VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
CẤU TRÚC PHẦN ĐỌC HIỂU
TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA
Phần đọc hiểu chiếm 3/10 điểm trong đề thi THPTQG môn Ngữ văn với 2 văn bản
và 8 ý hỏi.
Năng lực đọc hiểu của học sinh đang được coi trọng, nhất là từ năm học 2013 2014, các đề thi cấp quốc gia (tốt nghiệp, đại học) đều có một phần bài tập kiểm tra
đánh giá năng lực này.
Xu hướng kiểm tra đánh giá mới là thay vì kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những
kiến thức của học sinh (kiến thức do giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ), thì các đề
thi kể từ năm học 2013 - 2014 chuyển sang kiểm tra năng lực đọc hiểu của học
sinh, năng lực tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản.
Phần kiểm tra đánh giá này chiếm điểm trong đề thi THPT quốc gia với 2 văn bản
và 8 câu hỏi nên chúng ta phải có sự chuẩn bị tốt về kiến thức và kĩ năng để có thể
đạt điểm cao.
Cấu trúc của một đề bài kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu như sau:
Phần 1: Đưa ra một văn bản (văn bản văn học hoặc văn bản nhật dụng, văn xuôi
hoặc thơ, có thể là một văn bản hoàn chỉnh hoặc một đoạn trích…)
Phần 2: Đưa ra các câu hỏi theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: từ nhận
biết -> thông hiểu -> vận dụng thấp -> vận dụng cao.
- Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu thí sinh chỉ ra các phương thức biểu đạt,
phong cách chức năng ngôn ngữ, các hình thức ngôn ngữ, biện pháp tu từ, thao tác
lập luận, kiểu liên kết hay các lỗi diễn đạt... trong văn bản.
- Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn bản
hay một câu, một đoạn trong văn bản.
- Câu hỏi vận dụng thấp thường yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay việc
sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ... trong văn bản.
- Câu hỏi vận dụng cao thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ hoặc liên
hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp).
Bài tập ngữ văn 12, Tập 1, NXB giáo dục Việt Nam, 2014, tr 36-37)
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện
nay?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “ Chỉ lo túi tiền rỗng đi
nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn khô héo dần “? (Trình bày
khoảng 5 đến 7 dòng)
Trong đề bài trên: các câu hỏi 1, 5 là câu hỏi nhận biết; các câu 2, 6,7 là câu hỏi
thông hiểu; câu 3 có yêu cầu ở mức độ nhận biết và thông hiểu; câu 4 và 8 là các
câu hỏi vận dụng cao.
=> Đáp án:
Câu 1: Đoạn thơ viết theo thể thơ tự do.
Câu 2: Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua
những từ ngữ, hình ảnh "trần trụi giữa trời", "lều bạt", "gian nan", "có người ngã
trước miệng cá mập", "có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn".
Câu 3: Câu thơ sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp của
những hòn đảo và thể hiện niềm tự hào về biển đảo quê hương.
Câu 4: Bày tỏ tình cảm chân thành, sâu sắc với những người lính đảo.
Câu 5: Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
Câu 6: Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là do
bệnh vô cảm và sự xuống cấp nghiêm trọng về ý thức nhân văn.
Câu 7: Tác giả bộc lộ thái độ lo lắng, băn khoăn, trăn trở trước hiểm họa bệnh vô
cảm.
Câu 8: Bày tỏ thái độ không đồng tình với những người “Chỉ lo túi tiền rỗng đi
nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn khô héo dần”, phê phán lối