Nghiên cứu tình hình lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán ở các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----- Ο -----

NGUYỄN XUÂN HIỆP

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----- Ο -----

NGUYỄN XUÂN HIỆP

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số

: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH


BCTC

: Báo cáo tài chính

BCĐKT

: Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD

: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT

: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BĐS

: Bất động sản

CLTGHĐ

: Chênh lệch tỷ giá hối đoái

CMKT

: Chuẩn mực kế toán

CTCP


CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................1
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................2
[27] SZILVESZTER FEKETE & DUMITRU MATIŞ (2008), “FACTORS INFLUENCING THE
EXTENT OF CORPORATE COMPLIANCE WITH IFRS: THE CASE OF HUNGARIAN LISTED
COMPANIES”, ANNALES UNIVERSITATIS APULENSIS SERIES OECONOMICA, 10(1)............95


DANH MỤC CÁC HÌNH
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................1
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................2
[27] SZILVESZTER FEKETE & DUMITRU MATIŞ (2008), “FACTORS INFLUENCING THE
EXTENT OF CORPORATE COMPLIANCE WITH IFRS: THE CASE OF HUNGARIAN LISTED
COMPANIES”, ANNALES UNIVERSITATIS APULENSIS SERIES OECONOMICA, 10(1)............95


1

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo tài chính vẫn là kênh cung cấp thông tin quan trọng về tình hình
tài chính doanh nghiệp cho nhiều đối tượng khác nhau (chủ DN, nhà đầu tư,
ngân hàng, cơ quan thuế). Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam sẽ hội

Đề tài được triển khai nhằm nắm bắt thực trạng lập BCTC theo CMKT ở
các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mức độ vận dụng các
CMKT trong công tác lập BCTC đến đâu. Đồng thời xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến công tác lập BCTC theo CMKT và thông qua đó, đề xuất những
giải pháp góp phần hoàn thiện việc lập BCTC theo CMKT.

3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình lập BCTC của các công ty cổ phần
độc lập, không bao gồm BCTC tổng hợp, BCTC hợp nhất của các Tổng công
ty, tập đoàn.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có rất nhiều DN với qui mô và đặc
điểm khác nhau, nhưng phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ gồm các công ty cổ
phần đang áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4.

Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1, bằng cách khảo
sát BCTC được lập qua 3 năm liên tiếp gần nhất của các công ty cổ phần đang
hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm đánh giá mức độ cung cấp
thông tin trên BCTC theo các yêu cầu trình bày BCTC của CMKT. Giai đoạn
2, kế thừa và bổ sung kết quả khảo sát qua BCTC, dựa vào phương pháp điều
tra thông qua bảng câu hỏi, số liệu sẽ được thu thập, xử lý để làm sáng tỏ hơn
những khảo sát trên.

5.


chưa phải là loại báo cáo bắt buộc nên vấn đề soạn thảo và trình bày các
thông tin trên loại báo cáo này chưa được nhiều DN quan tâm. Ngoài ra tác
giả còn nhấn mạnh BCTC tại Việt Nam chưa thích ứng trong điều kiện nền
kinh tế lạm phát. Nguyên tắc trình bày các tài sản theo giá gốc (hay giá phí


4
lịch sử) trong BCTC tỏ ra không phù hợp với các nhu cầu sử dụng thông tin
kế toán để đưa ra các quyết định trong kinh doanh và nhu cầu thể hiện các tài
sản trong điều kiện nền kinh tế lạm phát. Mặc dù đã có một số quy định cho
phép DN thực hiện đánh giá lại tài sản để đảm bảo giá trị thực tế của tài sản
nhưng trong chế độ kế toán hiện nay chưa có quy định rõ ràng cho kế toán về
biến động giá cả.
Phần cuối của công trình nghiên cứu, Yến (2004) đã đưa ra một loạt
những biện pháp vận dụng và hoàn thiện CMKT về BCTC tại Việt Nam.
Những biện pháp vận dụng CMKT về BCTC được nêu ra ở tầm vĩ mô và vi
mô khá chi tiết. Bên cạnh đó, những vấn đề cần hoàn thiện CMKT trình bày
BCTC, chẳng hạn đối với Chuẩn mực chung (VAS 01), tác giả đã đề nghị bổ
sung vào chuẩn mực chung định nghĩa BCTC và đối tượng sử dụng của
BCTC, định nghĩa lại một vài khái niệm quan trọng khác trong kế toán. Liên
quan đến Chuẩn mực trình bày BCTC (VAS 21), Yến (2004) đề xuất sửa đổi
bổ sung nhiều chỉ tiêu trên từng BCTC của DN và cuối cùng là đề xuất việc
bổ sung chuẩn mực “BCTC trong nền kinh tế siêu lạm phát” tại Việt Nam.
Do bối cảnh của nghiên cứu ra đời vào năm 2004 khi Bộ Tài chính mới
ban hành 16 CMKT nên một vài kết luận và đề xuất giải pháp của Yến (2004)
đã không còn tính cập nhật.
Đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ
phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu sự
vận dụng CMKT về BCTC tại Việt Nam trong tình hình hệ thống CMKT đã
được ban hành đầy đủ hơn.

