VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VÕ ANH TRƯỜNG
VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VÕ ANH TRƯỜNG
VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI - 2017
Chương 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH TẠI VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM TỚI ....................................................................... 61
3.1. Xác định một số vấn đề căn bản của chính sách đào tạo, bồi dưỡng
Ngoại ngữ - Tiếng Anh làm căn cứ xây dựng giải pháp.............................. 61
3.2. Một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ngoại
ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam trong những năm tới ................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC
:Cán bộ - Công chức
CEFR
:Common European Framework of
Reference for Languages
IELTS
:International
English
Language
Quan điểm của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực có bước phát triển
qua các thời kỳ Đại hội và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ năm 1991, Đảng ta đã
chỉ rõ con người chính là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi
nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước. Đảng ta luôn đưa ra những
chiến lược phát triển con người và khẳng định sự cần thiết phải phát triển
nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của sự phát triển đất nước.
Căn cứ những thực tế đó, Đảng và Chính Phủ đã có nhiều chính sách để
nhằm phát triển chất lượng hoạt động Đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh (TA)
tại Việt Nam. Theo đó tại Quyết định số 1400/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính
phủ : Về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân giai đoạn 2008 – 2020". Đề án đã được ban hành và thực hiện trong
gần 10 năm, phần nào đã cải thiện được chất lượng giảng dạy và trình độ
1
ngoại ngữ - TA cho rất nhiều giáo viên, sinh viên, học sinh và rất nhiều cán
bộ, công chức, viên chức Nhà nước. Tuy nhiên kết thúc hơn phân nửa thời
gian thực hiện, Đề án cũng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, sai sót trong việc đặt
vấn đề, mục tiêu, cách thức thực hiện, nguồn lực và giám sát việc thực hiện
Đề án. Những vấn đề bất cập đó đã được nêu ra trong các Kết luận của Bộ
Giáo dục, Hội thảo khoa học chuyên đề và mới đây trong buổi Chất vấn của
Quốc hội khoá XIV, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phùng Xuân Nhạ đã thừa nhận
không thực hiện được các mục tiêu của Đề án vào năm 2020. Theo giải thích
của Bộ trưởng và các chuyên gia về giáo dục là trong quá trình hoạch định Đề
án và thực hiện Đề án đã có nhiều thiếu sót. Đặc biệt là trong quá trình xác
định vấn đề, đặt mục tiêu của Đề án quá cao, vượt quá tầm điều kiện giáo dục
Việt Nam, kèm theo đó là nhiều mục tiêu mơ hồ, thiếu cơ sở khoa học và
kiểm chứng để có thể đánh giá sự thành công hay thất bại của Đề án.
Từ những lý do cấp thiết nêu trên, Học viện mạnh dạn chọn đề tài
chuyên ngữ”,Tạp chí khoa học và công nghệ 4 trường đại học, số 12.
Tóm tắt: “Trong môi trường không chuyên, dạy và học ngoại ngữ là cả
một vấn đề nếu không nói là nan giải. Việc áp dụng các phương pháp giảng
dạy ngoại ngữ ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là đa dạng và nhiều lúc
chưa được định hướng rõ ràng. Dạy và học ngoại ngữ cần được xem như một
lĩnh vực khoa học và thực hành sư phạm đặc thù, là cơ sở cho việc hình thành
các phương pháp và nguyên tắc có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện
các kĩ năng kĩ xảo mà học viên chưa có hoặc thiếu. Ở đây phương tiện kĩ
thuật và sử dụng hợp lí chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, sẽ nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy và học ngoại ngữ trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động nghe, nói, đọc, viết.
Trong quá trình học và giảng dạy ngoại ngữ người học trò đóng vai trò
trung tâm. Các qui trình và phương pháp học ngoại ngữ cần được tiến hành
3
theo từng bước, nghĩa là từ suy nghĩ đến lời nói, học trúng, nhanh, nhiều và
kết hợp học có ý thức và ngẫu nhiên.”
Trần Mai Ước (2016) - “Giáo dục Việt Nam với xu thế toàn cầu hoá”,
Đại học Ngân hàng Tp. HCM.
