Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức từ thực tiễn huyện hóc môn, thành phố hồ chí minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ BÌNH

TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ BÌNH

TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THẾ TÂM


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG
CHỨC, VIÊN CHỨC ................................................................................................8
1.1. Một số khái niệm ................................................................................................................ 8
1.2. Đặc điểm, vai trò và mối quan hệ giữa trách nhiệm kỷ luật với các hình thức trách
nhiệm khác................................................................................................................................ 11
1.3. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản
Việt Nam về trách nhiệm kỷ luật ............................................................................................ 13
1.4. Yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức.................... 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM
KỶ LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM
KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................................................ 29
2.1.Thực trạng pháp luật hiện hành về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức .................................................................................................................. 29
2.2. Sơ lược tình hình công chức, viên chức huyện Hóc Môn…………………..... 38
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ở
huyện Hóc Môn........................................................................................................................ 41
2.4. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ở
huyện Hóc Môn........................................................................................................................ 48
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ............ 54
3.1. Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ................. 54
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với
công chức, viên chức .................................................................................................56
3.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với
công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. .................................... 67



Nghị quyết

NXB

Nhà xuất bản

NXB.CTQG,H

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội

PGS.TS

Phó Giáo sư. Tiến sĩ



Quyết định



Quy định

SL

Sắc lệnh

TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh


42

Bảng 2.2:

Kết quả xử lý kỷ luật viên chức ..................................

43

Biểu đồ 2.1: Kết quả xử lý kỷ luật công chức (2011-2017)............

43

Biểu đồ 2.2: Kết quả xử lý kỷ luật viên chức (2011-2017).............

44


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, kỷ luật làm nên sức mạnh của tổ chức. Vai trò
của kỷ luật chỉ được phát huy khi mỗi thành viên tự giác chấp hành kỷ luật. Nếu cán
bộ, đảng viên không tự giác tuân thủ kỷ luật và pháp luật, thì dù kỷ luật và pháp luật
có nghiêm minh đến mấy, những “mệnh lệnh bên ngoài” ấy cũng không thể chuyển
hóa thành những “mệnh lệnh bên trong”, không thể tạo nên động lực thúc đẩy cán
bộ, đảng viên tận tụy vì công việc.
Sinh thời, Hồ Chí Minh là người thực sự tôn trọng nhân dân và thượng tôn
pháp luật, nên ngay sau khi giành chính quyền, Người đã rất quan tâm tới việc thiết
lập kỷ cương phép nước.
Những ngày đầu giành chính quyền, mới chỉ có Hiến pháp chứ chưa được cụ

pháp khác nhau như giáo dục, xây dựng chế độ cho công chức, viên chức, tổ chức,
đào tạo và đương nhiên không thể thiếu biện pháp trách nhiệm kỷ luật. Trách nhiệm
kỷ luật là biện pháp cưỡng chế của nhà nước áp dụng đối với công chức, viên chức
để duy trì trật tự hoạt động của bộ máy nhà nước.
Vấn đề trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức đã được một số tác
giả nghiên cứu và khái quát trong các giáo trình Luật hành chính của Trường Đại
học Luật Hà Nội, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; một số khía cạnh
của vấn đề được thể hiện trong các bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu. Qua đó
cho thấy việc nghiên cứu trách nhiệm kỷ luật công chức, viên chức là hết sức cần
thiết bởi các lý do sau:
- Kỷ luật công chức, viên chức đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của hoạt
động bộ máy nhà nước.
- Tính nghiêm minh trong chấp hành pháp luật, chấn chỉnh kỷ cương, tuân
thủ kỷ luật hành chính trong đội ngũ công chức, viên chức.
- Bảo vệ quyền lợi chính đáng của công chức, viên chức.
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm kỷ luật công chức,
viên chức phù hợp thực tế và xu hướng phát triển của đất nước.
- Cụ thể hóa chủ trương cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2


Từ các lý do trên, tôi chọn đề tài “Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức,
viên chức từ thực tiễn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng trách nhiệm kỷ luật công
chức, viên chức tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và đưa ra
một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tác động và thực hiện pháp luật
về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức trong thời gian tới của dịa
phương.

