Phần I: Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng lần thứ III đến nay, Đảng ta luôn luôn xác định CNH là
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó, những năm qua,
nhất là những năm đổi mới, chúng ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng, tạo
ra thế và lực mới cho phép chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn, đẩy tới
một bớc CNH, HĐH nớc nhà. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện CNH những
năm trớc đây, do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ quan nóng
vội, chúng ta đã mắc phải một số sai lầm khuyết điểm.
Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ tụt
hậu về kinh tế, sớm đa đất nớc ra khỏi tình trạng một nớc nghèo để phát triển
nhanh trên con đòng đã lựa chọn. Chúng ta không còn cách nào khác là đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nớc.
Một thời kỳ phát triển mới đang mở ra trên đất nớc ta, mục tiêu từ nay đến
năm 2000, phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp, Đại hội
VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định.
"Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân ở mức cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nớc
mạnh xã hội công bằng văn minh".
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc là cả một sự nghiệp to lớn
và lâu dài. Trong khuôn khổ của một đề án, em không thể bao quát đánh giá hết
quá trình CNH, HĐH ở nớc ta và với vốn kiến thức còn hạn chế, bài viết của em
khó tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót. Em rất mong đợc sự hớng dẫn giúp
đỡ của thầy giáo để bài viết của em đợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo.
1
Phần II: Những vấn đề CNH- HĐH ở nớc ta
A- Lý luận chung:
I/ Sự cần thiết của CNH - HĐH ở Việt Nam:
Muốn cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nớc từng b-
Trong điều kiện ngày nay, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hóa
(CNH-HĐH) dù trên góc độ nào cũng không đồng nhất quá trình phát triển công
nghiệp. Tuy quá trình CNH-HĐH này có những nét riêng đối với từng nớc, nhng
đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều
kiện cụ thể của từng nớc mà thôi. Công nghiệp hóa là quá trình rộng lớn và phức
tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây: a) Công nghiệp
hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành
kinh tế quốc dân, trớc hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Thực hiện CNH-
HĐH trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay, quá trình trang
bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại
hóa ở cả phần cững và phần mềm của công nghệ. Quá trình này cũng đồng thời
là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh
tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại. Quá trình
ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trởng kinh tế - xã hội nhanh và ổn định,
cải thiện đời sống xã hội và tinh thần của các tầng lớp dân c, thu hẹp dần chênh
lệch trình độ kinh tế - xã hội của đất nớc với các nớc phát triển.
a) CNH-HĐH xét trên góc độ kinh tế -kỹ thuật: Là cái đích cần vơn tới
trong quá trình CNH-HĐH. Nhng sự vơn lên về trình độ công nghiệp này lại bị
ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội. Xét toàn cục, CNH-
HĐH chỉ là phơng tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình CNH-HĐH
mà thôi. Giải quyết quan hệ này có liên quan trực tiếp đến bớc đi của quá trình
hiện đại hóa theo những điều kiện cụ thể của đất nớc. ý tởng muốn đi vào công
nghệ hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động nhằm nhanh chóng xóa
bỏ tình trạng nghèo nàn lạc hậu là ý tởng phiêu lu độ quản lý có hạn và thiếu
thôn trầm trọng thêm những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nớc.
Trong điều kiện nhân lực dồi dào, trình độ quản lý có hạn và sự thiếu thốn
trầm trọng về vốn đầu t, cần phải dành u tiên hiện đại hóa các ngành, các lĩnh
vực "đầu tàu" mà sự phát triển các ngành khác góp phần cải thiện vị trí đất nớc
trong quan hệ kinh tế quốc tế. Việc kết hợp công nghệ với nhiều trình độ khác
nhau trở thành một tất yếu khách quan.
nghiệp, nhng không thể CNH-HĐH nếu không phát triển mạnh công nghiệp.
Bởi vậy, với vị trí khiêm tốn ban đầu, công nghiệp dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng
đầu trong cơ cấu kinh tế quốc dân của đất nớc.
- Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát
triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của dân. Không thể có quá trình
4
công nghiệp hóa nhanh bằng hệ thống dịch vụ, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ
tầng kinh tế tồi đợc. Ngay giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH cần chú ý
thỏa đáng cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng để phát triển sản xuất và thu
hút đầu t nớc ngoài.
Nh vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nớc trong quá trình CNH-
HĐH sẽ trải qua giai đoạn: từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ chuyển sang
cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ.
c) Quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều là quá
trình kinh tế - kỹ thuật vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Việc thực hiện có kết
quả quá trình CNH-HĐH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, thấp kém về
kinh tế, đa đất nớc thoát khỏi "vòng luẩn quẩn". Đồng thời, quá trình công
nghiệp hóa cũng gắn liền với quá trình thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội văn
minh công nghiệp. Quá trình kinh tế - xã hội có quan hệ ràng buộc nhau. Quá
trình kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội
dung của quá trình kinh tế - xã hội. Ngợc lại, quá trình kinh tế - xã hội góp phần
tạo nên động lực cho thực hiện quá trình kinh tế - kỹ thuật.
Đối với mỗi nớc, CNH-HĐH là quá trình lịch sử lâu dài. Theo nhà kinh tế
học W.Rostow, s phát triển của mỗi đất nớc trải qua 5 giai đoạn: Xã hội truyền
thống. Chuẩn bị tiền đề cho cất cánh; cất cánh; tiến tới sự trởng thành; Tiêu
dùng ở trình độ cao. Có thể thấy quá trình CNH-HĐH đợc khởi đầu bằng việc
"chuẩn bị tiền đề cho cất cánh", đợc thực hiện mạnh mẽ trong giai đoạn "cất
cánh" và kết thúc khi xã hội đã "tiến tới sự trởng thành". Khoảng thời gian của
mỗi giai đoạn và toàn bộ quá trình CNH-HĐH dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều
nhân tố chủ quan và khách quan, trong đó nhân tố xác định đúng mô hình chiến
sự sao chép máy móc kinh nghiệm các nớc khác nhau cha bao giờ đem lại tấm
gơng thành công nào cả. Vả lại, mọi sự giúp đỡ đề có giá theo tinh thần có đi có
lại.
Việc khai thác các nguồn lực t nhân, phát huy lợi thế tự nhiên để tham gia
vào quan hệ quốc tế kết hợp với việc bảo tồn và tái tạo các nguồn lực ấy. Mọi sự
lạm dụng "sức mạnh của con ngời trong chinh phục tự nhiên" theo kiểu bóc lột,
hủy hoại tài nguyên sẽ dẫn con ngời đến chỗ tàn phá ngay môi trờng tồn tại của
chính mình.
e) CNH-HĐH không phải là mục đích tự thân vận động mà là một phơng
thức có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nớc. Mỗi nớc đề có hệ
thống mục tiêu riêng của mình. Tuy vậy, về hình thức vấn có thể thấy đợc tơng
đồng về hệ thống mục tiêu của các nớc. Đó là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực đất nớc, bảo đảm nhịp
6
độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần cho các tầng lớp dân c...
Mục tiêu của mỗi nớc phụ thuộc vào quan điểm của hệ thống chính trị lãnh
đạo. Phơng hớng qui mô và nhịp điệu CNH-HĐH phụ thuộc vào đặc điểm chính
trị xã hội của từng nớc. Đó chính là một trong những biểu hiện của quan hệ biện
chứng giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thợng tầng. Và không thể thực hiện thành
công CNH-HĐH nếu không có hệ thống chính trị - xã hội ổn định và không đợc
đổi mới. Ngợc lại, cũng không thể giữ đợc ổn định về chính trị - xã hội, chủ
quyền của đất nớc không thực hiện có hiệu quả quá trình CNH-HĐH.
