Tiểu thuyết garganchuya (rabơle) từ góc nhìn thi pháp thể loại - Pdf 46

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

TIỂU THUYẾT GARGANCHUYA (RABƠLE) TỪ
GÓC NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

TIỂU THUYẾT GARGANCHUYA (RABƠLE) TỪ
GÓC NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hƣng

Hà Nội - 2016



Ngƣời viết luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nhung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 3
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 6
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu ............................................ 10
4. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 10
5. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 11
NỘI DUNG ......................................................................................................... 12
Chƣơng 1: TIỂU THUYẾT GARGANCHUYA TRONG DÕNG CHẢY
VĂN HỌC PHỤC HƢNG................................................................................. 12
1.1. Vài nét về thi pháp tiểu thuyết và văn học Phục hƣng ......................... 12
1.1.1. Vài nét về thi pháp tiểu thuyết ............................................................ 12
1.1.2. Khái lược về thời đại Phục hưng và nền văn học thời Phục
hưng 19
1.1.2.1. Khái lược về thời đại Phục hưng .................................................... 19
1.1.2.2. Khái quát về nền văn học Phục hưng............................................. 25
1.2. Vị trí của tiểu thuyết Garganchuya và tác giả Frăngxoa Rabơle
trong dòng chảy văn học Phục hƣng ............................................................... 30
1.2.1. Frăngxoa Rabơle – người đưa ma một thế giới đã lỗi thời bằng
tiếng cười vui vẻ............................................................................................... 30
1.2.2. Vị trí của tiểu thuyết Garganchuya trong dòng chảy văn học
Phục hưng.... ................................................................................................... 33
Chƣơng 2: CÁC PHƢƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT TỪ GÓC
NHÌN LOẠI HÌNH ............................................................................................... 41
2.1. Giới thuyết về nhân vật tiểu thuyết .......................................................... 41

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 125

2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thời đại Phục hƣng là “bƣớc ngoặt tiến bộ, vĩ đại nhất, từ trƣớc đến bây
giờ loài ngƣời chƣa từng thấy”[9; 56] làm thay đổi mọi mặt kinh tế, chính trị xã hội, tôn giáo, tƣ tƣởng và tinh thần châu Âu. Cuộc vận động tƣ tƣởng và
văn hóa Phục hƣng đã để lại những mùa hoa trái tốt tƣơi, phong phú vô cùng.
Nó làm cho châu Âu, đặc biệt là Tây Âu nhƣ bừng thức dậy sau “đêm trƣờng
Trung cổ”, đƣa những nƣớc này tiến nhanh, tiến mạnh vào lịch sử cận đại.
Văn hóa Phục hƣng vì vậy đƣợc thừa nhận là một trong những nền văn hóa
rực rỡ của loài ngƣời. Nhắc đến văn học Phục hƣng, chúng ta không thể
không kể đến những tác phẩm lớn nhƣ Truyện mười ngày (Boccacio), Thần
khúc (Dante), Don Quixote (Miguel de Cervantès), Hamlet (William
Shakespeare), Gargantua và Pantagruel (Francois Rabelas)…Bằng tài năng
nghệ thuật, năng lực sáng tạo, cảm quan nhạy cảm với thời cuộc, những con
ngƣời trên đã thành công trong việc đƣa nền văn học chuyển mình, họ đã thắp
lên những ngọn lửa mới, những tƣ tƣởng mới, những nét đột phá về nghệ
thuật trong nền văn học. Văn học Phục hƣng đề cao sức mạnh, khả năng của
con ngƣời, nó lên án một cách gay gắt nền luân lí đạo đức phong kiến đã tỏa
chiết đời sống tâm hồn và tình cảm của con ngƣời. Bàn về con ngƣời,
Shakespeare đã có lúc ngất ngây ca ngợi: “…kỳ diệu thay là con ngƣời. Con
ngƣời cao quý làm sao về lý trí, vô tận sao về năng khiếu!”. Văn học Phục
hƣng đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh để giải phóng con ngƣời ra
khỏi chế độ phong kiến Trung Cổ và mở đƣờng cho những hệ tƣ tƣởng mới
phát triển. Thời đại Phục hƣng là “bức màn bí ẩn”, là đề tài nghiên cứu đáng
quan tâm nếu chúng ta muốn có những đánh giá đúng nhất về thời kì văn học