- Nguyễn Quốc Khánh “Bao giờ hết thời hiệu xử lý kỷ luật công chức, viên
chức” http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm, 08/7/2017.
Các công trình nghiên cứu có liên quan đã giải quyết những vấn đề về chế
định trách nhiệm kỷ luật, các yếu tố cấu thành, các quy định của pháp luật về trách
nhiệm kỷ luật qua từng giai đoạn để tác giả tiếp thu giải quyết vấn đề lý luận và
nghiên cứu thêm về những yếu tố ảnh hưởng đến thực tế thực hiện pháp luật về
trách nhiệm kỷ luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận về
trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức; đánh giá thực trạng thực hiện quy
định pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc
Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy
định của pháp luật, tăng tính hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối
với công chức, viên chức; bảo đảm việc thực hiện tốt hơn quy định pháp lý này
trong thực tiễn, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài chủ yếu có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức; đặc
điểm; các hình thức trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức; vai trò của
trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức trong quản lý hành chính nhà
nước.
- Phân tích cơ sở pháp lý, thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn hiện nay, bước đầu xác định

4


những nguyên nhân mặt tích cực và hạn chế của thực trạng đó.



Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp
để nghiên cứu các quy định pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức,
viên chức. Sử dụng phương pháp so sánh để phân biệt trách nhiệm kỷ luật giữa
công chức với viên chức. Sử dụng phương pháp thống kê để tìm hiểu việc áp dụng
hình thức kỷ luật trong thực tế.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa lý luận
Lý giải một cách có cơ sở khái niệm trách nhiệm kỷ luật công chức, viên
chức gồm hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Trong giới hạn nghiên cứu, làm sáng
tỏ hơn khái niệm, đặc điểm, vai trò trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức; các hình thức kỷ luật và tương quan giữa trách nhiệm kỷ luật đối với công
chức, viên chức với trách nhiệm chính trị đạo đức và với các biện pháp tác động xã
hội khác.
Đưa ra được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đối với trách nhiệm kỷ luật đối với công chức,viên chức.
Đánh giá một cách tương đối toàn diện các quy định pháp luật về trách
nhiệm kỷ luật công chức, viên chức cũng như thực trạng vi phạm trách nhiệm kỷ
luật của công chức, viên chức và thực tiễn áp dụng trách nhiệm kỷ luật đối với công
chức, viên chức vi phạm.
Đề xuất được những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức và những giải pháp bảo đảm việc
thực hiện trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức trong thực tiễn xây dựng
bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh toàn diện.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết luận và kiến nghị của đề tài có ý nghĩa thực tiễn trong việc góp
phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm kỷ luật đối với
công chức, viên chức. Đồng thời nội dung đề tài có thể được sử dụng làm tư liệu
nghiên cứu phục vụ quá trình quản lý, sử dụng công chức, viên chức theo hướng


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT
ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm công chức
Theo quan điểm chung, công chức được hiểu là những công dân được tuyển
dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách Nhà nước
trả lương.
Nước Pháp quy định: “Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc
thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong
thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các
công sở Nhà nước” (Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của
Pháp năm 1994) [20, tr.103]. Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3 loại: công
chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức
trực thuộc các công sở tự quản.
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ, công
chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản
lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng công chức; viên chức.
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2000, thì công chức
được hiểu là: “người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên
trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [16, tr.207].
Theo từ điển hành chính, nhà xuất bản Lao động - xã hội năm 2003 của tác giả Tô
Tử Hạ, công chức được hiểu là: “Người phải có đủ các điều kiện: tuyển dụng qua
thi tuyển; được bổ nhiệm chính thức vào một ngạch; làm việc trong một công sở;
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức nước nào phải là
công dân nước đó. Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam được tuyển dụng qua
thi tuyển” [19, tr66].
Trong các văn bản pháp luật của Nhà nước quan niệm về công chức qua các

làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Và “trách nhiệm
là phải bảo đảm làm tròn những sự việc được giao cho. Nếu kết quả không tốt thì
phải gánh chịu hậu quả”.
Kỷ luật theo góc nhìn khách quan là toàn bộ các quy tắc hành vi trong hoạt
động của công chức, viên chức do nhà nước ban hành, chứa đựng các quy định về:
hành vi được thực hiện, cấm thực hiện; khuyến khích và xử phạt trong thực hiện
hành vi. Kỷ luật theo góc nhìn chủ quan là sự tuân thủ, sử dụng, thi hành, áp dụng