Tóm tắt: Hội nhập toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho đất nước
phát triển, nhưng cũng đồng thời là thách thức lớn. Việt Nam tuy đã thoát
khỏi cái bẫy của nước thu nhập thấp nhưng trình độ kinh tế vẫn lạc hậu, tăng
trưởng chưa bền vững, phân tầng xã hội và chênh lệch vùng miền chưa thu
hẹp, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế kéo theo nguy cơ tụt hậu xa hơn về
giáo dục. Xuất phát từ nhận thức: yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền
vững trong bối cảnh thế giới hội nhập và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng
cũng lắm thách thức, bắt buộc nền giáo dục nước ta phải được đổi mới toàn
diện và căn bản. Có 5 nhóm giải pháp cơ bản: 01, Phát triển môi trường
pháp lý về giáo dục hoàn chỉnh theo hướng xây dựng và phát triển một nền
phát triển kinh tế - xã hội; 04, nâng cao năng lực, trình độ giám sát kiểm tra
việc thực hiện các thể chế, chế độ, chính sách, các chương trình, kế hoạch
tổng thể phát triển kinh tế xã hội; 05, nâng cao trách nhiệm và trình độ đào
tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kế cận, bảo đảm
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Văn Tất Thu (2017) -“Vấn đề Chính sách phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước – Chuyên mục Nghiên cứu, trao
đổi;
Tóm tắt: “Bài viết nêu lên 8 luận điểm về Chính sách phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam. Thứ nhất, Nguồn nhân lực chất lượng
cao là lực lượng tinh túy, quan trọng cấu thành nguồn nhân lực nhà nuớc,
nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Thứ hai,
Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công
5
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thứ ba, Để có được
nguồn nhân lực chất lượng cao có đủ trình độ, năng lực đáp ứng yêu cẩu
nhiệm vụ, Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến đầu tư đào tạo, bồi dưỡng,
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ tư, Trong từng
giai đoạn cách mạng xây dựng và phát triển đất nước cần phải có nguồn
nhân lực chất lượng cao tương thích đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn
đó. Thứ năm. Những hạn chế của việc thực hiện chính sách đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao thời gian vừa qua. Thứ sáu, Khẩn trương đào tạo,
bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
các yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc
tế. Thứ bảy, Nhà nước cần phải có chính sách đầu tư xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực này. Thứ tám, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ
có thể thành công thông qua chính sách hợp lý của Nhà nước”.
- Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại
ngữ - Tiếng Anh.
- Đánh giá việc tổ chức thực hiện các chính sách đào tạo Ngoại ngữ Tiếng Anh tại Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại ngữTiếng Anh ở Việt Nam trong giai đoạn mới của đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh
tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
7
- Về nội dung: Nghiên cứu tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại
ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam.
- Về thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng,
Nhà nước về xây dựng con người mới, nguồn nhân lực chất lượng cao và hội
nhập quốc tế. Để thực hiện đề tài, tác giả thu thập số liệu, tham khảo các tài
liệu, sách khoa học chuyên khảo, tạp chí khoa học và chuyên ngành, những
luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước về
lĩnh vực quản lý nhà nước và tài liệu trên mạng internet. Luận văn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp, tổng kết thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến
vấn đề chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam và ảnh hưởng
của chính sách này đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xác
vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của
Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản
của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc
đẩy và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định. Khái
niệm Chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là
tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các
mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của
xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền.
Cấu trúc của chính sách công gồm 3 bộ phận:
- Những đường hướng hành động ứng xử (là quan điểm và định hướng
chính sách).
- Biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách.
- Mục tiêu mà chính sách hướng tới.
Đặc trung cơ bản của chính sách công như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, cụ thể là các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách.
10
Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là
chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công không chỉ thể
hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao
gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên.
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra
trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.
Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc
giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ
sau đại học và giáo dục nghề nghiệp; có cơ chế, chính sách thu hút các nhà
giáo, nhà khoa học người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học
ở các cơ sở giáo dục đại học.
Thực hiện tốt việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức và triển
vọng đi đào tạo ở nước ngoài, chú trọng các ngành mà đất nước có nhu cầu
bức thiết; đồng thời tăng cường quản lý việc học tập, sinh hoạt của lưu học
sinh.”
Trong Nghị quyết về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào
tạo” của của Hội nghị 8, Ban Chấp hành Trung ương Khoá XI (Nghị quyết số
29-NQ/TW) có nội dung chỉ đạo: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để
phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.”
Hay trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII có nội dung: “Tiếp tục đổi
mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với
lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý
thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống
và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của
12
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của
Đảng. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng
nghiệp. Dạy Ngoại ngữ và Tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm
năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các
dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt
Nam ở nước ngoài.”
Cũng tại các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khi bàn về nội dung
xây dựng con người mới, Đảng xác định phát triển con người mới cần “phải
hướng các hoạt động văn hoá, khoa học, giáo dục vào việc xây dựng con
hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Chính phủ nhận định con
người là trọng tâm, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của công
cuộc Đổi Mới, xây dựng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Hiện nay, trong quá
trình phát triển kinh tế, Đảng và Chính phủ xem việc hội nhập quốc tế là một
hoạt động không chỉ mang tính ngoại giao mà còn là đòn bẩy, là trọng tâm
phát triển kinh tế thương mại của Việt Nam, đưa sản phẩm mang trí tuệ Việt
ra thị trường thế giới. Trên tình hình đó, chất lượng nguồn nhân lực trong
nước đang trở thành một bài toán nan giải. Việt Nam tuy là quốc gia có dân số
trẻ, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng chất lượng không cao. Đặc biệt trong vấn
đề hội nhập quốc tế, một trong những điểm yếu của nguồn nhân lực Việt Nam
là khả năng giao tiếp nói và viết tiếng nước ngoài, hay cụ thể là tiếng Anh là
rất hạn chế. Vì vậy, khi các quốc gia trên thế giới đầu tư vào Việt Nam, nhân
lực Việt Nam ít có cơ hội tiếp cận với các công việc có thu nhập cao, đa phần
là các công việc tay chân, lương thấp, giờ làm nhiều. Việc hạn chế giao tiếp,
khiến có người lao động mất khả năng đàm phán đòi quyền lợi, tiếp xúc với
các cơ hội nghề nghiệp thu nhập cao cũng như là nâng cao tay nghề thông qua
các khoá đào tạo chuyên sâu tại nước ngoài.