Tổng kết các nghiên cứu của các nước về các nhân tố ảnh hưởng đến
việc vận dụng CMKT quốc tế, và trao đổi với các chuyên gia kế toán, kiểm
toán có nhiều năm kinh nghiệm để lựa chọn các nhân tố phù hợp với Việt
Nam, đồng thời tiến hành điều tra thông qua bảng câu hỏi (với đối tượng là


6
các kế toán viên ở các DN và các cán bộ quản lý thuế) để xem xét có thêm
các chứng cớ chắc chắn, tác giả Nguyên (2010) đã xây dựng mô hình dự tính
về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DN vừa và
nhỏ gồm các nhân tố Tính phức tạp của VAS (kết quả thu thập nhiều ý kiến
cho rằng nội dung các chuẩn mực còn quá mới mẻ với quá nhiều khái niệm,
thuật ngữ), nhân tố thứ hai là Tính độc lập về nghề nghiệp (đặc trưng của hệ
thống pháp luật tại Việt Nam ảnh hưởng tới thực hành kế toán, nghiên cứu đã
cho thấy việc thực hành kế toán hầu như chỉ dựa trên hệ thống các thông tư
hướng dẫn), nhân tố thứ ba là Trình độ của kế toán viên (ảnh hưởng đến khả
năng lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phù hợp để tối đa hoá lợi
ích của DN khi vận dụng chuẩn mực), nhân tố thứ tư là Kiểm tra, kiểm toán
(nếu BCTC của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các
CMKT sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán), nhân tố thứ
năm là Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán (đặc điểm liên kết chặt
chẽ giữa kế toán và thuế tại Việt Nam, đo lường và ghi nhận kế toán dựa trên
qui định của thuế), nhân tố thứ sáu là Nhận thức của chủ DN (nhiều chủ DN
chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán), nhân tố thứ bảy là Qui
mô của DN (các DN có qui mô lớn thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực
khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế rất cao và có đủ nguồn
lực tài chính do vậy việc vận dụng các CMKT sẽ đầy đủ hơn các DN nhỏ),
nhân tố thứ tám là Khả năng sinh lời (thông qua nhân tố này để xem xét hành
vi của người kế toán), nhân tố cuối cùng được tác giả đưa ra là Lợi ích của
việc vận dụng chuẩn mực.

đối với bản thân các DN cũng như các cơ quan liên quan.
Đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ
phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ đi theo một hướng khác hẳn với
Hằng (2011) ở khía cạnh lập BCTC theo CMKT chứ không nghiên cứu công
tác kế toán lập BCTC.


8

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1. Báo cáo tài chính
Để định nghĩa về BCTC, có nhiều giác độ tiếp cận. Từ giác độ của người
lập, BCTC (một trong những sản phẩm của báo cáo kế toán) là hình thức biểu
hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp - cân đối trong ghi chép, phản ánh các
mặt thuộc hoạt động tài chính của đơn vị (nên được gọi là BCTC [17, tr. 86])
và là đầu ra của qui trình kế toán tài chính. Từ giác độ người sử dụng, BCTC
là phương tiện cung cấp thông tin tài chính hữu ích để ra quyết định kinh tế.
Từ đó có thể định nghĩa BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán tài
chính, biểu hiện khái quát dưới hình thức hệ thống các bộ phận báo cáo có
mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp, đáng
tin cậy, giúp người sử dụng làm cơ sở để nhận xét, đánh giá và ra quyết định.
Theo Viện kế toán công chứng Hoa kỳ (AICPA) [20, tr. 5] [25] thì: “Hệ thống
BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên
tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và
nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các
sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc vào khả năng và sự trung thực
của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những

các chính sách, chế độ tài chính - kế toán và yêu cầu của các luật kinh tế nói
chung và thuế nói riêng. Các thông tin trên BCTC được yêu cầu trình bày khá
chi tiết nhằm cung cấp những thông tin hữu ích đáp ứng được yêu cầu quản lý
của các cơ quan tài chính, thống kê, thuế, bộ kế hoạch và đầu tư. Như vậy,
1

