quốc gây tác hại và ảnh hưởng rất lớn
đối với người dùng, gây ra hậu quả ngày càng nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiều
thách thức đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Lợi nhuận do ma túy đem lại là rất
cao, nên tội phạm ma túy diễn biến trên địa bàn rộng lớn, có nhiều trường hợp là
xuyên quốc gia. “Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy rất tinh vi,
đường dây mua bán thường không bộc lộ danh tính mà hoạt động chủ yếu thông
qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như điện thoại di động, bộ đàm,
internet… để chỉ đạo từ xa, tìm nguồn hàng và thuê các đối tượng khác vận chuyển
bằng các phương tiện như taxi, thuê xe tự lái, xe khách…” [35, tr. 15]. Vì vậy, nhu
cầu nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động KSĐT các tội phạm về ma túy là rất
cần thiết.
Trong bối cảnh tình hình tội phạm ma túy diễn biến ngày càng phức tạp,
Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) quận Lê Chân
đã phối hợp đồng bộ với các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác phòng, chống ma
túy và phát động toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma

1


túy. Chính vì vậy có thể nói, hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và tội
phạm ma túy nói riêng trên địa bàn quận đã đạt được những thành tích đáng khích
lệ. Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng phức tạp và khó kiểm soát của tình hình tội
phạm và trước nhu cầu đổi mới hoạt động tư pháp hình sự, công tác thực hành
quyền công tố (THQCT) và KSĐT các vụ án hình sự nói chung và điều tra các vụ
án về ma túy nói riêng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Thực tiễn cho
thấy trong một số hoạt động đấu tranh phòng ngừa đôi lúc còn mang tính bột phát,

hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự của TS. Phạm
Mạnh Hùng, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần làm tốt việc tăng cường trách
nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điểu tra của TS.
Trần Công Phàn,…
Tại Học viện Khoa học xã hội cũng có một vài Luận văn cao học nghiên cứu
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy như Luận văn cao học “Phòng,
chống tội phạm ma túy trên địa bàn thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu” của Thạc sĩ Vũ
Hoài Thanh năm 2013; Luận văn cao học “Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma
túy trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” của Thạc sĩ Nguyễn Minh
Tuân năm 2013; Luận văn cao học “Đấu tranh phòng, chống tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương năm 2013. Tuy nhiên đều dừng lại
ở mức độ khái quát chung và chỉ tập trung nghiên cứu sâu vào công tác phòng,
chống đối với tội phạm ma túy mà chưa có sự đánh giá nghiên cứu về hoạt động
KSĐT đối với loại tội phạm này. Mặt khác các đề tài nghiên cứu tình hình tội phạm
ma túy tại các địa phương khác chứ không phải tại quận Lê Chân, thành phố Hải
Phòng với những đặc thù riêng biệt. Đề tài: “Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” là một nghiên cứu chuyên sâu
ở bậc cao học về một công tác kiểm sát cụ thể trong điều kiện địa lý, điều kiện kinh
tế xã hội của quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vẫn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra các
vụ án về ma túy, thực tiễn kiểm sát điều tra các tội phạm đó trên địa bàn quận Lê

3


Chân, thành phố Hải Phòng, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm
sát điều tra các vụ án về ma túy.

Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và kiểm sát
hoạt động điều tra tội phạm nói riêng.
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh hệ
thống hóa; trực tiếp khảo sát trao đổi nghiệp vụ với đội ngũ KSV tại đơn vị VKSND
quận Lê Chân và một số đơn vị VKSND quận, huyện khác trên địa bàn thành phố
Hải Phòng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở khảo sát thực tế đề tài đã đánh giá, phân tích thực trạng kiểm sát
hoạt động điều tra các vụ án về ma túy trên địa bàn quận Lê Chân trong thời gian từ
năm 2012 đến năm 2016, những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân của tình hình,
kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động kiểm sát trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và điều tra các vụ án về ma túy nói riêng.
Với hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu tương đối đầy đủ và hữu ích cho sinh viên tham
khảo khi nghiên cứu tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát và phục
vụ cho cán bộ, KSV ngành Kiểm sát nghiên cứu, học tập, vận dụng trong hoạt động
thực tiễn của mình.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án về
ma túy.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy trên địa
bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy từ thực
tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