10


đúng các quy tắc hành vi đã ban hành. Như vậy, nhà nước ban hành các quy tắc
hành vi, còn công chức phải hiểu và chấp hành các quy tắc ấy. Kỷ luật là sự thống
nhất giữa ban hành và thực hiện. Có quy tắc thì mới có quy chuẩn để thực hiện.
Nhiều quy tắc mà không thực hiện thì mọi ấn định ấy đều vô nghĩa.
Trách nhiệm kỷ luật công chức, viên chức hiểu theo hướng tích cực là việc
thực hiện chức trách, công việc được giao bao gồm cả quyền và nghĩa vụ do pháp
luật quy định, hiểu đơn giản là thái độ của công chức, viên chức bảo đảm hoàn
thành công vụ. Theo hướng tiêu cực, trách nhiệm kỷ luật là hậu quả bất lợi mà công
chức, viên chức phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ quyền và nghĩa vụ được giao phó.
Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức là một dạng trách nhiệm
pháp lý, áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức do vi phạm kỷ luật, vi phạm
quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.2. Đặc điểm, vai trò và mối quan hệ giữa trách nhiệm kỷ luật với các
hình thức trách nhiệm khác
1.2.1. Đặc điểm trách nhiệm kỷ luật
- Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm kỷ luật là công chức, viên chức vi

những người lao động phục vụ trong bộ máy của mình. Việc thiết lập một hàng rào
pháp lý về trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, công chức là một trong những công
cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước nhằm phòng, chống và xử lý nghiêm minh
những vi phạm kỷ luật của công chức, viên chức, góp phần giáo dục, rèn luyện công
chức, viên chức ý thức tự giác tuân thủ kỷ luật, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước.
1.2.3. Mối quan hệ giữa trách nhiệm kỷ luật với các hình thức trách nhiệm khác
Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức là một hình thức của trách
nhiệm pháp lý và căn cứ vào đặc thù của hệ thống chính trị ở Việt Nam thì trách
nhiệm kỷ luật có mối quan hệ tương quan với các hình trách nhiệm khác đối với
công chức, viên chức.
- Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hình sự đối với công chức, viên chức:
trách nhiệm hình sự đối với công chức, viên chức là hình thức trách nhiệm pháp lý
nghiêm khắc nhất. Tùy theo tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm trách

12


nhiệm kỷ luật mà có thể có sự chuyển hóa từ trách nhiệm kỷ luật sang trách nhiệm
hình sự; công chức, viên chức vi phạm hình sự có thể đồng thời chấp hành bản án
có hiệu lực của Tòa án tuyên kỷ luật và bị truy cứu trách nhiệm kỷ luật.
- Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hành chính đối với công chức, viên
chức: trách nhiệm hành chính đối với công chức, viên chức là hình thức trách nhiệm
pháp lý. Trách nhiệm hành chính có mối quan hệ mật thiết với trách nhiệm kỷ luật.
Công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong một số trường
hợp vừa phải chịu trách nhiệm hành chính vừa phải chịu trách nhiệm kỷ luật. Cụ
thể: hành vi mại dâm, cờ bạc.
- Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức, viên chức:
trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với công chức, viên
chức của cơ quan, đơn vị mình trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ

bộ năng lực yếu kém, không chịu khó học tập. Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả
khuynh”, Lênin đã khẳng định: “Những người bônsêvích sẽ không giữ vững được
chính quyền, tôi không nói được tới hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi
cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật
sắt thực sự”[10, tr.6]. Như vậy, Lênin quan niệm: “để làm cho giai cấp vô sản có thể
thực hiện được một cách đúng đắn vai trò tổ chức của nó (và đó là vai trò chính của
nó), một cách có kết quả và thắng lợi thì chính đảng của giai cấp vô sản phải thực
hiện được, trong nội bộ của mình, một chế độ tập trung chặt chẽ và một kỷ luật
nghiêm ngặt" [11,tr.34 ]. Vi phạm kỷ luật - cũng có nghĩa là phản bội lại Đảng. "Kẻ
nào làm yếu - dù chỉ là chút ít - kỷ luật sắt trong Đảng của giai cấp vô sản (nhất là
trong thời kỳ chuyên chính của nó) là thực tế giúp cho giai cấp tư sản chống lại giai
cấp vô sản" [12, tr.34].
1.3.2. Tư tưởng Hồ chí Minh về trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “Sửa chữa sai lầm cố nhiên là dùng
cách giải thích, thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song, không phải không dùng xử
phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ, nếu như cứ nhất loạt đều xử phạt thì sẽ mất cả kỷ
luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không xử phạt là
không đúng, mà chút gì cũng đều xử phạt cũng không đúng” [14,tr.324]. Việc chấp
hành kỷ luật đảng của đảng viên và tổ chức đảng; việc phát hiện vi phạm, kiểm tra
làm rõ vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng và việc xem xét, xử lý kỷ luật đảng