Sorbonne xếp vào “sổ đen”. Thành công của Francois Rabelais trong
Garganchuya không chỉ ở nội dung với những những tƣ tƣởng, triết lí sâu sắc

4


mới mẻ, thâm thúy mà còn ở sự điêu luyện trong nhiều phƣơng diện thi pháp
biểu hiện. Garganchuya là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phƣơng pháp sáng
tác văn học thời Trung cổ và ý thức sáng tạo của nhà văn.
Garganchuya là đại diện tiêu biểu cho văn học Phục hƣng và bản dịch
Tiếng Việt đƣợc xuất bản tại Việt Nam vào năm 1983. Tuy nhiên, cho đến
này tác phẩm này vẫn là một mảnh đất màu mỡ, ẩn chứa nhiều bí ẩn, hấp dẫn
cho các tiếp cận, nghiên cứu.
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định triển khai đề tài Tiểu thuyết
Garganchuya từ góc nhìn thi pháp thể loại mong góp một phần nhỏ vào
hành trình khám phá bí ẩn về của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này.
Trƣớc khi triển khai đề tài, chúng tôi muốn nói một chút về tên của tác
phẩm Garganchuya. Cuốn tiểu thuyết này trong tiếng Anh có tên đầy đủ là
The Very Horrific Life of Great Gargantua, Father of Pantagruel; tên tiếng
Pháp là La vie très horrifique du grand Gargantua, père de Pantagruel (nghĩa
là Tiểu sử tối kinh khủng của Gargăngchuya vĩ đại, cha của Păngtagruyen –
theo bản dịch của Tuấn Đô). Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, tên ngắn gọn của
tiểu thuyết này đều là Gargantua. Trong quá trình chuyển ngữ, nghiên cứu tại
Việt Nam, tên của cuốn sách này đƣợc phiên âm theo nhiều cách khác nhau.
Tuấn Đô, dịch giả đầu tiên và duy nhất của hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên của
Rabơle tại Việt Nam, chuyển ngữ Gargantua thành Gargăngchuya. Từ điển
văn học (Bộ mới), Gargantua đƣợc ghi thành Gacgăngchuya. Trong bài viết
Nhân vật nghịch dị trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam, ThS Huỳnh Thu
Hậu có viết Gargantua thành Gargangchuya. Nhƣ vậy, mỗi tác giả, mỗi văn
bản lại có cách viết khác nhau cho tên tiểu thuyết Gargantua khi chuyển tên

Tiếp theo đó là các nhận thức về tinh thần thời đại. Tƣ tƣởng nhân văn
là tƣ tƣởng cơ bản của thời kì Phục Hƣng, là yếu tố then chốt tạo ra giá trị cho
các tác phẩm văn học nghệ thuật thời kì này. Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm
6