5




Theo BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 thì ma túy bao
gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, côcain, các chất ma túy khác ở thể
lỏng, thể rắn [28, tr. 179, 180].
“Ở nước ta, việc xác định chất ma túy, các chất hướng thần và các tiền chất ma
túy và hướng thần được dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quy định về các chất ma
túy và các chất hướng thần của 3 Công ước của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma
túy” [38, tr. 191, 192], cụ thể đó là Công ước thống nhất về các chất ma túy năm
1961, Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước về chống buôn bán
bất hợp pháp các chất gây nghiện và các chất hướng thần năm 1988. Việt Nam
chính thức tham gia cả 3 Công ước quốc tế về kiểm soát ma túy và ban hành Luật
phòng, chống ma túy năm 2000. Đây là một bước tiến bộ rõ nét trong pháp luật Việt
Nam về phòng, chống ma túy nói chung và khái niệm “chất ma túy” nói riêng. Lần
đầu tiên khái niệm “chất ma túy” và các khái niệm liên quan như “tiền chất”, “chất
gây nghiện”, “chất hướng thần”, “thuốc gây nghiện” và “thuốc hướng thần” được
chính thức định nghĩa.
Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống ma túy quy định:
“1. Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành.
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng
nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
4. Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản
xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
5. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy
định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này.
6. Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô ca,
cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định.” [32]

cụ thể:
- Điều 192: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy.
- Điều 193: Tội sản xuất trái phép chất ma túy.

8


- Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hoặc chiếm đoạt trái phép chất
ma túy,
- Điều 195: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng
vào việc sản xuất trái phép chất ma túy
- Điều 196: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng
cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điều 197: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điều 198: Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điều 199: Đã bị bãi bỏ.
- Điều 200: Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điều 201: Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc
các chất ma túy khác.
Về khái niệm tội phạm theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999 khẳng định:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp vủa tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những
lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [28].
Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS và khái niệm về ma
túy như đã phân tích ở trên, có thể định nghĩa các tội phạm về ma túy như sau:
“Các tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại

gắn liền với các lĩnh vực khác nhau trong đó bao gồm kiểm sát các hoạt động của
các cơ quan tiến hành TTHS. Một trong những khâu công tác đó là kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của CQĐT và các cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra – Kiểm sát điều tra.
Kiểm sát điều tra bắt đầu từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến khi VKS “Quyết
định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án” [30]. Mục
đích của kiểm sát hoạt động điều tra là bảo đảm cho các hoạt động điều tra phải

10


chấp hành đúng các trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn đã được pháp luật quy
định. Do vậy, khái niệm kiểm sát các hoạt động điều tra được hiểu là: Hoạt động
của VKSND trong việc bảo đảm cho các hoạt động điều tra của CQĐT được thực
hiện theo quy định pháp luật.
Hiến pháp năm 1959 quy định VKSND chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật, đến Hiến pháp năm 1992 quy định VKSND ngoài chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật còn có chức năng THQCT và đến Hiến pháp năm 2013
chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp được quy định gắn kết chặt chẽ
với nhau. Hoạt động KSĐT và hoạt động THQCT của VKSND có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, không thể tách rời nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau. Mối quan hệ
này song song tồn tại từ khi phát hiện có sự kiện phạm tội xảy ra cho đến khi kết
thúc việc điều tra, CQĐT đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra,
VKSND ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc ra quyết định truy tố bị can ra trước
TAND. Tức là khi làm tốt công tác kiểm sát hoạt động điều tra thì cơ sở để THQCT
sẽ vững chắc và bảo đảm đúng đắn, có căn cứ pháp luật. Nếu không làm tốt công
tác này, thì việc THQCT sẽ khó khăn, thiếu tính thuyết phục, thậm chí còn dẫn đến
thiếu sót, sai lầm. Ngược lại nếu làm tốt công tác THQCT thì đó là cơ sở, căn cứ
vững chắc để kiểm sát chặt chẽ được quá trình tiến hành hoạt động điều tra của
CQĐT, Điều tra viên (ĐTV). Như vậy, xét về mặt bản chất, để VKSND thực hiện