Chính vì vậy, chúng ta có thể khái quát rằng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
nền sản xuất lớn hiện đại có thể là nền đại công nghiệp cơ khí hóa cân đối và
hiện đại dựa trên trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển cao. Cơ sở
vật chất - kỹ thuật đó phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa
sản xuất và lao động cao. Để có đợc cốt lõi vật chất - kỹ thuật nh vậy, tất cả các
nớc phải tiến hành xây dựng nó. Nói cách khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của nền sản xuất lớn hiện đại và quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các
tiến hành với nhịp điệu khẩn trơng trong điều kiện hòa bình và thu đợc kết quả
đáng ghi nhận. Năm 1965 so với 1955 vốn đầu t xây dựng cơ bản trong công
nghiệp tăng 6 lần: Giá trị tổng sản lợng công nghiệp tăng 9,2 lần, trong khi đó
đầu t cơ bản cho nông nghiệp chỉ tăng 1,96 lần và giá trị tổng sản lợng nông
nghiệp tăng 1,6 lần.
Trong thời kỳ 1961-1965. Tố độ tăng bình quân giá trị tổng sản lợng công
nghiệp là 13,4%, của nông nghiệp 4,1%. Do vậy tỷ trọng của công nghiệp trong
thu nhập quốc dân tăng từ 16% (1957) lên 18,2% (1960) và 22,2% (1965); Còn
tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 44,3% (1957) xuóng 42,3% (1960) và 41,7%
(1965). Đến năm 1964 miền Bắc nớc ta về căn bản giải quyết đợc vấn đề lơng
(1)
và
(2)
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc Đảng lao động Việt Nam (9-1960)
8
thực và đáp ứng đợc 90% nhu cầu hàng tiêu dùng đồng thời bắt đầu tạo nguồn
tích lũy từ trong nớc.
Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không
quân ra miền Bắc. Trớc tình hình mới đó Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng
chuyển hớng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với thời chiến, đồng
thời vẫn đảm bảo phơng hớng lâu dài cho sự nghiệp công nghiệp hóa. Đảng ta
chủ trơng vừa chú trọng đúng mức xây dựng kinh tế trung ơng vừa lấy xây dựng
kinh tế địa phơng làm trọng tâm, vừa sản xuất vừa chiến đấu.
Ngay trong những năm có chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra, vốn
chi cho phát triển kinh tế vẫn tăng lên. So với thời kỳ 1955-1957 vốn chi cho
phát triển kinh tế trong thời kỳ 1965-1968 tăng 5,7 lần. Mặc dù năm 1972 là
năm đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt nhât, vốn chi cho phát triển kinh tế vẫn gấp
2,4 lần so với 1960 và gấp 1,8 lần so với 1964.
Vốn đầu t vào công nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu
t cho khu vực sản xuất vật chất nói riêng và cho nền kinh tế quốc dân nói chung:
hơn 84 lần: công nhân kỹ thuật năm 1975 tăng gấp 6 lần năm 1960. Tỷ lệ cán bộ
khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ trong tổng số công nhân viên chức đã tăng từ 2%
(1955) đến 3,5% (1960) và 19,5% (1975). Tỷ lệ công nhân kỹ thuật đã tăng từ
17% năm 1960 lên 53,4% (1975). Riêng trong công ngheiẹpnăm 1975 đã có
trên 8.000 cán bộ đại học. 20.000 cán bộ trung học chuyên nghiệp và khoảng
210.000 công nhân kỹ thuật.
Năm 1975 đất nớc thống nhất. Sự hợp nhất hai miền có cơ sở kinh tế rất
khác nhau về nguyên lý, mục tiêu cơ cấu kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện trong nớc
và quốc tế có nhiều thay đổi so với đầu nhng năm 60 cho phép và đòi hỏi phải
có chiến lợc công nghiệp hóa thích hợp hơn. Nhng trên thực tế đờng lối công
nghiệp hóa mà Đại hội Đảng lần thứ III đã đợc xác định vẫn giữ nguyên và thực
hiện trên phạm vi cả nớc. Đại hội Đảng lần thứ IV (12/1976) chỉ rõ: Điều đó có
ý nghĩa quyết định là phải thực hiện CNH XHCN, tạo ra một cơ cấu kinh tế
công nông nghiệp hiện đại. Con đờng cơ bản để tạo ra cơ cấu ấy là u tiên phát
triển công nghiệp năng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm, phát huy năng lực sẵn có và xây
dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp năng, đặc biệt là cơ khí".