Được gọi là “Báo cáo về vị trí tài chính” trong Chuẩn mực kế toán quốc tế


10
yêu cầu của Nhà nước về thông tin kế toán đã chiếm quyền ưu tiên hơn so với
các đối tượng sử dụng khác. Tuy nhiên, BCTC được xây dựng cũng phải đảm
bảo thoả mãn các tính chất: dễ hiểu, thích hợp, đáng tin cậy và so sánh được,
nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực và hợp lý cho các đối tượng sử
dụng khác như ngân hàng, nhà đầu tư, nhà quản trị DN, khách hàng, nhà cung
cấp… Đối với ngân hàng, đối tượng cho vay vốn chủ yếu của DN, BCTC
đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng để bộ phận cung cấp tín dụng tiến
hành phân tích tài chính DN. Dựa trên BCTC, nhà cung cấp tín dụng sẽ phân
tích khả năng thanh toán, dự đoán các dòng tiền, đánh giá khả năng sinh lời
trong dài hạn cũng như các nguồn lực đảm bảo khả năng đáp ứng các khoản
thanh toán cố định (tiền lãi, trả nợ gốc..) của DN, trên cơ sở đó sẽ ảnh hưởng
quan trọng đến việc ra quyết định nên cho vay hay không đối với DN. Đối với
khách hàng hay nhà cung cấp, thông tin từ BCTC là cơ sở để đánh giá khả
năng tiếp tục hoạt động, tính ổn định của DN để ra quyết định quan hệ thương
mại với DN. Đối với các công ty cổ phần, do đặc thù của công ty đối vốn, các
cổ đông của công ty rất cần được thông tin một cách kịp thời về thực trạng tài
chính của công ty, đặc biệt là các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và
rủi ro tiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư. Họ cần những thông tin để xác định
xem khi nào thì nên mua, giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các
thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của công ty. Các BCTC là

dụng khác. Theo đó, kiểm toán viên phải soát xét BCTC có được lập đúng
theo luật pháp hay không (hơn theo quan điểm trung thực và hợp lý).
Quan điểm thương mại hợp lý
Theo quan điểm này, chỉ có một quy định không thể vi phạm đó là các
BCTC phải đưa ra một bức tranh rõ ràng, hiện thực về kết quả hoạt động và
tình hình tài chính của DN báo cáo. Với quan điểm này, việc quan trọng là
cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, những người này được xem là đối


12
tượng sử dụng chủ yếu BCTC. Các BCTC đưa ra một quan điểm thương mại
hợp lý về các vấn đề hoạt động kinh doanh của một công ty. Vì thế, khuôn
mẫu luật pháp ít cứng nhắc hơn và các yêu cầu về thuế không quyết định hình
thức của BCTC. Nhìn chung, việc thiết lập các chuẩn mực là trách nhiệm của
các cơ quan chuyên môn và điều đó làm cho hệ thống này linh hoạt hơn để
thích ứng với những tình huống khác nhau. Sự linh động này cũng chỉ cho
thấy ở mức độ từng đơn vị và kiểm toán viên có thể sử dụng sự phán đoán
nhiều hơn để đưa ra ý kiến của mình, vốn được hướng đến "sự trình bày hợp
lý". Trong một số trường hợp, khi nguyên tắc trung thực và hợp lý được coi
là yêu cầu về luật pháp (như ở Anh chẳng hạn), thì nó sẽ bác bỏ những yêu
cầu pháp lý khác nếu bức tranh thương mại hợp lý bị sai lệch do tuân thủ các
yêu cầu pháp lý khác đó.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai quan điểm trên đang ngày càng mờ
dần, do khuynh hướng của sự hoà hợp quốc tế mà khuynh hướng đó được
thúc đẩy bởi các nhân tố của nền kinh tế vĩ mô, như là sự xuất hiện của thị
trường chung Châu Âu, sự toàn cầu hoá của việc mua bán chứng khoán và sự
gia tăng về quy mô của thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Sự ra đời
của Uỷ ban CMKT quốc tế (IASC) là một minh chứng cho sự hoà hợp của hai
quan điểm nói trên. IASC đã đưa ra quan điểm về tính trung thực và hợp lý của
các thông tin trình bày trên BCTC, bên cạnh đó ban lãnh đạo IASC cũng thừa

