Tình hình bệnh viêm tử cung ở lợn nái tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị - Pdf 46

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN ĐỨC TRÍ HƢNG

Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI SINH SẢN
TẠI TRẠI LỢN GIỐNG CAO SẢN HIỆP HÒA, BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Chăn nuôi Thú y
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN ĐỨC TRÍ HƢNG

Em xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên em động viên
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Cũng qua đây, cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh
đạo cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh ,
Bắc Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ để em thực hiện nội dung nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2017
Sinh Viên
Hƣng
Nguyễn Đức Trí Hƣng


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Trong chương trình đào ta ̣o của nhà trường

, giai đoa ̣n thực tâ ̣p tố t

nghiê ̣p chiế m mô ̣t vi ̣trí rấ t quan tro ̣ng đố i với mỗi sinh viên trước khi ra
trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên hê ̣ thố ng hoá toàn bô ̣ kiế n thức
đã ho ̣c và củng cố chuyên môn, đồ ng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế
sản xuất. Từ đó nâng cao trình đô ̣ chuyên môn , nắ m đươ ̣c công tác tổ chức và
tiế n hành công tác nghiên cứu , ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực
tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắ n, sáng tạo để khi ra
trường trở thành mô ̣t người cán bô ̣ ki ̃ thuâ ̣t có chuyên môn , đáp ứng đươ ̣c nhu
cầ u thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Được sự nhất trí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi

-


DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CP

: Cổ phần

Cs

: Cộng sự

DD

: Dinh dưỡng

Nxb

: Nhà xuất bản

P

: Trọng lượng

STT

: Số thứ tự

TT

: Thể trọng



vi

2.3. Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược sử dụng điều trị bệnh
viêm tử cung ................................................................................................... 27
2.4. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 30
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 30
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 31
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 33
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 33
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................ 33
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi. ......................................... 33
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 33
3.4.1. Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của nái khỏe và nái viêm tử cung .. 33
3.4.2. Phương pháp theo dõi thu thập thông tin. ............................................. 34
3.4.3. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng. .......................................................... 34
3.4.4. Phương pháp điều trị ............................................................................. 34
3.4.5. Phương pháp xác định chỉ tiêu theo dõi. ............................................... 36
3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 36
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 37
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 37
4.1.1. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng ............................................................. 37
4.1.2. Công tác vệ sinh thú y ........................................................................... 39
4.1.3. Công tác thú y ....................................................................................... 41
4.1.4. Các công tác khác.................................................................................. 46
4.2. Kết quả nghiên cứu của đề tài .................................................................. 48
4.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ...................................... 48
4.2.2. Tỷ lệ và cá thể nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ .......................... 48

đây. Nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ bê, không quan tâm đàn lợn khiến
dịch bệnh bùng phát.
Tình hình dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra như tai xanh, dịch tả gây
thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi lợn. Bệnh viêm tử cung ở lợn cũng
gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi. Viêm tử cung ở lợn là một trong
những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh ảnh hương đến khả
năng sinh sản và năng suất chăn nuôi của lợn nái, như lợn con sinh ra bị còi
cọc, lợn nái động dục lại chậm, không thụ thai, vô sinh và có thể mất khả
năng sinh sản. Bệnh viêm tử cung là bệnh sinh sản gây ra do một số vi khuẩn
như: Escherchia coli, Streptococcus, Staphyloccus.
Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm nhưng ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản như: gây chết thai, lưu
thai, sảy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn ầm thầm làm hạn chế khả năng
sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất chất
lượng con giống. Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản và


2

giảm chi phí cho đàn lợn nái nuôi tại trại Hiệp Hòa, Bắc Giang. Xuất phát từ
thực tế, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh viêm tử cung ở lợn
nái tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa - Bắc Giang và thử nghiệm một số
phác đồ điều trị”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại Hiệp Hòa,
Bắc Giang của công ty Hải Thịnh, Bắc Ninh trong thời gian thực tập.
- Đánh giá được hiệu lực của một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược.
1.3. Ý nghĩa đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Cung cấp thêm tài liệu về tình hình mắc bệnh viêm tử cung.

2.1.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn có khoảng 0.3 ha đất để xây dựng nhà điều hành nhà cho công
nhân bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và hoạt động của trại
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại
cho 300 nái bao gồm 2 chuồng đẻ mỗi chuồng có 32 ô đẻ kích thước: 2,4 x
1,6 m/ô. Chuồng bầu có 240 ô kích thước 2,4 x 0,65 m/ô; 1 chuồng cách ly ; 5
ô đực giống; 1 ô lấy tinh lợn 3 x 2,5 m/ô; 1 chuồng cai kín rộng 250 m2; 1


4

chuồng nuôi thịt 350 m2 cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi
như: kho cám, phòng sát trùng, phòng tinh, kho điện, nước, thuốc, dụng cụ
chăn nuôi…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín. Phía đầu là hệ thống dàn mát,
cuối chuồng là quạt thông gió, chuồng đẻ, chuồng bầu, chuồng cai.
Hai bên tường có dãy cửa sổ kính, trên trần lắp hệ thống chống nóng.
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính
hiển vị, máy nâng hiển vi, máy nâng nhiệt, nồi hấp, nhiệt kế.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng được đổ bê tông có
các hố sát trùng.
Hệ thống nước dùng chăn nuôi là giếng khoan phục vụ chủ yếu cho các
hoạt động chăn nuôi.
2.1.1.3. Cơ cấu tổ chức trại
Cơ cấu tổ chức trại như sau:
01 Quản lý kiêm kỹ thuật
10 Công nhân
01 Đầu bếp kiêm tạp vụ
01 Bảo vệ
01 Kế toán

Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh
chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại
được quét dọn và rắc vôi theo quy định.
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải
sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động.
Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các
chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi
bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng


6

vào. Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho
uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ.
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ
lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con. Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe
mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và
các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn.
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%.
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm
tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh
nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không
gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn.
2.1.2. Thuận lợi và khó khăn
2.1.2.1. Thuận lợi
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường
giao thông.

dẫn tinh cho gia súc cái, kỹ thuật viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích
con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào, vận động bình thường.
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
- Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có
màng trinh, phía trước là âm đạo. Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp
niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng
chéo, hướng quay về âm vật.
* Tuyến vú
- Cấu tạo cơ bản của tuyến vú bao gồm 2 phần: Bao tuyến và hệ
thống ống dẫn.
+ Bao tuyến là nơi sản sinh sữa được cấu tạo từ tế bào biểu mô, mỗi
bao tuyến giống như một cái túi nhỏ thông với ống dẫn sữa.


8

+ Ống dẫn sữa khởi đầu bằng ống dẫn nhỏ thông với xoang bao tuyến,
nhiều ống dẫn nhỏ tập hợp lại đổ vào ống dẫn trung bình rồi đổ vào ống dẫn
lớn sau đó đổ vào bể sữa. Có thể hình dung cấu tạo tuyến vú giống hình cành
cây còn các bao tuyến giống hình chùm nho.
Bể sữa là một xoang rộng, được thông với ống đầu vú để đưa sữa ra
ngoài. Số lượng bể sữa và ống đầu vú cũng khác nhau tuỳ loài. Lợn mỗi một
đầu vú có 2 - 3 ống thông vú.
Xung quanh ống dẫn sữa và bể sữa được bao bọc bởi những sợi cơ trơn
và có tác dụng trong việc thải sữa khi co bóp. Ống thông đầu vú có sợi cơ trơn
sắp xếp theo hình vòng. Toàn bộ tuyến vú được bao bọc bởi mô liên kết và
mô mỡ. Mỗi bao tuyến được bao bọc bởi lưới mao mạch dày đặc, nó cung cấp
máu cho việc tạo sữa. Hệ tĩnh mạch trong tuyến vú phát triển mạnh hơn hệ
động mạch, theo Hoàng Toàn Thắng (2006) [12].
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của tuyến vú

quá trình kích thích lúc giao phối.
Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất
tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi làm lẫn với các dịch
nhày của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào
bong ra từ biểu mô âm đạo.
* Tử cung (uterus)
Tử cung gồm hai sừng tử cung, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có
độ dài đến hơn 1 m trong khi thang tử cung lại ngắn. Độ dày thích hợp cho
việc mang nhiều thai.
Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng
dây chằng rộng, ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử
cung thông vào xương chậu.


10

Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống,
chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung.
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự có mặt của một ít cơ trơn có thành dày và một thành xoang chậu hẹp.
Theo Đào Trọng Đạt (2000) [3], trương lực co càng cao (tử cung trở
nên cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ co giảm (tử cung
mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp
phần cho sự di chuyển của tinh trùng.
* Ống dẫn trứng.
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo, đó là một nếp gấp màng bụng
bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng ruột. Căn cứ vào chức năng có thể chia
ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua điểm: Có hình như tua liềm
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.

- Tuổi đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4 - 5 tháng tuổi nhưng tuổi
phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu là 11 - 12
tháng tuổi.
* Chu kỳ tính
- Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu
hiện ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu.
- Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn
toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì
bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do
trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.


12

- Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dưới sự điều khiển của thần kinh
trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao
phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì
khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng. Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ
nếu gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được
thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi
nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất
dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lượng
progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển và
chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo.
- Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải
trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác
nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động
trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn

- Sau khi quan sát hiện tượng di động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa
nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản ứng viêm là sự hoạt động của những
tế bào thoát mạch và chống lại các vật kích thích viêm mà ông gọi là hiện tượng
thực bào (phagocytosis), theo Nguyễn Hữu Nam (2005) [5].
- Viêm gây tổn thương các mạch quản, tổ chức liên kết và hệ thần kinh
đối với tính phản ứng của cơ thể.
- Viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế
bào. Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật.
- Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi
kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào, theo Nguyễn Hữu
Nam (2005) [5].
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
- Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối
loạn chủ yếu sau:


14

+ Rối loạn chuyển hóa.
- Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhưng vì
có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn
chuyển hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton,
lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm.
+ Tổn thương ở mô bào.
- Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm.
+ Dịch rỉ viêm.
- Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch
quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu

Ninh, Bạch Đăng Phong (1994) [7].
- Bệnh tích: Phần cổ tử cung nhô ra âm đạo sung huyết và sưng, các vòng
nhẫn bên trong của cổ tử cung sung huyết. Lối vào của lỗ cổ tử cung biến dạng và
niêm mạc trở nên đỏ hoặc đỏ tía. Mủ chảy ra từ miệng cổ tử cung.
- Điều trị: Tiêm Amox LA 1 ml/10kg TT/2 ngày/lần, tiêm bắp, điều trị
trong 6 ngày liên tục.
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch
nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày.
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng, dịch chảy ra có máu, không được
thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng. Trong trường hợp
này có thể dùng oxytocin hoặc lutalyse, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài.
2.2.4.2. Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ
được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử
cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản, theo Nguyễn Văn Thanh
(2003) [10].


16

Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Theo
Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994) [7] thì viêm tử cung chia làm 3
thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung.
 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung. Đây là một trong những
nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái. Viêm nội mạc
tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung.
- Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ
khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn
thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status