Thực hiện chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã từ thực tiễn huyện hóc môn, thành phố hồ chí minh - Pdf 51

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy hành chính, hệ thống chính trị cấp xã có vai trò rất quan
trọng, là cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, huy động khả năng cộng đồng
dân cư để phát triển kinh tế - xã hội địa phương, góp phần tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân.
Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp xã bao gồm: cán bộ cấp xã,
công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã; đội
ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là lực lượng quan
trọng, góp phần không nhỏ cùng với đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã
thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương, là lực lượng tích cực xây dựng hệ thống
chính trị ở cơ sở, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ở địa phương phát triển.
Trải qua quá trình hoạt động, củng cố bộ máy hành chính cấp xã, chế độ,
chính sách của cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã được nâng lên rõ rệt,
phần nào đáp ứng cơ bản về điều kiện sống, tạo tâm lý an tâm công tác, công
hiến xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã.
Bên cạnh cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã, Ủy ban nhân dân
cấp xã còn có đối tượng là những người hoạt động không chuyên trách, mặc
dù hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và Thành phố có
điều chỉnh về chế độ, chính sách đối với đối tượng này, tuy nhiên, trên thực tế
khi thực thi các quy định về chế độ, chính sách đối với những người hoạt
động không chuyên trách cấp xã thì vẫn còn nhiều bất cập, như: chưa thống
nhất về tên gọi, chức danh những người hoạt động không chuyên trách cấp xã,
mức phụ cấp còn thấp so với công việc đảm nhiệm, chế độ đào tào, bồi dưỡng
1


còn hạn chế, chế độ bảo hiểm xã hội chưa được đầy đủ, … tạo tâm lý không
an tâm công tác trong đối tượng này.
Do đó, nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách đối với những người

lên thực trạng về chức danh, chế độ, chính sách của những người hoạt động
không chuyên trách tại huyện Hóc Môn; nêu lên quan điểm, giải pháp nhằm
thống nhất về số lượng và tên gọi chức danh của những người hoạt động
không chuyên trách; nâng cao chế độ, chính sách đối với những người hoạt
động không chuyên trách để tạo tâm lý an tâm công tác, cống hiến tâm sức
trong quá trình thực thi nhiệm vụ tại địa phương đối với đối tượng này.
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là
Phân tích rõ ràng các cơ cở lý luận về chức danh, chế độ, chính sách của
những người hoạt động không chuyên trách cấp xã hiện nay.
Phân tích rõ thực trạng về chức danh, chế độ, chính sách của những
người hoạt động không chuyên trách cấp xã tại huyện Hóc Môn hiện nay, nêu
ra những điểm bất cấp, hạn chế cần khắc phục.
Xác định nguyên nhân và đề ra các giải pháp, phương pháp phù hợp, khả
thi nhằm góp phần thống nhất các chức danh, cải thiện chế độ, chính sách đối
với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã hiện nay tại huyện
Hóc Môn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Là các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng những nội dung quy định
liên quan đến cơ sở lý luận về chức danh, chế độ, chính sách của những người
hoạt động không chuyên trách cấp xã; thực trạng về chức danh, chế độ, chính
3


sách của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã từ thực tiễn
huyện Hóc Môn hiện nay.
Cụ thể, luận văn sẽ phân tích những tồn tại, bất cập về chức danh, chế
độ, chính sách của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã khi áp
dụng các văn bản quy định của cấp trên trong giai đoạn hiện nay; từ đó xác
định nguyên nhân để đề ra các biện pháp, giải pháp phù hợp, khả thi nhằm

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với những người hoạt
động không chuyên trách cấp xã tại huyện Hóc Môn.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách và thực hiện
chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

5


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH
Ở CẤP XÃ
1.1. Lý luận chung về thực hiện chính sách công
1.1.1. Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của thực hiện chính sách công
a) Khái niệm chính sách công
Thuật ngữ “chính sách” hay “chính sách công” đã được dùng khá phổ
biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội. Hiện nay có nhiều định
nghĩa khác nhau về các khái niệm này.
Thomas Dye đưa ra định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất kỳ
những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”.
William Jenkins định nghĩac về chính sách công là: một tập hợp các
quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính
trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các
mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể
thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”.
James Anderson đưa ra định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách như là:
“một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động
hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc
vấn đề quan tâm”
Tuy có những giới hạn nhất định nhưng các định nghĩa trên đều tập trung
mô tả nội hàm của chính sách công. Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận



So với các khâu khác trong chu trình chính sách, thực hiện chính sách có
vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã
hội.
Tổ chức thực hiện chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà
nước trong quá trình quản lý xã hội.
Để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá
trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu. Nhưng dù tốt đến đâu chính sách cũng
trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện.
1.1.2. Chủ thể tham gia thực hiện chính sách công
Chủ thể thực hiện: là các cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan
đó – đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách công.
Chủ thể tham gia: là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước).
Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng hưởng thụ chính sách công:
cộng đồng dân cư, các nhóm dân số, thậm chí cả người dân.
1.1.3. Quy trình thực hiện chính sách công
a) Khái niệm quy trình thực hiện chính sách công/
Quy trình tổ chức thực hiện chính sách là trình tự các bước trong tổ chức
triển khai thực hiện chính sách công.
b) Các bước trong quy trình thực hiện chính sách công
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện chính sách công

8


Tổ chức thực hiện chính sách công là quá trình phức tạp, diễn ra trong
một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các

truyền chính sách công phải có thái độ công tâm, khách quan khi thực hiện
công việc này.
Đối tượng phổ biến, tuyên truyền chính sách công
Đối tượng được phổ biến, tuyên truyền chính sách công bao gồm:
- Những công dân được chính sách công tác động trực tiếp, đây là đối
tượng thụ hưởng chính sách công.
- Những công dân, tổ chức bị tác động gián tiếp bởi chính sách công, đây
là những nhân tố góp phần làm cho chính sách công đạt hiệu quả.
- Những đối tượng tham gia thực thi, triển khai chính sách công.
Phương pháp:
- Được thực hiện thường xuyên, liên tục
- Bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng
tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng v.v.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đội ngũ những người hoạt động
không chuyên trách cấp xã
1.2.1. Khái niệm những người hoạt động không chuyên trách cấp xã
Xã, phường, thị trấn gọi chung là cấp xã, là đơn vị hành chính cấp cơ sở;
trong đó xã chiếm đa số trong tổng số đơn vị hành chính cấp cơ sở, nhiều hơn
phường, thị trấn.
10


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng
của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”1.
Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác
định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo
việc, tận tụy với dân, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ
cơ sở”2.
Để hội nhập quốc tế cũng như bắt kịp xu thế toàn cầu hóa, Nghị quyết

chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, hệ thống chính trị ở
cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.
Như vậy, theo tinh thần Nghị quyết số 17/NQ-TW, cán bộ cấp xã được
chia thành cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách; đồng thời khái
niệm cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thới gian lao
động làm việc công để thực hiện chức trách được giao; cán bộ không chuyên
trách là những người chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao
động3.
Tuy nhiên, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009
của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên
trách ở cấp xã không dùng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách” mà thay
bằng cụm từ “những người hoạt động không chuyên trách”.
Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và một số văn bản quy
phạm pháp luật liên quan quy định rõ ràng, cụ thể đối tượng cán bộ xã và
công chức xã; nhưng lại không quy định thế nào là “những người hoạt động
không chuyên trách xã”; vì vậy, để nêu lên khái niệm thế nào là những người
hoạt động không chuyên trách cấp xã là điều không hề dễ dàng. Tuy nhiên,
dựa trên các cơ sở pháp lý quy định đối tượng này cũng như căn cứ vào tình
hình thực tế, có thể khái quát như sau:
Xem Mục 5 Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Hội nghị
Lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX.
3

12


Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là công dân Việt
Nam, được bố trí làm công việc chuyên môn ở chính quyền cấp xã nhưng
không thường xuyên, liên tục; giúp cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn

phù hợp nhằm đảm bảo vừa lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân, vừa
đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Thứ năm, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là đối
tượng không được hưởng lương, phụ cấp theo loại xã, thị trấn và không được
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Họ chỉ được hưởng phụ cấp hàng tháng và
tham gia bảo hiểm tự nguyện.
Thứ sáu, tính ổn định ở những người hoạt động không chuyên trách cấp
xã thấp hơn so với cán bộ chuyên trách cấp xã do công việc của đối tượng này
không thường xuyên, liên tục, và số lượng cũng thay đổi, biến động nhiều.
1.2.3. Vai trò của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là người đem chính sách của
Chính phủ của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách
sách hay cũng không thể thực hiện được”4, thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta
nhận định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền
với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng”5.
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở
rộng dân chủ, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân

4

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5, tr. 68.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.269.
5

14



trong những nguồn nhân lực quan trọng tại địa phương và ngoài địa phượng.
Bởi vì, lực lượng những người hoạt động không chuyên trách là đội ngũ kế
thừa của cán bộ, công chức; môi trường ở cấp xã là một trong những yếu tố
quan trọng giúp những người hoạt động không chuyên trách cấp xã phát huy
năng lực, thể hiện bản thân, không ngừng phát triển và trưởng thành. Thực tế
cho thấy, không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt có tiền thân từ những người hoạt
động không chuyên trách cấp xã.
Mặc dù đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách đóng vai trò
quan trọng không kém đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã, nhưng chế độ,
chính sách của hai đối tượng này có sự khác biệt rất rõ ràng, chúng ta sẽ tiếp
tục phân tích về chế độ, chính sách của những người hoạt động không chuyên
trách cấp xã để thấy được những bất cập trong chế độ, chính sách đối với đối
tượng này.
1.3. Tổng quan về thực hiện chính sách đối với những người hoạt động
không chuyên trách cấp xã
1.3.1. Các chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách
cấp xã
a) Số lượng, chức danh và mức phụ cấp đối với những người hoạt động
không chuyên trách cấp xã
Hiện nay, lực lượng cán bộ và công chức khi tham gia làm việc hàng
tháng được hưởng tiền lương (là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận; tiền lương bao
gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản

16


bổ sung khác6); khác với đối tượng này, khi làm việc, đội ngũ những người
hoạt động không chuyên trách cấp xã chỉ được hưởng mức phụ cấp hàng
tháng (là khoản trợ cấp được trích ra từ nguồn quỹ của Ngân sách Trung


chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù
hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo
hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất).
Bên cạnh chế độ bảo hiểm xã hội, còn có chế độ bảo hiểm y tế; chế độ
bảo hiểm y tế được hiểu là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với
các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe,
không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện 8. Loại hình bảo
hiểm y tế là cung cấp dịch vụ về y tế, chăm sóc sức khỏe để duy trì, khôi phục
và cải thiện sức khỏe và khả năng lao động cũng như giúp cho người tham gia
bảo hiểm khắc phục một phần khó khăn về kinh tế trong khám bệnh và chữa
bệnh, giúp hỗ trợ thanh toán chi phí khám chữa bệnh.
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng của
hệ thống an sinh xã hội, do đó, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm y tế đồng bộ cùng với phát triển các dịch vụ an sinh xã hội khác sẽ đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân nói chung, của cán bộ, công
chức nói riêng tham gia và hưởng thụ các chế độ bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm.
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mức đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động.
Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập
tháng do người lao động lựa chọn9.
Như đã nói ở mục trên, cán bộ chuyên trách cấp xã hiện nay khi tham gia
công tác, hàng tháng họ được hưởng tiền lương, theo đó, cán bộ cấp xã được

8

Quốc Hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm Y tế, 13/6/2014.

9

19


người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao
động nhất định” 10.
Theo Từ điển Tiếng Việt, đào tạo đó là làm cho trở thành người có năng
lực theo những tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng đó là làm cho - 1) tăng thêm
sức của cơ thể bằng chất bổ và – 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất 11
Còn khái niệm khác, đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có
hiểu biết, có nghề nghiệp; bồi dưỡng đó là làm cho 1) khỏe thêm, mạnh thêm
và – 2) tốt hơn, giỏi hơn.
Phân tích giải thích “đào tạo” và “bồi dưỡng” theo Từ điển, thì đào tạo
được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị những kiến thức tương
đối mới cho khách thể mà trước đó khách thể chưa có; bồi dưỡng được xem là
một giai đoạn ngắn, cung cấp kiến thức nhằm bồi bổ thêm, bổ trợ thêm và
nâng cao hơn các kiến thức, kỹ năng đã có sẵn của khách thể.
Theo khía cạnh văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta, cụ thể là
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về
đào tạo và bồi dưỡng công chức 12, đào tạo được giải thích là quá trình truyền
thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp
học, bậc học; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm việc.

Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, Từ điển Bách khoa toàn thư Việt
Nam, Tập 1, Nxb Từ điển Bách khoa.
10

11

GS. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2010.

lượng nguồn nhân lực, điều này đặc biệt cần thiết trong các cơ quan hành
chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình
hình mới hiện nay.
Thông qua đào tạo và bồi dưỡng, ngoài việc trang bị kiến thức, kỹ năng,
phương pháp thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao kiến thức, tri thức, trình độ
21


hiểu biết của cán bộ, trao dồi các kỹ năng công tác và nâng cao kinh nghiệm
thực tiễn để cán bộ hoàn thành chất lượng công việc được giao; đào tạo và bồi
dưỡng còn nhằm rèn luyện phẩm chất chính trị đạo đức và tư chất cho cán bộ
góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt,
có lĩnh chính trị vững vàng và năng lực cao, đáp ứng được yêu cầu phục vụ
nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước.
Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là đối tượng
trực tiếp làm việc, trao đổi thông tin với người dân tại địa phương, do đó,
công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng giao
tiếp, giải quyết công việc cũng như bản lĩnh chính trị là rất cần thiết.
d) Đánh giá, thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với người hoạt động không
chuyên trách cấp xã
Có nhiều khái niệm về đánh giá
Đánh giá có thể được hiểu là nhận định giá trị.
Đánh giá còn được hiểu là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng
định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và
hành động có kết quả.
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đánh giá được hiểu là một
hoạt động nhằm nhận định một đối tượng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ,
chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, kinh nghiệm được hình
thành ở thời điểm hiện tại đang được xem xét so với mục tiêu hay chuẩn mực
đã được xác lập.


Quốc Hội (2003), Luật Thi đua, Khen thưởng, ban hành ngày 26/11/2003, Hà Nội.

14

Quốc Hội (2003), Luật Thi đua, Khen thưởng, ban hành ngày 26/11/2003, Hà Nội.
23


Kỷ luật lao động bao gồm các điều khoản quy định về hành vi của người
lao động trong các lĩnh vực có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ lao
động, như là: số lượng, chất lượng công việc cần đạt được, thời gian làm việc,
thời gian nghỉ ngơi, giữ gìn trật tự tại nơi làm việc, an toàn lao động và vệ
sinh lao động, bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh của tổ chức, các
hành vi vi phạm pháp luật lao động và trách nhiệm vật chất.
Xét ở góc độ chung, cán bộ cấp xã trong đó có đối tượng những người
hoạt động không chuyên trách cũng là người lao động, do đó, kỷ luật lao động
là một trong những chế định của pháp luật nhằm đảm bảo duy trì các điều
kiện lành mạnh trong quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức
và doanh nghiệp, chế định này là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ
thống pháp luật lao động và cán bộ, công chức hiện hành của Nhà nước ta 15.
Như vậy, thi đua, khen thưởng, kỷ luật là những công cụ và biện pháp
quản lý của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình sử dụng, xây dựng
và phát triển cán bộ nói chung và những người hoạt động không chuyên trách
cấp xã nói riêng; qua đó, tôn vinh những thành tích mà họ đã cống hiến trong
quá trình làm việc, phục vụ nhằm động viên, khuyến khích thêm tinh thần cho
họ, đồng thời xử lý kịp thời những vi phạm kỷ luật nhằm giúp họ khắc phụ và
tránh mắc phải trong thời gian tới, mục đích của khen thưởng và kỷ luật cũng
là tạo sự công bằng trong đối xử với từng cá nhân; từ đó, động viên, khuyến
khích họ phát huy trí tuệ, tài năng, sức lao động, tinh thần sáng tạo để cống

căn cứ xác định chức danh, chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ
thống chính trị cấp xã.
b) Giai đoạn từ năm 2010 đến nay
Đến năm 2008, Luật Cán bộ, Công chức được ban hành thay thế Pháp
lệnh Cán bộ, công chức năm 1998; theo đó, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP
ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status