của một thời kì lịch sử- cụ thể, thời kì Phục Hƣng, thời kì khổng lồ, thời kì
bƣớc ngoặt. Nó là sự kết tinh cao nhất tinh thần thời đại. Trong bài viết chủ
nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội của nhà nghiên cứu V.P.Vôn- ghin đã đƣa
ra nhận định: “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan điểm đạo đức và
chính trị bắt nguồn không phải từ các gì siêu nhiên, kì ảo, từ những nguyên lí
ngoài đời sống của nhân loại mà từ đời sống của con ngƣời tồn tại trên mặt
đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó và những
nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải phát triển đầy đủ, phải đƣợc thỏa
mãn” [3;11]. Với niềm tin mãnh liệt nhƣng ngây thơ, đầy tính lí tƣởng và
mộng mơ, các nhà nhân văn chủ nghĩa hi vọng sẽ tạo ra đƣợc một xã hội mới.
Nhƣng họ quên rằng khi phế bỏ quyền sở hữu phong kiến thì giai cấp mới đó
là giai cấp tƣ sản cũng sẽ xác lập quyền sở hữu của nó một cách “trắng trợn
hơn, công nhiên hơn và vô liêm sỉ” hơn. Do vậy, sang thế kỉ thứ XVI khi giai
cấp tƣ sản đã có một vài chỗ đứng chân, đặc biệt khi đồng tiền tƣ sản đã bắt
đầu bộc lộ sức mạnh và bản chất của nó thì chủ nghĩa nhân văn lâm vào tình
trạng khủng hoảng. Thomat Môrơ (Thomas More) trong quyển Không tưởng
(Utopie) đã thừa nhận “con đƣờng duy nhất để mƣu cầu hạnh phúc cho xã hội
là thừa nhận nguyên lí bình đẳng về mặt của cải. Nhƣng bình đẳng và tƣ hữu
là những cái không thể dung hòa nhau đƣợc” [3; 14] cuối cùng nó rơi vào tình
trạng khủng hoảng là điều không thể tránh khỏi. Đứng trƣớc thời thế “đảo lộn
tiến bộ” trên, Sếchxpia viết kịch nhằm để diễn, để “chìa ra một tấm gƣơng tự
nhiên nhằm làm cho đạo đức thấy hình ảnh của nó, thói vô đạo đức tự biết
khinh bỉ và mỗi thế kỉ, cả thời đại có thể nhận ra tính cách bộ mặt của
nó”[6;198]. Còn Rabơle thì chế giễu, đả kích, lên án thế giới Trung cổ, phong

công trình quy mô lớn nhất về tiểu thuyết Garganchuya và Păngtagruyen mà
độc giả Việt Nam đƣợc tiếp nhận. Nhà khoa học nhân văn, nhà lý luận phê

8


bình văn học lỗi lạc của thế kỉ XX, M.M.Bakhtin là nhà nghiên cứu đầu tiên
đã cắt nghĩa và giải mã đƣợc văn hóa hài dân gian trong tiểu thuyết của
Rabơle. Toàn thế giới công nhận cuốn sách này không chỉ nhƣ một sự kiện
lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu và kiến giải Rabơle, mà còn là một công
trình kiệt xuất về lý luận và triết học văn hóa nhân loại. Bakhtin đã lột tả đặc
trƣng thẩm mỹ của tiếng cƣời Rabơle, phân tích ý nghĩa mỹ học và triết học
của tiếng cƣời hội hè dân gian đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tiếng
cƣời ấy với nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hƣng. Ngoài ra, Bakhtin
còn có bài nghiên cứu Rabelais và Gogol: Nghệ thuật ngôn từ và văn hóa
trào tiếu dân gian đƣợc Từ Thị Loan dịch. Trong bài này, M. Bakhtin sử dụng
sáng tác của Rabơle nhƣ chiếc chìa khóa giải nghĩa các yếu tố văn hóa trào
tiếu dân gian của Gogol.
Là tác phẩm nổi bật của thời đại Phục hƣng Pháp, vì thế Garganchuya
nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của giới phê bình. Ở nƣớc ngoài có nhiều bài
phê bình và các công trình nghiên cứu về tác phẩm này bằng tiếng Anh, tiếng
Trung. Có thể kể tới nhƣ:
 Ambiguity, Detachment, and Joy in "Gargantua" (1976), Ian R.
Morrison, The Modern Language Review, Vol. 71, No. 3, pp. 513-522.
 Comic elements in Rabelais' Pantagruel and Gargantua (1993),
Damianides, Effie A.
 On the Relation between Gargantua and Pantagruel and the
Literature of Chivalry (2011), ZHANG Cheng-jun, Xuzhou Normal
University.
 Study of Grotesque Imagery: A Case Study of Gargantua and

- Phƣơng pháp phân tích: Chúng tôi sẽ phân tích, tìm hiểu các đặc
điểm về nhân vật, ngôn ngữ, thời gian, không gian, kết cấu…trong tác phẩm.

10


- Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa – lịch sử (trƣờng phái có từ Hippolyte
Taine): Chúng tôi sẽ tận dụng những kiến giải hữu lý của Taine về các yếu tố
chủng tộc – Môi trƣờng – Thời đại chi phối sự xuất hiện và nội dung hình
tƣợng tác phẩm.
5.