Do có chủ trơng nôn nóng, chủ quan duy ý chí nh trên, cộng với sai lầm
trong tổ chức chỉ đạo, trong cơ chế và chính sách nên trong thời kỳ 1976-1980
nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng, cơ cấu kinh tế ngày càng
10
trở nên bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, nông nghiệp yếu kém không
đáp ứng yêu cầu trong nớc, công nghiệp nặng đầu t lớn nhng không phát huy đ-
ợc tác dụng. Thời kỳ 1976-1980, tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng bình quân 1,4%,
thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4% trong khi đó dân số tăng 2,24% một năm, sản
xuất công nghiệp bình quân hàng năm chỉ tăng 0,6%, trong đó công nghiệp
quốc doanh giảm 2,6%; sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 1,9% một năm.
Trớc tình hình đó và từ hội nghị trung ơng 6 (khóa IV) năm 1979 và tiếp đó là
đại hội V, Đảng ta đã nhận thấy cần phải nhận thức đúng hơn vị trí của nông
nghiệp và phải bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh cơ cấu đầu t Đại hội Đảng
Văn kiện Đại hội V của Đảng
(1)
(2)
Văn kiện Đại hội VI của Đảng
11
là: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại
và thu hút vốn đầu t nớc ngoài, chính sách tài chính - tiền tệ kiềm chế lạm phát,
chuyển cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có
sự quản lý của Nhà nớc.
Nhờ vậy mặc dù có "cú sốc" lớn là Liên Xô và các nớc Đông Âu tan rã làm
mất đi khoản viện trợ khoảng 1 tỷ đô la năm, bằng gần 7% GNP và mất đi thị tr-
ờng không chuyển đổi, mặc dù Mỹ còn gây khó khăn do tiếp tục chính sách cấm
vận, nhng nền kinh tế đã vợt qua trạng thái suy giảm, giảm lạm phát đáng kể,
điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tiếp tục công nghệp hóa. Lạm phát từ mức
3 con số: 1986: 587,2%; 1987: 416,77%; 1988: 410,9% giảm xuống còn 2 con
số: 1989: 30%; 1990: 52,8%. Trong thời kỳ 1986-1990 tốc độ tăng bình quân
hàng năm của tổng sản phẩm xã hội: 4,8%: thu nhập quốc dân: 3,9%, giá trị
tổng sản lợng công nghiệp: 5,2%, giá trị tổng sản lợng nông nghiệp: 3,5%; giá
trị xuất khẩu: 28%; cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp trong thu nhập quốc dân
sản xuất đã có sự điều chỉnh: Công nghiệp: 30% (1985); 23% (1990); còn nông
nghiệp 47,3% (1985); 46,6% (1990).
Cơ cấu công nghiệp bớc đầu có sự chuyển dịch theo hớng thích hợp và có
hiệu quả hơn. Năm 1976 trong cơ cấu giá trị tổng sản lợng công nghiệp ngành
điện lực chỉ chiếm 3,665; cơ khí (bao gồm cả điện tử) 9,65%; hóa chất phân
bón, cao su: 8,26% thì năm 1990 tỷ trọng tơng ứng của các ngành đó là
5,1%:15,9%:9,4%. Nếu so sánh giá trị tổng sản lợng công nghiệp của năm 1990
với năm 1976 thì chỉ số phát triển công nghiệp của cả nớc là 2,13 lần, trong đó:
Điện lực 2,96 lần; cơ khí 3,52 lần; hóa chất, phân bón, cao su: 2,13 lần.
Giữa các ngành công nghiệp nhóm A và công nghiệp nhóm B đã bớc đầu