BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM THỊ HIỀN
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC
VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ HỘI AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM THỊ HIỀN
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC
VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ HỘI AN
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1.2.2. Phát triển du lịch và những vấn đề đặt ra hiện nay....................... 41
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VỚI VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN NAY................................. 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................ 49
CHƯƠNG 2. DU LỊCH HỘI AN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA QUAN
ĐIỂM PHÁT TRIỂN........................................................................... 50
2.1. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HỘI
AN.......................................................................................................... 50
2.1.1. Tiềm năng du lịch và những nét đặc thù của thành phố Hội An .. 50
2.1.2. Thực trạng phát triển du lịch của Hội An trong thời gian qua...... 64
2.2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VÀO PHÁT TRIỂN
NGÀNH DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN NAY ......................................... 68
2.2.1. Phát triển Du lịch ở Hội An gắn với bảo tồn di sản văn hóa ........ 68
2.2.2. Giải quyết các mâu thuẫn để phát triển du lịchở Hội An ............. 72
2.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN
NAY....................................................................................................... 81
2.3.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp .......................................................... 81
2.3.2. Các giải pháp chủ yếu ................................................................... 86
2.3.3. Một số kiến nghị, đề xuất.............................................................. 95
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................ 96
KẾT LUẬN........................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 98
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Doanh thu du lịch giai đoạn 2001-2005 và 20062009
Dự báo khách tham quan Hội An giai đoạn 2015 2020
Dự báo khách tham quan Cù Lao Chàm giai đoạn
2015 - 2020
Dự báo khách lưu trú Hội An giai đoạn 2015 2020
Dự báo nhu cầu phòng khách sạn Hội An đến
năm 2020
Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch Hội An
đến 2020
66
83
83
84
84
84
2.10.
Dự báo chi tiêu trung bình của khách du lịch
85
2.11.
Dự báo thu nhập từ du lịch Hội An đến năm 2020
85
2.12.
sáng nhất trong bức tranh kinh tế Hội An chính là vai trò và những đóng góp
từ ngành Du lịch. Trong xu thế hội nhập, giao lưu kinh tế - văn hóa của khu
vực và thế giới, với những ưu thế là một Trung tâm du lịch, là giao điểm của
con đường giao lưu kinh tế - văn hóa trong nước và quốc tế, Hội An sẽ có
những thuận lợi to lớn để phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch. Nhưng đồng
thời, sự phát triển của du lịch ở Hội An cũng đang đứng trước những thách
2
thức to lớn. Đó sẽ là những rào cản cần được giải quyết để ngành Du lịch ở
Hội An phát triển.
Vấn đề phát triển du lịch ở Hội An ngày càng nhận được sự quan tâm
của các đơn vị quản lý, của chính quyền Tỉnh cũng như của cộng đồng dân cư
nơi phố cổ. Vì vậy, việc tìm con đường phát huy những thế mạnh và giải
quyết những khó khăn, thách thức để phát triển du lịch nói riêng và kinh tế xã hội nói chung đang trở thành một yêu cầu vừa mang tính lý luận và thực
tiễn. Từ đó, chúng tôi chọn vấn đề “Quan điểm phát triển của triết học với
vấn đề phát triển du lịch ở thành phố Hội An” làm luận văn tốt nghiệp của
mình để góp phần vào sự phát triển của thành phố Hội An.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về quan điểm phát triển trong triết học, luận văn trình
bày và luận giải thực trạng phát triển của ngành Du lịch ở thành phố Hội An.
Từ đó, đề xuất phương hướng và biện pháp nhằm vận dụng quan điểm phát
triển vào thực hiện tốt hơn vấn đề phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành
phố Hội An hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm rõ quan điểm phát
triển, vận dụng vào trong công tác phát triển du lịch ở thành phố Hội An trong
thời gian qua và chiến lược phát triển du lịch trong những năm đến.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm sáng tỏ việc vận dụng
nguyên lý về sự phát triển vào phát triển du lịch Hội An trên cơ sở những số
của khoa học.
-“Giáo trình triết học Mác - Lênin” Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2009. Trong chương 2: Phép biện chứng duy vật, các tác giả đã trình bày tóm
tắt quan điểm siêu hình về sự phát triển, sau đó trình bày nguyên lý về sự phát
triển dưới góc độ phép duy vật biện chứng. Phát triển là một quá trình vận
4
động của sự vật theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến cao, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Các tác giả cũng đã khái quát các tính chất của
sự phát triển như: (1)Tính khách quan; (2) Tính phổ biến và (3) Tính đa dạng
phong phú của sự phát triển. Từ đó, rút ra các ý nghĩa phương pháp luận của
sự phát triển. Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định
hướng việc nhận thức và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi hoạt
động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Theo đó cần
phải: Xem xét sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển,
trong “sự tự vận động”, trong sự biến đổi của nó; Luôn đặt sự vật, hiện tượng
theo khuynh hướng đi lên. Phát triển là quá trình biện chứng, bao hàm tính
thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn vì vậy, phải nhận thức được tính quanh co,
phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển; Xem xét sự vật,
hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai
đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương
lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố
chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện
tượng theo đúng quy luật; Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến,
đối lập với sự phát triển.