1.1.3. Đặc điểm hoạt động KSĐT của VKS đối với các vụ án về ma túy
Chức năng, nhiệm vụ của VKSND theo quy định của pháp luật về hoạt động
THQCT và KSĐT các vụ án hình sự nói chung như:
- KSĐT là hoạt động kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT từ thời điểm
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố điều tra và kết thúc khi vụ án được
kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố. Hoạt động này của VKSND được
tiến hành công khai theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS và các văn bản hướng
dẫn thực hiện BLTTHS.
- Chủ thể thực hiện kiểm sát hoạt động điều tra chỉ có thể là KSV và Viện
trưởng, Phó Viện trưởng VKSND có thẩm quyền và có sự phối hợp các chủ thể
khác có liên quan theo quy định của BLTTHS, Luật tổ chức VKSND.

12


- Quá trình kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về ma túy, KSV chỉ được áp
dụng các biện pháp và phương tiện theo quy định của pháp luật và theo chức năng,
quyền hạn của ngành Kiểm sát nhân dân và của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án.
Các vụ án về ma túy nói riêng, theo quan điểm của tác giả, kiểm sát hoạt động
điểu tra của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án về ma túy có một số đặc
điểm nổi bật như sau:
- KSĐT các vụ án về ma túy luôn gắn liền với quan điểm, đường lối chỉ đạo
của Đảng về phòng, chống tội phạm về ma túy: Quan điểm đấu tranh kiên quyết,
không khoan nhượng đối với tội phạm về ma túy của Đảng thể hiện bằng chỉ đạo cụ
thể xuyên suốt và thống nhất qua các thời kỳ, giai đoạn phát triển của đất nước. Cụ
thể bằng các chỉ thị như Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 30/11/1996 về tăng cường chỉ
đạo công tác kiểm soát và phòng, chống ma túy đã nêu rõ: “Các cấp Ủy đảng phải
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy,
phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng
sử dụng ma túy trong nhân dân” [5]; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 về tiếp

biệt là trong giai đoạn điều tra và các kiến thức liên quan mà tội phạm xâm hại:
Thực tiễn thời gian qua cho thấy tội phạm về ma túy có thể xảy ra ở khắp mọi nơi,
có thể là xuyên quốc gia, do nhiều loại đối tượng gây ra. Bên cạnh đó cũng có nhiều
vụ án mà người phạm tội mang quốc tịch khác nhau, tính chất và mực độ hành vi
phạm tội khác nhau. Chính vì vậy nên đỏi hỏi chủ thể thực hiện công tác KSĐT
phải là KSV có kiến thức, am hiểu về pháp luật Việt Nam và tư pháp quốc tế để
đảm bảo cho quá trình điều tra tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Xuyên suốt quá trình điều tra, KSV phải kịp thời phát hiện những sai sót, vi phạm
của CQĐT để kiên quyết yêu cầu khắc phục kịp thời.
- KSĐT các vụ án về ma túy phải chuẩn bị phương án xử lý khi gặp điều kiện,
hoàn cảnh không thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ, giám sát hoạt động điều tra
của CQĐT: Lợi nhuận do ma túy đem lại là rất lớn nên đối tượng phạm tội không từ
bỏ bất cứ thủ đoạn nào, liểu lĩnh thực hiện tội phạm đến cùng nên KSV luôn phải
trang bị cho mình những phương án xử lý khi gặp điều kiện không thuận lợi, hoàn
cảnh cản trở trong việc thu thập chứng cứ cũng như việc các bị can đồng phạm đồng
loạt phản cung, ngoan cố hay xuất hiện tình tiết mới bất lợi, nghiêm trọng hơn là
còn có sự tác động tiêu cực của chính những người có chức vụ, quyền hạn. Những

