''Cơ sở tồn tại của kinh tế thị trường và giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta'' - Pdf 46

I. Mở đầu
Từ năm 1975, sau khi đất nớc đã hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối,
cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nớc. Đảng và
nhân dân ta đã cùng nhau tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội. Đảng và nhà nớc ta chủ trơng xây dựng nhà nớc xã hội chủ nghĩa,
phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập
trung, quan liêu bao cấp . Tuy nhiên, lúc đó tồn tại một quan điểm sai lầm ở nớc ta
là sự đối lập đơn giản của CNXH và CNTB, từ đó dẫn đến sự đối lập của CNXH
với kinh tế thị trờng, kiêng kỵ và không thừa nhận kinh tế thị trờng. Do đó đất nớc
ta đã gặp không ít khó khăn trong xây dựng đất nớc Trớc tình hình đó, tại hội
nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung ong đảng khoá VI đã đa ra quan điểm phát
triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH. Trong
cơng lĩnh xây dựng đất nớc thời kỳ đổi mới, quá độ lên CNXH đã khẳng định :''
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN, vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. '', coi '' chính sách kinh tế nhiều
thành phần có ý nghĩa chiến lớc lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ
nghĩa xã hội ''. Và cho đến nay, đất nớc đã trải qua 20 năm đổi mới, từ những kinh
nghiệm thực tế cũng nh lý luận, trong dự thảo báo cáo chinh trị trình Đại hội X
của đảng cũng đã khẳng định ''phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trờng định hớng CNXH. '' Cho đến bây giờ, chúng ta có thể chắc chắn
khẳng định rằn: phát triển kinh tế thị trờng ở VIệt Nam là cần thiết, khách quan do
hai cơ sở sau.
Thứ nhất, đó là tính tất yếu tồn tại nền kinh tế thị trờng trong thời kỳ quá độ
và cả trong CNXH. Kinh tế thị trờng là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao
trong đó mọi quan hệ kinh tế đều đợc biểu hiện dới hình thái hàng hoá tiền tệ. Và
ở Việt Nam có đầy đủ cơ sở khách quan của sự tồn tại, phát triển của kinh tế thị tr-
ờng. Đó là sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế tồn tại
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, do khoa học kỹ thuật phát triển,
nhiều nghành nghề mới ra đời, trong các đơn vị sản xuất cần phải hạch toán kinh
doanh và trao đổi bằng tiền tệ, quan hệ kinh tế quốc tế cúng thông qua quan hệ
tiền tệ.

tính đúng đắn.
2
II Nội Dung
I Cơ sở tồn tại của kinh tế thị trờng ở nớc ta.
1 Cơ sở lý luận
Trớc đây thịnh hành một quan điểm sai lầm đối lập một cách giản đơ chủ
nghĩa xã hội với chủ nghĩa t bản, từ đó đối lập chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa xã hội
với kinh tế thị trờng, kiêng kỵ và không thừa nhận kinh tế thị trờng. Sở dĩ nh vậy là
do hai ngyn nhân chính :
Thứ nhất, đó là do nhận thức khong đúng về điều kiện ra đời và tồn tại của
sản xuất hàng hoá. các sách giáo khoa kinh tế chính trị ở các nớc xã hội chủ nghĩa
trớc đây viết rằng : hai điều kiện ra đời và tồn tại sản xuất hang hoá là phân công
lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất. Mặt khác, lại nhấn mạnh chế độ
t hữu hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa t bản, đã nóng vội xoá bỏ ngay chế độ t
hữu. Xác lập chế độ công hữu khi lực lợng sản xuất còn lạc hậu, từ đó đi tới kết
luận sai lầm rằng vì không còn chế độ t hữu nên không còn sản xuất hàng hoá nữa.
Khi nhấn mạnh phân công lao động xã hội là điều kiện tồn tại của sản xuấ
hàng hoá. CMAC đồng thời chỉ ra rằng ''trong các công xã ở ấn độ và trong các
công xởng hiện đại, tuy lao động đã có sự phân công xã hội, nhng các sản phẩm
lao động không trở thành hàng hoá vì chỉ có sản phẩm của những lao động t nhân
độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau nh là những hàng hoá
''.
Thứ hai, do chủ quan duy ý chí nên đã hiểu sai và vận ụng không đúng một
số luận điểm của C. MAC và PH. ANGHEN. Ngời ta đã thờng trích dẫn những
luận điểm nh : chủ nghĩa cộng sản phải xoá bỏ buôn bán ;cùng với việc xã hội
nắm lấy những t liệu sản xuất thì sản xuất hàng hoá cũng bị loại trừ. Thực ra đây
là những luận điểm dự đoán về giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa cống sản,
chứ không phải nói về giai đoạn thấp của nó (tức chủ nghĩa xã hội ). Nói về giai
đoạn thấp ấy, C. MAC đã nhấn mạnh :Đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội
TBCN, do đó là một xã hội về mọi phơng diện kinh tế, đạo đức, tinh thần con ngời