14


viên, tổ chức đảng vi phạm là trách nhiệm và thẩm quyền của cấp ủy các cấp, của tổ
chức đảng có thẩm quyền.
Theo Người, trách nhiệm là việc phải làm không thể thoái thác. Trách nhiệm
như là bổn phận của mỗi người, dù ở cương vị nào, to hay nhỏ, lớn hay bé, mỗi
người đều có ‘bổn phận”.
Từ những năm 1920, mở đầu các bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ tại

ngoài kỷ luật” [9, tr.311]. Cán bộ, đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của
Đảng mà còn “phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách
mạng, của nhân dân”; họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm” [6,
tr.31]. Các đảng viên, cán bộ đó “không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể,
nhân dân và Đảng cũng là một” [7, tr.31].
Theo Hồ Chủ tịch, đối với mọi đảng viên cộng sản, khi nào và ở đâu cũng
phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức Đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ
luật của tổ chức, phải báo cáo, phải chấp hành nghị quyết, chỉ thị một cách nghiêm
túc, đúng đắn, sáng tạo. Hồ Chí Minh yêu cầu những đảng viên giữ vị trí càng cao,
trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ
luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo việc đảng viên không chấp hành kỷ
luật, xem thường kỷ luật, không thực hành dân chủ trong Đảng là: “Không nghiên
cứu nghiêm chỉnh và chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng, không
tôn trọng pháp luật và thể lệ của Nhà nước. Tự cho mình là đúng, hành động theo ý
riêng, phát biểu theo ý riêng, không báo cáo và xin chỉ thị của cấp trên, xem thường
tổ chức và kỷ luật” [4, tr.21]. Người phê phán nghiêm khắc tình trạng “không thực
hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ
luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem
thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê
bình" [2, tr.295.]. Người yêu cầu: "Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân
chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính
tổ chức và tính kỷ luật"[3, tr.241].
Khi cán bộ vi phạm kỷ luật, tha hóa biến chất, cho dù ở vị trí công tác nào,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kiên quyết xử lý, thấu tình đạt lý, giữ nghiêm kỷ luật.
Người khẳng định “với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi

16



gia đình; Vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài; Vi phạm về quản lý,
cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp.
Ngày 30 tháng 3 năm 2013, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Quy định số

17


181-QĐ/TW “Về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”. Quy định này đã chi tiết hóa 29
lỗi phạm của đảng viên trong chấp hành kỷ luật của Đảng. Với từng lỗi phạm của
đảng viên, tùy theo tính chất vi phạm, căn cứ 10 nguyên tắc xử lý kỷ luật được quy
định tại Điều 2, tổ chức đảng có thẩm quyền sẽ quyết định hình thức kỷ luật đối với
đảng viên vi phạm.
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
khóa XI, khóa XII về xây dựng Đảng, nhiều vụ việc, vụ án lớn, phức tạp đã được
khởi tố, truy tố, điều tra, xét xử với nhiều mức án, hình thức kỷ luật thỏa đáng.
Những cán bộ sai phạm

ien quan đều phải chịu những hình thức kỷ luật nghiêm

minh.
Cụ thể như: trường hợp của cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng; Trịnh Xuân
Thanh; vụ việc bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo ở Hải Dương, Thanh Hóa… Việc xem
xét và bỏ phiếu đề nghị kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với ông Võ Kim Cự,
Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA), nguyên Bí thư
Tỉnh ủy Hà Tĩnh do có những sai phạm

ien quan đến sự cố môi trường ở 4 tỉnh

miền Trung thời gian qua. Những vụ việc nêu trên cho thấy quyết tâm xử lý những
cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển

tác động tích cực là một điều kiện thuận lợi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân nói chung, của công chức, viên chức nói riêng.
Tuy nhiên, mặt tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường cũng tạo ra tâm lý xem
đồng tiền là trên hết, bất chấp các giá trị đạo đức, chuẩn mực pháp luật; tạo ra
những quan niệm, hành vi sai lệch, lấy đồng tiền làm thước đo để đánh giá các quan
hệ xã hội. Điều này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới trách nhiệm kỷ luật đối với công
chức, viên chức trong hoạt động công vụ; là nguyên nhân, động cơ thúc đẩy các
hành vi vi phạm xảy ra khi họ thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
1.4.2. Chính trị
Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ổn định, phát triển bền vững là
điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ, chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động
công vụ; tạo cơ sở củng cố lập trường chính trị, quán triệt nhiệm vụ chính trị cho
đội ngũ công chức, viên chức. Đây còn là nền tảng để họ rèn luyện bản lĩnh chính
trị, nâng cao ý thức phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân trong một nền hành chính
lấy phục vụ làm cơ sở tồn tại và phát triển. Ngược lại, môi trường chính trị bất ổn,
các thiết chế chính trị không phát huy được vai trò điều tiết, điều chỉnh các quan hệ

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status