14
Từ một vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực mà
trọng tâm là khả năng giao tiếp ngoại ngữ - Tiếng Anh của nguồn nhân lực
Việt Nam đã thật sự trở thành một vấn đề chính trị trong nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế. Vì vậy đây đã thật sự trở thành một vấn đề cần được giải
quyết bằng công cụ chính sách.
1.1.3. Khái niệm Nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế
nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống
nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về
mà là chất lượng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí
tuệ trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có
phẩm chất tốt đẹp”. Xu hướng phổ biến trong xã hội là vai trò ngày càng tăng
của nguồn nhân lực. Trong nguồn nhân lực có sự kết hợp giữa thể lực, trí lực
và nhân cách. Ngoài ra, cái làm nên nguồn nhân lực còn là kinh nghiệm sống,
là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình,
của cộng đồng vào các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị - xã hội
và hoạt động thực nghiệm của con người. Xét theo ý nghĩa đó, nguồn nhân
lực bao gồm toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng
lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và những phản ứng của con
người trước mọi hoàn cảnh. Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của
trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh
tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng
quốc gia tới khu vực, quốc tế. Nguồn nhân lực được xem xét trên hai phương
diện: cá nhân và xã hội.
Từ các quan niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu: Nguồn nhân lực là
nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể
lực, trí lực và tâm lực của người lao động.
16
Nguồn nhân lực có thể được đánh giá được trên hai mặt chủ yếu là số
lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỉ lệ nguồn
nhân lực trong dân số; tỉ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỉ lệ tham gia lực
lượng lao động của người trong độ tuổi lao động; tỉ lệ lao động có việc làm
trong lực lượng lao động…
Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát
triển xã hội. Vì vậy khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực, trước hết phải tính
đến phương diện cá thể của nó gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức, ba
KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và
một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều
kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. KNLNNVN được
chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6
và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR). Cụ thể như sau:
VSTEP là từ viết tắt của tiếng Anh Vietnamese Standardized Test of
English Proficiency là kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh theo Khung năng
lực ngoại ngữ (NLNN) 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương với trình độ
A1, A2, B1, B2, C1,C2).
CEFR là một cách để mô tả khả năng nói và hiểu một ngoại ngữ của
bạn. Có một vài khung tham chiếu với mục đích tương tự bao gồm Quy Tắc
Thành Thạo của Hội đồng Giảng dạy Ngoại ngữ Hoa Kỳ (ACTFL), Tiêu
Chuẩn Ngôn Ngữ Canada (CLB), và thang đánh giá của Hội Bàn Tròn Các
Tổ Chức Ngôn Ngữ (ILR). CEFR không gắn với bất kỳ bài kiểm tra ngôn ngữ
cụ thể nào.
CEFR là một thang đánh giá của châu Âu và được thiết kế riêng biệt để
áp dụng cho mọi ngôn ngữ châu Âu, vì vậy nó có thể được sử dụng để mô tả
18
các kỹ năng tiếng Anh, tiếng Đức hoặc tiếng Estonia của bạn (nếu bạn biết
chúng). CEFR đặt ra sáu trình độ thành thạo ngoại ngữ khác nhau.
IELTS là viết tắt của từ International English Language Testing
System (tạm dịch: Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế) được sáng lấp bởi 3
tổ chức ESOL thuộc Đại học Cambridge, Hội đồng Anh và tổ chức giáo dục
IDP (Úc) vào năm 1989.
Theo thống kê, có hơn 500 trung tâm tổ chức thi IELTS được thành lập
tại hơn 120 quốc gia trên thế giới với hơn 1.000.000 thí sinh dự thi mỗi năm.
Chính vì vậy, IELTS là kì thi tiếng Anh chuẩn hóa quốc tế uy tín nhất hiện
này và cũng là điều kiện bắt buộc khi nhập cư, tìm việc hoặc du học tại các
là một trong những công cụ hữu hiệu, đóng vai trò to lớn trong việc giúp bạn
bè năm châu hiểu được tiếng nói của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc
tế.
Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào
tạo và trong sự phát triển của đất nước. Nói chung, không những vì biết ngoại
ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quy
trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết ngoại ngữ còn là một
năng lực cần thiết đối với người Việt Nam hiện đại.
Trong khu vực ASEAN, Singapore nổi lên như 1 điển hình thành công
về chính sách đa ngôn ngữ, trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ chủ đạo. Đây
cũng là một trong những yếu tố quyết định tạo nên “quyền lực mềm” của
quốc đảo xinh đẹp trong kinh tế và chính trị quốc tế. Người dân Singapore
được đánh giá là có kỹ năng sử dụng tiếng Anh tốt nhất châu Á. Học sinh
Singapore đều được học tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ ngay từ bậc Tiểu học. Nhờ
đó, người dân Singapore không chỉ có được kỹ năng ngôn ngữ mà còn mở ra
20