tại. Quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng con đường trao đổi hàng
hoá theo cơ chế thị trường. Hơn nữa chính phát triển kinh tế hàng hoá là cách tốt
nhất để sử dụng có hiệu quả những tiềm năng kinh tế của các thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cũng dựa trên chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định,
có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác các đơn vị
kinh tế ocnfcó sự khác nhau về trình độ kĩ thuật công nghệ, về trình độ tổ chức
quản lí, nên chi phí sản xuát và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau. Các doanh
nghiệp nhà nước mặc dù đều dựa trên sở hữu toàn dân mà nhà nước là đại diện
(gọi tắt là sở hữu nhà nước )trong quan hệ kinh tế với nhau cũng đều phải thông
qua quan hệ hàng hoá tiền tệ . Mặc dù các doanh nghiệp nhà nước đều dựa trên
sở hữu nhà nước, nhưng được giao quyền sử dụng tư liệu sản xuất khác nhau, vì
vậy mà các doanh nghiệp nhà nước mang tính chất là lao động tư nhân độc lập,
không phụ thuộc vào nhau. Lao động tư nhân của mỗi doanh nghiệp nhà nước
chỉ được thừa nhận là một bộ phận của lao động xã hội khi naò mà sản phẩm của
doanh nghiệp làm ra được bán hết trên thị trường xã hội. Do nhiều nhân toó tác
động (trình độ cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ tay nghề của người lao động,
trình độ tổ chức quản lí …)mà giưa các doanh nghiệp nhà nước có sự khác nhau
về hiệu quả sản xuất kinh doanh, do vậy giữa các doanh nghiệp nhà nước có sự
khác biệt về lợi ích kinh tế, làm cho tính độc lập không phụ thuộc vào nhau của
các doanh nghiệp nhà nước càng rõ rệt. Do đó quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa các
doanh nghiệp nhà nước là cần thiết thuận lợi công bằng và hợp lí nhất.
Quan hệ hàng hoá tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc
biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu
sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các
hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Sự trao đổi ở đây phải theo
nguyên tắc ngang giá. Như vậy khi kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất
yếu khách quan thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ nó được.
3 T¸c dông cña ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ trêng
4

s nm bt v vn dng xu th vn ng khỏch quan ca kinh t th trng trong
thi i ngy nay. ng Cng sn Vit Nam trờn c s nhn thc tớnh quy lut
phỏt triển của thi i v s khỏi quỏt, ỳc rỳt t kinh nghim phỏt trin kinh t
th trng th gii, c bit l t thc tin xõy dng ch ngha xó hi Vit
Nam v Trung Quc, a ra ch trng phỏt triển nn kinh t th trng
nh hng xó hi ch ngha, nhm s dng kinh t th trng thc hin mc
tiờu tng bc quỏ lờn ch ngha xó hi. Kinh t th trng nh hng xó
hi ch ngha l mụ hỡnh kinh t trong thi k quỏ i lờn ch ngha xó hi.
õy l mt kiu kinh t th trng mi trong lch s ca kinh t th trng. Cng
cú th núi kinh t th trng l "cỏi ph bin", cũn kinh t th trng nh hng
xó hi ch ngha l "cỏi c thự" ca Vit Nam, phự hp vi iu kin v c
iểm c thể ca Vit Nam.
5
Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không
phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là
kinh tế bao cấp, quản lý theo kiÓu tập trung quan liêu; và cũng chưa hoàn toàn là
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nói Việt Nam đang ở
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa có vừa chưa có đầy đủ các yếu tố
của chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triÓn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự
tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực
của kinh tế thị trường trong việc thúc đÈy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao
động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều
của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời
phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị
trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân
hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là
sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận
Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status