Cấu trúc luận văn

Luận văn này của chúng tôi có cấu trúc đƣợc chia làm ba phần gồm: mở
đầu, nội dung và kết luận.
Riêng phần nội dung, chúng tôi triển khai đề tài thành ba chƣơng cụ thể
nhƣ sau:
Chƣơng 1: TIỂU THUYẾT GARGANCHUYA TRONG DÕNG CHẢY
VĂN HỌC PHỤC HƢNG
Chƣơng 2: CÁC PHƢƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT TỪ GÓC
NHÌN LOẠI HÌNH
Chƣơng 3: THI PHÁP KẾT CẤU VÀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN – THỜI
GIAN NGHỆ THUẬT

11


NỘI DUNG
Chƣơng 1: TIỂU THUYẾT GARGANCHUYA TRONG DÕNG CHẢY



thời gian đấu tranh chống lại các tín điều của thi pháp cổ điển nhằm khẳng
định tinh thần nghệ thuật mới. Khi thi pháp học truyền thống bắt đầu trở nên
giáo điều, kinh viện, sự phát triển và vận động của văn học không chấp nhận
sự soi sáng của hƣớng nghiên cứu này trong đời sống của nó nữa thì thi pháp
học đã chọn con đƣờng thay đổi để khẳng định vị trí của mình một lần nữa.
Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn luận thi pháp học đã gọi đó là thi pháp học
hiện đại để phân biệt với thi pháp học truyền thống. Nhà nghiên cứu này cũng
đƣa ra một loạt những ƣu điểm nổi trội hơn hẳn của hƣớng nghiên cứu theo
thi pháp học hiện đại so với thi pháp học truyền thống. Thi pháp học hiện đại
luôn chú ý quan sát bản chất sáng tạo của chủ thể. Thi pháp học hiện đại xem
nghệ thuật nhƣ một tổ chức siêu tổng cộng nhằm xem xét nghệ thuật trong
tính cấu trúc, chỉnh thể, hệ thống. Thi pháp học hiện đại quan tâm đến việc
đặt nghệ thuật trong hoàn cảnh lịch sử văn hóa sản sinh ra chúng, đến việc
đọc và giải mã văn bản.
Trải qua một thời kì phát triển lâu dài, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa
ra quan điểm, định nghĩa về thi pháp học. Viện sĩ M.Khrápchencô cho rằng
thuật ngữ poetika cần đƣợc hiểu theo hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là các nguyên
tắc thi pháp vốn tồn tại trong văn học và nghĩa thứ hai là khoa học nghiên cứu
về thi pháp. Viện sĩ Avêrinxép thì cho rằng: “Thi pháp là hệ thống những
nguyên tắc sáng tạo của một tác giả, một trƣờng phái, hay cả một thời đại văn
học, tức là những gì mà nhà văn nào cũng sáng tạo ra cho mình, bất kể là có ý
thức tự giác hay không. Một thi pháp nhƣ thế đã tồn tại rất lâu đời trong văn
học, hàng nghìn năm trƣớc khi có Aristote”. Nhà lí luận văn học ngƣời
NgaV.Girmunxki: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với
tƣ cách là một nghệ thuật”. Viện sĩ V.Vinôcrađốp nói rằng: “Thi pháp học là
khoa học nghiên cứu về các hình thức, các dạng thức, các phƣơng tiện, các
phƣơng thức tổ chức tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và



14


đại tan rã và văn học cổ đại suy tàn. Cá nhân con ngƣời lúc ấy không còn thấy
lợi ích và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại nữa,
nhiều vấn đề của cuộc sống riêng tƣ đặt ra gay gắt. Bêlinxki khi phân tích về
nguồn gốc tiểu thuyết đã viết rằng: “Tiểu thuyết bắt đầu phát sinh từ lúc vận
mệnh con ngƣời, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân đƣợc ý thức.
Vì vậy đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh
hùng ca Hi Lạp nhƣng có thể là nội dung của tiểu thuyết”. Xã hội ngày càng
biến động và chính điều đó là mảnh đất thuận lợi và màu mỡ cho những hạt
giống đầu tiên của tiểu thuyết phát triển. Sự ra đời của Đônkihôtê,
Garganchuya…đã đƣa tiểu thuyết thời kì Phục hƣng (thế kỉ XIV-XVI) sang
một trang mới. Thế kỉ XIX đã trở thành thời đại hoàng kim của tiểu thuyết với
sự xuất hiện của các cây bút bậc thầy nhƣ Stendhal, Banzal, Gogol,
L.Tolsoi…Bằng tài năng nghệ thuật của mình, các nhà văn xuất sắc của chủ
nghĩa hiện thực phê phán đã tạo nên những mẫu mực hoàn thiện của thể loại.
Sang thế kỉ XX, trào lƣu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng tạo nên
nhiều