6. Tài sản cố định hữu hình;
7. Tài sản cố định vô hình;
8. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn;
9. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang;
10. Tài sản dài hạn khác;
11. Vay ngắn hạn;
12. Các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác;
13. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước;
14. Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác;
15. Các khoản dự phòng;
16. Phần sở hữu của cổ đông thiểu số;
17. Vốn góp;
18. Các khoản dự trữ;


14
19. Lợi nhuận chưa phân phối.
Về bản chất, BCĐKT là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với
nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả của DN. Số liệu trên BCĐKT cho
biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn
và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào BCĐKT có thể
nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN.
1.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của DN, chi tiết
theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác [18, tr. 10]. Theo
VAS 21- Trình bày BCTC thì BCKQHĐKD phải bao gồm các khoản mục
chủ yếu [2, tr. 498-499]:
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2. Các khoản giảm trừ

một bức tranh toàn cảnh: tiền của đơn vị có từ đâu, sử dụng cho mục đích nào
và khả năng sinh ra các dòng tiền trong tương lai. Đây là những thông tin tài
chính tổng hợp mà hai báo cáo kế toán tổng thể trên chưa thể hiện được.
BCLCTT bao gồm những phần chính:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
- Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ
- Tiền đầu kỳ
- Tiền cuối kỳ
1.2.4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài ba bản báo cáo trên, Bản thuyết minh BCTC được lập để giải thích
và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình
tài chính cũng như kết quả kinh doanh của DN trong kỳ báo cáo mà các bảng
báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu
rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của DN.
Bản thuyết minh BCTC bao gồm các phần mô tả mang tính tường thuật
hoặc những phân tích chi tiết hơn các số liệu đã được thể hiện trong BCĐKT,


16
BCKQHĐKD và BCLCTT cũng như các thông tin bổ sung cần thiết khác.
Khi đọc bất cứ BCTC nào người đọc cũng tìm thấy dẫn chiếu thông tin tới
thuyết minh BCTC (thường được đánh số thứ tự để tiện theo dõi). Các thuyết
minh này cho biết phương pháp kế toán công ty áp dụng và bổ sung các thông
tin không được nêu trong BCTC. Nói cách khác, Bản thuyết minh BCTC đưa
ra thông tin chi tiết và mở rộng các thông tin tóm tắt trong BCTC, giúp nhà
đầu tư hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động thực tế của công ty trong khoảng
thời gian báo cáo. Chúng bao gồm những thông tin được các CMKT yêu cầu
trình bày và những thông tin khác cần thiết cho việc trình bày trung thực và

phổ thông của công ty mẹ trong kỳ đối với mỗi loại cổ phiếu phổ thông có
quyền nhận lợi nhuận khác nhau cho kỳ báo cáo.


Trên Bản thuyết minh BCTC: Thông tin chi tiết đối với mỗi loại cổ

phiếu về số cổ phiếu được phép phát hành; số cổ phiếu đã được phát hành và
được góp vốn đầy đủ và số cổ phiếu đã được phát hành nhưng chưa được góp
vốn đầy đủ; mệnh giá của cổ phiếu hoặc các cổ phiếu không có mệnh giá;
phần đối chiếu số cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm đầu và cuối niên độ;
các quyền lợi, ưu đãi và hạn chế gắn liền với cổ phiếu, kể cả những hạn chế
trong việc phân phối cổ tức và việc trả lại vốn góp; các cổ phiếu do chính DN
nắm giữ hoặc do các công ty con, công ty liên kết của công ty nắm giữ. Ngoài
ra cần trình bày thông tin thuyết minh về chỉ tiêu lãi cơ bản trên cổ phiếu và
lãi suy giảm trên cổ phiếu.
1.3. YÊU CẦU LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
1.3.1. Chuẩn mực kế toán và sự cần thiết phải lập báo cáo tài chính
theo chuẩn mực kế toán
CMKT gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ
kế toán và lập BCTC. Hệ thống CMKT Việt nam được xây dựng dựa trên cơ
sở CMKT quốc tế phù hợp với đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế Việt
nam trong giai đoạn hiện tại và tương lai gần. Trong bối cảnh đặc thù của Việt
Nam, ngoài CMKT thì Nhà nước còn ban hành Chế độ kế toán là những quy
định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ
thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản


18
lý nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành. Chế độ kế toán là quy định cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status