-“Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu” tác giả Phạm Xuân
Nam do Nxb Khoa học xã hội phát hành, được biên soạn với nội dung bao
gồm 7 chương. Trong đó, Chương 1. Quan niệm về triết lý, triết lý phát triển;
Chương 2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về triết lý phát
HTKH trong khuôn khổ dự án TRIG Phát triển kinh tế - xã hội miền Trung và
Tây Nguyên gắn với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, Đà Nẵng - 6/2012; Kỷ
yếu HTKH Phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội khu vực Duyên hải
miền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng - 9/2011.
6
Các bài viết trên những trang báo mạng về chủ đề phát triển du lịch ở
Hội An cũng hết sức phong phú như: “Du lịch Hội An: Thách thức mới” dẫn
nguồn từ Báo Quảng Nam đã đề cập sơ lược về thực trạng cũng như nêu lên
các thách thức mới của du lịch Hội An trong thời gian tới; “Quan điểm phát
triển trong Chiến lược và thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
2011-2020” dẫn nguồn từ ...
Dưới dạng các luận văn nghiên cứu và vận dụng nguyên lý về sự phát
triển như: Luận văn thạc sĩ (2008) của Nguyễn Thị Mỹ Lang: “Nguyên lý về
sự phát triển với việc nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ giảng
dạy các trường đại học, cao đẳng tỉnh Quảng Nam” Khóa luận tốt nghiệp cử
nhân Triết học của Trịnh Thị Yến tại Trường Đại Học khoa học - Đại Học
Huế năm 2011 về: “Vận dụng nguyên lý phát triển vào công tác quy họach
đội ngũ cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”;. Luận văn tốt nghiệp Thạc
sỹ kinh tế của Phan Văn Tú năm 2011 tại Đại học Đà Nẵng về: “Các giải
pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”...
Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, phân tích, làm rõ về
nguyên lý phát triển, và những cách tiếp cận vận dụng chủ nghĩa duy vật biện
chứng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng xem xét sự
phát triển vào thực tiễn hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Hội An thì
chưa có một đề tài nào đề cập tới. Vì vậy, chúng tôi chọn “Quan điểm phát
triển của triết học với vấn đề phát triển du lịch ở thành phố Hội An” làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
8
phác. Xem thế giới như một chỉnh thể thống nhất và đi tìm nguồn gốc cũng
như bản chất của nó ở một dạng vật chất cụ thể nào đó. Dầu vậy, những
quan điểm đó đã bước đầu đặt nền móng cho sự phát triển các tư tưởng duy
vật về thế giới cũng như sự phát triển.
Hêraclit (540-475 tr.CN) nhà biện chứng nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại.
cũng giống như những người đương thời, ông tập trung đi tìm nguồn gốc của
thế giới và ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật “mọi cái biến đổi
thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng
hóa thành vàng”. Lửa không chỉ là cơ sở của vạn vật mà còn là khởi nguyên
sinh ra chúng. “cái chết của lửa - là sự ra đời của không khí, và cái chết của
không khí là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí (từ cái
chết của nước - lửa và ngược lại)”. Hêraclit dùng con đường đi lên và đi
xuống để mô tả sự chuyển hóa của sự vật. Con đường đi xuống bắt đầu từ lửa
→ không khí→ nước → đất. Còn con đường đi lên bắt đầu từ đất → nước→
không khí→ và cuối cùng trở về dạng tồn tại ban đầu là lửa. Nhưng theo
Hêraclit thì chuẩn mực của mọi sự vật là logos, đươc hiểu không chỉ là từ ngữ
mà còn là quy luật khách quan của vũ trụ. Quy định trật tự và chuẩn mực của
mọi cái. Cái logos đó tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thực chất đó là quy luật
của tự nhiên. Theo ông mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều thay đổi, vận
động và phát triển không ngừng. Ông cho rằng, “Vũ trụ là một thể thống nhất,
nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực
lượng đối lập nhau”[40, tr 158]. Như vậy, Hêraclit đã có một cái nhìn biện
chứng chất phác và tiến bộ về sự vận động. Đó là vận động của sự vật gắn
liền với thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Chính mâu thuẫn tồn tại
một cách phổ biến trong sự vật đã trở thành nguồn gốc phát triển của vạn vật.