14


vụ án có liên quan đến cán bộ Đảng viên thuộc các cơ quan Nhà nước, các cơ quan
tiến hành tố tụng đòi hỏi KSV phải thật bản lĩnh, kiên định, quyết đoán để sẵn sàng
đối mặt với những khó khăn khôn lường, những sức ép vô hình nhằm cản trở việc
phá án.
- Chủ thể khi thực hiện hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy ngoài việc cần
nắm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến loại tội phạm này còn phải
thường xuyên chủ động nghiên cứu, tìm hiểu về những chất ma túy mới: Số lượng
chất ma túy và tiền chất ngày càng trở nên gia tăng nhanh chóng, Nghị định số
126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và

án về ma túy
1.1.4.1. Đối tượng của hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy
Điều 23 BLTTHS năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm
pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này” [30, tr. 12]. Với ý nghĩa là việc sử
dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhằm mục đích truy cứu TNHS người phạm
tội, truy tố họ ra trước TAND để xét xử, đối tượng của hoạt động THQCT là tội
phạm và người phạm tội. Đối tượng của công tác KSĐT là việc tuân theo pháp luật
của CQĐT, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra, những người có thẩm
quyền trong điều tra và những người tham gia tố tụng khác.
1.1.4.2. Phạm vi của hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy
Hoạt động của VKSND trong quá trình điều tra vụ án được gọi là một phần
hay còn gọi là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động TTHS. Bản chất của hoạt động KSĐT chính là hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật đối với CQĐT và đối với các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đối với người tiến hành tố tụng trong
quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Phạm vi của hoạt động KSĐT là thời điểm bắt đầu
và kết thúc giai đoạn điều tra vụ án, là giới hạn không gian và thời gian của hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật do VKSND có thẩm quyền tiến hành. Theo
Điều 2 Quy chế Thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra vụ án hình sự ban
hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện

16


trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gọi tắt là quy chế THQCT & KSĐT) xác
định: “Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra

1.1.5. Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
1.1.5.1. Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là hoạt động mở đầu
của quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm phát hiện hành vi phạm tội. Trên cơ
sở tiếp nhận tin báo, tố giác, cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm
hay không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Trách
nhiệm của VKSND trong công tác này là kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của
CQĐT đúng pháp luật, đầy đủ; bảo đảm mọi tội phạm đều được phát hiện, khởi tố,
điều tra và xử lý.
Thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(VKSNDTC) đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, coi đây là một trọng tâm của công tác THQCT,
KSĐT vụ án hình sự. Chỉ thị 06/CT-VKSNDTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng
VKSNDTC về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công
tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm chỉ
rõ: “Viện kiểm sát các cấp phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết đối với
toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra và các
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm chống bỏ lọt
tội phạm, chống làm oan người không phạm tội ngay từ đầu” [42]. Chỉ thị số
01/CT-VKSTC ngày 02/01/2014 của Viện trưởng VKSNDTC nêu rõ nhiệm vụ :
“Các Viện kiểm sát địa phương, đơn vị kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” [43] xác định đây là khâu công tác quan trọng
cần được tập trung thực hiện, thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo, đánh giá thực tiễn
công tác để tổng hợp kinh nghiệm, nâng cao chất lượng công tác.
Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003 thì “Viện kiểm sát có trách
nhiệm tiếp nhận đẩy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ
chức… chuyển đến” [30] và phải phân loại và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm


đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt
tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Đồng thời còn là biểu

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status