nhà

tiểu

thuyết

lớn

nhƣ

việc khái quát quá trình hình thành và chặng đƣờng phát triển của tiểu thuyết,
ta thấy tiểu thuyết luôn có sự vận động, phát triển đi lên gắn với sự tiến lên
của xã hội loài ngƣời và chính những gì diễn ra trong xã hội loài ngƣời đã tạo
nên những đặc điểm của tiểu thuyết.
Theo quan niệm của M.Bakhtin, tiểu thuyết là “thể loại văn chƣơng duy
nhất đang hình thành và chƣa xong xuôi” [22; 21]. Ông ví sự hình thành và
phát triển của tiểu thuyết “đang diễn ra dƣới ánh sáng ban ngày của lịch sử,
bộ xƣơng của tiểu thuyết chƣa hoàn toàn cứng cáp, chúng ta không dự đoán
đƣợc tạo hình của nó”. Xoay quanh khái niệm “tiểu thuyết”, giới nghiên cứu
trong nƣớc và nƣớc ngoài cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau. Tác giả của
cuốn Đỏ và đen coi “Tiểu thuyết là mảnh đất lƣu giữ hình bóng cuộc đời” hay
“tấm gƣơng đi rong trên đƣờng cái, nó phản chiếu cả sắc thanh thiên của bầu
trời lẫn rác rƣởi bên trong”. Tiểu thuyết gắn liền với từng hơi thở phập phồng
của cuộc sống, tiểu thuyết gắn liền với cả mặt xấu và tốt của con ngƣời, của
cuộc đời.
Banzal gọi tiểu thuyết là “lời nói hƣ cấu trang nghiêm”. Warren, Wellek
nói: “Văn học mang tính tƣởng tƣợng thì gọi là tiểu thuyết (fiction), là hƣ
cấu”, “toàn bộ hiện thực mà tiểu thuyết thể hiện gọi là ảo giác của hiện thực”
“các nhà tiểu thuyết vĩ đại đều có một thế giới riêng của mình, mọi ngƣời có

16


thể từ đó mà thấy đƣợc toàn thế giới, thấy đƣợc sự trùng hợp với kinh nghiệm
của mình”[21;237-238]. Susanne K.Langer nói: “Tiểu thuyết là loại hình văn
học phong phú nhất, đặc điểm phồn tạp nhất, lƣu hành rộng rãi nhất, nhƣng
nó lại là hiện tƣợng xuất hiện tƣơng đối muộn, hình thức nghệ thuật vẫn đang
phát triển, kết cấu hoàn toàn mới và thủ pháp nghệ thuật của nó khiến các nhà
phê bình cảm thấy kinh ngạc [20;334].
Phạm Quỳnh khi Khảo về tiểu thuyết cho rằng: “Nay cứ lý hội các tính

Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự có dung lƣợng lớn, là thể loại đƣợc sử dụng
để sáng tác phổ biến ở thời kì cận đại và hiện đại. Với sự phong phú trong
hình thức trần thuật, tác phẩm tiểu thuyết có khả năng miêu tả một cách toàn
vẹn lịch sử của nhiều mảnh đời, có sức tái hiện xã hội chân thực và sống động
trên nhiều phƣơng diện theo thế giới quan, cách nhìn nhận cuộc sống của nhà
văn.
Tiểu thuyết khắc họa hình ảnh về con ngƣời xã hội với tƣ cách cá nhân, tự
đƣơng đầu với thế giới tự nhiên và xã hội. Nhân vật trong tiểu thuyết đƣợc soi
chiếu dƣới mọi góc độ từ vẻ ngoài cho đến nội tâm bên trong một cách sinh
động và phong phú, có sức khơi gợi trong suy tƣởng của độc giả về con ngƣời
trƣớc những mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội.
Thế giới trong tiểu thuyết chính là hình ảnh phản chiếu của thực tại, chỉ
khác là cái thế giới ấy cũng những diễn tiến của những mối quan hệ phức tạp
trong đó phần nào mang một ít chủ kiến của ngƣời viết để nhằm diễn tả những
ý đồ, tƣ tƣởng của bản thân. Mỗi cá nhân là một tâm trạng, một cuộc đời riêng
với những cảm xúc, nhân cách đƣợc thể hiện một cách rõ ràng qua cách hành
xử của họ trƣớc những sự kiện gặp phải trong cuộc đời. Từ đó, những góc
khuất trong tâm tƣ, tình cảm cá nhân đƣợc triển khai một cách triệt để. Bạn
đọc sẽ khám phá đƣợc nhiều điều hơn về giá trị tâm hồn của con ngƣời qua
mỗi trang tiểu thuyết.

18


Nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết cụ thể tức là xem xét các yếu tố tổ chức
hình thức của thể loại này nhƣ nhân vật, kết cấu, thời gian và không gian nghệ
thuật. Đây cũng là những yếu tố chúng tôi tập trung phân tích trong luận văn
nhằm đạt sự thông hiểu cuốn tiểu thuyết Garganchuya từ góc nhìn thi pháp
thể loại.
1.1.2.

thành nơi khởi phát cho phong trào văn hóa Phục hƣng.
Năm 1453 một sự kiện lịch sử trọng đại diễn ra góp phần đƣa nền công
nghiệp châu Âu bƣớc thêm một bƣớc tiến mới. Sự kiện Thổ Nhĩ Kỳ tấn công
và chiếm đóng thành công thành Côngxăngtinốp làm cho con đƣờng thông
thƣơng giữa châu Âu và phƣơng Đông bị gián đoạn. Việc buôn bán trở nên
khó khăn vì thiếu thị trƣờng, do đó nhu cầu tìm kiếm thị trƣờng mới của các
quốc gia tăng lên. Từ đó, việc tìm kiếm thị trƣờng mới lần lƣợt đƣợc thực
hiện để phục vụ cho nhu cầu buôn bán, ngƣời mở đầu những cuộc phát kiến ở
Tây Ban Nha là Chirstopher Colombus (1451 - 1506) ngƣời Italia đã khám
phá ra Châu Mỹ, ngoài ra còn có hàng loạt những cuộc tìm kiếm khác. Sự
biến động đó là yếu tố cách mạng tạo đà cho quá trình tích lũy nguyên thủy tƣ
bản chủ nghĩa.
Bên cạnh đó thời kỳ này còn có hàng loạt các phát minh khoa học đã đạt
đƣợc những thành tựu quan trọng nhƣ: nấu thép, nghề in, các kiến thức về
thiên văn học, địa lý…Tiêu biểu nhƣ Nikolai Kopernik (1473 - 1543) nhà bác
học và triết học Ba Lan, ông đã chứng minh Trái Đất luôn quanh xung quanh
Mặt Trời và xung quanh trục của nó. Học thuyết của Kopernik đã lật đổ
những giáo lý của nhà thờ cho quả đất là trung tâm của thế giới. Ông còn phát
triển quan điểm duy vật về vũ trụ, cho vũ trụ là vật chất vô tận, tự chuyển
động theo quy luật riêng của nó. Còn Giodano Bruno (1548 - 1600) đã bảo vệ
quan điểm của Kopernik, cho rằng vũ trụ là vô tận, mặt trời là trung tâm của
Thái Dƣơng hệ. Ông còn khẳng định vật chất vận động biến đổi không ngừng
và tồn tại mãi mãi. Gallileo Gallilei (1564 - 1642) có nhiều phát minh về cơ
học và thiên văn học. Ông là ngƣời đầu tiên dùng kính viễn vọng để quan sát
bầu trời, giải thích đƣợc cấu tạo của sao chổi, phát hiện ra định luật rơi thẳng

20


đứng và dao động của các vật thể. Về triết học duy vật cũng có nhiều bƣớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status