Chiếm vị trí nổi bật trong triết học Hi Lạp cổ đại là khuynh hướng
nguyên tử luận mà đại biểu là Đêmôcrit. Ông là một trong những nhà triết học
10
tâm khách quan của mình. Ý niệm là gì? Theo tiếng Hi Lạp ý niệm chính là
những nghĩa rất rộng như loài, giống, hình thức…“trong chủ nghĩa duy tâm
khách quan “ý niệm”, sản phẩm của quá trình tư duy bị “biến thành một chủ
thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực”.
Đối với Mác “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc
con người và được cải biến đi ở trong đó” [23, tr 35]. Học thuyết ý niệm là
vấn đề trung tâm của hệ thống triết học Platon vì vậy không chỉ là nền tảng
của thế giới quan mà còn là cơ sở của nhận thức.
Trong học thuyết “ý niệm” ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự
vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là
không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất
đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý
niệm là thế giới phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các
sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không
phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức
về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm
biết. Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn
tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu
tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ
hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang
tính duy tâm. Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự
khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con
người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại,
hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ.
Theo Platon tri thức được phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn
và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng.
Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng
12
vật thể khác và kết hợp với nó, để trở thành vật thể lớn hơn, vật thể
tăng trưởng. Tương tự như vậy sự giảm đi có nghĩa là có một cái gì
đó tách ra từ một vật thể chuyển dịch trong không gian, vậy sự tăng
và giảm quyết định sự chuyển dịch trong không gian như một điều
tất yếu. Đối với sự biến đổi về chất có thể giải thích như sau: nếu
trong vật thể diễn ra sự thay đổi chất của nó thì nguyên nhân của
biến đổi, chuyển hóa chính là sự liên kết vật thể đang biến đổi với
vật thể tạo nên sự biến đổi trong nó. Nhưng điều kiện của sự liên kết
là tiếp cận, mà tiếp cận chính là vận động trong không gian” [32, tr.
145-146].
Như vậy, Aristot đã không thừa nhận sự vận động tự thân của vật chất
mà mong muốn đi tìm nguyên nhân thực sự của vận động bên ngoài sự vật.
Aristot còn chia vận động trong không gian thành: vận động vòng tròn;
vận động đường thẳng; kết hợp vận động vòng tròn và vận động đường thẳng.
Trong đó, vận động vòng tròn là vận động có tính liên tục. Theo Aristot vận
động vòng tròn là vận động hoàn hảo nhất vì ba lý do: 1) vận động ấy diễn ra
liên tục, vĩnh cửu; 2) nếu cái toàn thể nào đó vận động theo vòng tròn thì
trong khi vận động, nó vẫn có thể ở trạng thái đứng im, cân bằng tương đối.
Mặc dù tất cả các bộ phận của nó, trừ trục, luôn vận động, nhưng không gian,
xét như bể chứa vũ trụ, mãi mãi vẫn vậy; 3) vận tốc của vận động vòng tròn
không đổi, điều mà vận động theo đường thẳng không thể có được do chỗ vận
tốc của nó phụ thuộc vào khoảng cách từ vật thể vận động đến vị trí định sẵn.
Ví dụ vật thể rơi càng gần mặt đất vận tốc đạt được càng nhanh [12, tr. 147].
Aristot đã chưa nhân thức được khuynh hướng phát triển đi lên của sự
vật hiện tượng mà chỉ dừng mới dừng lại ở sự vận động theo một vòng tròn
khép kín mà thôi. Đối với ông sự phát triển được hiểu như là sự chuyển dịch
giản đơn trong không gian, ông đã không trình bày được sự phức tạp, biến
14
thì “sự phát triển của thế giới đi từ biểu hiện đến không biểu hiện, họ cũng coi
“thế giới này là vật chất, nguyên nhân của thế giới vì thế cũng là vật chất”
[40, tr. 126]. Thế giới vật chất là bao la, vô cùng, vô tận, không ngừng biến
đổi, vận động từ dạng này sang dạng khác, nó tồn tại vĩnh hằng, không mất đi.
Theo quan niệm của trường phái này thì thế giới được cấu tạo bởi sự biến đổi
của các yếu tố: Sattva (là trí tuệ, trí năng với thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui),
Rajas (là năng lượng với những thuộc tính động, kích thích), Tamas (là khối
lượng, quán tính với những thuộc tính nặng, khó khăn). Sự vận động và tác
động của các yếu tố nói trên đã phá vỡ sự cân bằng vốn có của thế giới vật
chất và tạo nên sự biến đổi, phát triển. Ở đây, phái Sàmkhuya đã rơi vào siêu
hình khi quy sự vận động của vật chất về một số thuộc tính vận động cụ thể.
Nhưng cho thấy từ rất sớm họ đã hình thành tư tưởng nguyên nhân của thế
giới là vật chất, thế giới không ngừng vận động, phát triển. Mặc dù cách lý
giải còn giản đơn, mang tính siêu hình như đã nói ở trên nhưng những tư
tưởng của trường phái Sàmkhuya đã rất tiến bộ khi chỉ ra thế giới các sự vật
tồn tại và biến đổi trong không gian và thời gian.
Jaina là một tôn giáo xuất hiện gần đồng thời với Phật giáo. Người sáng
lập ra trường phái này là là Maharvira, có hiệu là Jaina (nghĩa là Chiến thắng).
Triết học cơ bản của Jaina là học thuyết về "cái tương đối". Theo thuyết này,
tồn tại đầu tiên là bất biến, vô thủy, vô chung, sự biến đổi của vạn vật là
không cùng; thế giới vạn vật là sự thống nhất của cái biến đổi và cái bất biến.
Cái vĩnh hằng là vật chất; cái không vĩnh hằng là các dạng của vật chất (Thí
dụ: Đất sét thì không thay đổi, nhưng cái bình bằng đất sét thì có thể thay
đổi). Điều đó được thể hiện qua các khái niệm: 1. Tồn tại; 2. Không tồn tại; 3.
Vừa tồn tại vừa không tồn tại; 4. Không thể miêu tả; 5. Tồn tại và không thể
miêu tả; 6. Không tồn tại và không thể miêu tả; 7. Tồn tại và không tồn tại và
không miêu tả được. Phái Jaina cũng đã diễn tả được sự biến đổi không
16
giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng
được "giải thoát". Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh
bằng sự phân tích nhân - quả. Theo Phật giáo, nhân - quả là một chuỗi liên tục
không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan
hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết
quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác.
Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng
không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có
một đấng Tối cao (Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ. Cùng với sự phủ định
Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù (Anatman - nghĩa là không có
tôi) và quan điểm "vô thường".
Quan điểm "vô ngã" cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự "giả hợp" do
hội đủ nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại). Sự đa dạng của tồn tại là do
“nhân duyên” tạo ra. “Duyên ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh
ra cái mới, vừa là kết quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó. Nhân nhờ
duyên mà thành quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên
mà thành quả mới… quá trình cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới,
vạn vật, muôn loài sinh sinh hóa hóa không ngừng”[39, tr. 52].
Nhân duyên hội thì sự vật tạo ra, nhân duyên hết thì sự vật không còn.
“Nhân duyên” quan hệ với “Nhân quả”. Nhân là nghiệp lực. Quả là nghiệp
lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên. “Nhân duyên khởi” và “Nhân quả”
là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọi tồn tại. Ngay bản thân sự tồn tại của
thực thể con người chẳng qua là do "Ngũ uẩn" (5 yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật
chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức). Như
vậy là không có cái gọi là "tôi" (vô ngã).
Quan điểm "vô thường" cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình
bất tận: sinh - trụ - dị - diệt. Vậy thì "có có" - "không không" luân hồi bất tận;
18
Quốc thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu
sắc về sự biến dịch của vũ trụ, cũng như những lý luận hết sức sâu sắc khi bàn
về sự phát triển.
Âm Dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết
học Trung Quốc, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối
với sự sản sinh biến hóa của vũ trụ. Thuyết Âm - Dương thể hiện quan niệm
duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó đã thể hiện tư tưởng biện chứng sơ
khai về tự nhiên, xã hội và con người. Việc sử dụng hai phạm trù Âm Dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm
thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần
truyền thống đem lại. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng
trong tư tưởng triết học của người Trung Hoa. Âm - Dương là hai thế lực đối
chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của
mọi sinh thành biến hóa. Âm - Dương là điều kiện tồn tại và động lực của mọi
sự vận động, phát triển.
Theo thuyết Âm - Dương sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế
lực đối lập Âm và Dương. "Dương" nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời hay
những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; "Âm" có nghĩa là thiếu ánh
sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau, Âm - Dương được coi
như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ: biểu thị cho giống đực, hoạt
động, hơi nóng, ánh sáng, khôn ngoan, rắn rỏi, v.v. tức là Dương; giống cái,
thụ động, khí lạnh, bóng tối, ẩm ướt, mềm mỏng, v.v. tức là Âm. Chính do sự
tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất.
Trong Kinh Dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của vũ trụ có
khởi điểm là Thái cực. Từ Thái cực sinh ra Lưỡng nghi (âm dương), rồi Tứ
tượng, rồi Bát quái. Như vậy, sự tác động qua lại giữa âm - dương không chỉ
là nguồn gốc sinh ra vạn vật mà nó còn là nguồn gốc của mọi sự vận động