VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ TUẤN TÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính Sách Công
Mã số: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ............... 11
1.1. Khái quát về chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức hiện
hành ở nước ta .............................................................................................. 11
1.2. Khái niệm, ý nghĩa và vai trò của thực hiện chính sách phát triển cán
bộ, công chức, viên chức.............................................................................. 13
1.3. Nội dung và các giai đoạn thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công
chức, viên chức ............................................................................................ 20
1.4 Các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công
viên chức ................................................................................................... 44
Bảng 2.3.3: Kết quả thực hiện chính sách cử đào tạo nâng cao trình độ về
chuyên môn và lý luận chính trị ............................................................... 48
Bảng 2.3.4: Kết quả thực hiện chính sách thi đua khen thưởng .............. 49
Bảng 2.3.5: Kết quả thực hiện chính sách hưởng chế độ chính sách của
cán bộ, công chức, viên chức cấp xã . ...................................................... 50
Bảng 2.3.6: Kết quả thực hiện chính sách đánh giá, phân loại cán bộ,
công chức, viên chức. ............................................................................... 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hóc Môn là huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, cách
trung tâm thành phố khoảng 20 km về hướng Tây Bắc, diện tích: 10.943 ha,
dân số: 421.578 người.
Huyện đã thực hiện có kết quả cơ cấu kinh tế “công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nông nghiệp”; khuyến khích phát triển
các loại hình thương mại – dịch vụ có giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị.
Chương trình “Xây dựng nông thôn mới tại các xã gắn với thực hiện Nghị
quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” cơ bản hoàn thành, 10 xã được
Ủy ban nhân dân thành phố công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, huyện được
Chính phủ công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Huy động tốt mọi
nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường quản lý đất đai, trật tự đô thị; xã
hội hóa đầu tư đối với các công trình giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa, thể
thao. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thực hiện tốt các chương trình
an sinh xã hội; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa”; chương trình “Giảm nghèo, tăng hộ khá bền vững” có chuyển biến
tích cực. Giữ vững quốc phòng – an ninh; đảm bảo trật tự an toàn xã hội; thực
hiện tốt chiến lược cải cách tư pháp.
đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
huyện.
Để khẳng định được vai trò quản lý của mình, đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức phải tự xác định được nhiệm vụ, nâng cao tri thức để đảm
nhận công việc phục vụ sự nghiệp cách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ
nhân dân. Cần phải thể hiện vai trò của mình thông qua làm việc một cách cụ
thể, chu đáo, trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên môn một cách khẩn
2
trương, nhanh chóng. Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng giải quyết
công việc tắc trách, vô tổ chức mà phải được tổ chức làm việc có uy tín, điều
hành, giải quyết kịp thời, chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhân dân. Ở
mỗi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức phải xúc tiến tiến trình
chung của công việc, không được làm trì trệ.
Trong hoạt động cán bộ, công chức, viên chức phải chủ động hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, chống lại sự quan liêu, đùn đẩy trách
nhiệm và giữ vững mối quan hệ với quần chúng, thu hút quần chúng tham gia
ngày càng đông đảo vào công tác quản lý. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì
người cán bộ, công chức, viên chức không chỉ có tài mà còn phải có đức,
Người quan niệm rằng người cán bộ, công chức, viên chức có tài mà không
có đức thì như cây không rễ và thường gây ra những tai hại không nhỏ.
Ngược lại nếu chỉ có đức mà không có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi ở
trong chùa. Đạo đức luôn giữ vị trí hàng đầu, cơ bản, quyết định nhân tố của
người cán bộ, công chức, viên chức. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người cán
bộ, công chức, viên chức cũng phải đặt lợi ích của nhân dân, của Đảng và nhà
nước lên trên hết. Với tiêu chí đạo đức đó, người cán bộ, công chức, viên
chức muốn thực hiện được tốt vai trò của mình thì không được quan liêu, xa
rời dân, vì vậy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng, thành tâm học hỏi quần
chúng, biết tổ chức, biết lãnh đạo, nói phải đi đôi với việc làm.
đào tạo trong sử dụng cán bộ, công chức, viên chức; chưa chú trọng nhiều đến
năng lực công tác, hiệu quả làm việc.
Từ tồn tại nêu trên, nhằm đánh giá đúng thực trạng việc triển khai thực
hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn
trong thời gian qua, từ đó đề xuất những giải pháp chính sách nhằm hoàn
thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển
cán bộ, công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn những năm tới, bản thân tôi
4
đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên
chức từ thực tiễn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh” cho Luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức không phải là vấn
đề mới mà đã được Đảng ta đề cập ngay từ những ngày đầu thành lập nước và
liên tục đến nay như: Sắc lệnh số 188 năm 1948 và số 76 năm 1950 do Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký ban hành; Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X và XI; Luật
Cán bộ, Công chức năm 2008.
Đến thời điểm hiện nay, có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
liên quan đến phát triển cán bộ, công chức nói chung. Trong đó, nổi bật là:
- TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên):
“Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” đã phân tích
vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức; quan điểm của Đảng về xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức; yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa đối với việc hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công chức và xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.
- TS. Nguyễn Ngọc Hiến (2002) chủ biên. "Các giải pháp thúc đẩy cải
cách hành chính ở Việt Nam" đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
công vụ, công chức; đổi mới cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, hiện đại
đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” do Tạp chí Cộng sản- Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia tổ chức 8/2012 tại Hà Nội.
- GS.TS. Đinh Văn Tiến, Ths. Thái Vân Hà (2013), Đổi mới công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới, đã phân
tích vai trò, thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
6
chức để đề xuất giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, viên chức trong tình hình mới.
- PGS.TS. Nguyễn Minh Phương, Ths. Trần Thị Hạnh, Hoàn thiện quy
phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên Tạp
chí Tổ chức nhà nước số 10 năm 2014 đã chỉ ra một số bất cập và hướng hoàn
thiện đối với các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
Có thể khẳng định rằng, những công trình, bài viết trên có giá trị lớn về
lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở
nước ta. Các tác giả đã nêu những lý luận cơ bản nhất về phát triển cán bộ,
công chức, viên chức, đánh giá thực trạng tình hình cán bộ, công chức, viên
chức và chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta trong
thời gian qua và đưa ra những giải pháp, kiến nghị rất quan trọng về tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước để phát triển cán bộ, công chức, viên chức trong những năm tới.
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố
về thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức từ thực tiễn
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, gắn với tư duy,
chủ trương, quan điểm chiến lược phát triển cán bộ, công chức, viên chức của
Đảng và Nhà nước. Với chủ đề nghiên cứu từ thực tiễn phát triển của một
huyện nên luận văn kết hợp cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) với tiếp cận
từ trên xuống (top-down), cụ thể là thực hiện chính sách phát triển cán bộ,
8
công chức, viên chức từ thực tiễn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh,
đối chiếu, so sánh với chính sách chung ở tầm vĩ mô, từ đó có ý kiến đề xuất
hoàn thiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở tầm vĩ mô và
tạo môi trường chính sách thuận lợi hơn cho việc thực hiện chính sách ở địa
phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá chính sách.
Phương pháp thu thập thông tin: phân tích và tổng hợp, được sử dụng
để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẳn liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở trung ương và địa phương; các công trình
nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn
thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện
chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta nói chung và
thực tế ở huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đồng thời, thu
thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong
thời gian qua.
Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn,
phương pháp phân tích định lượng, định tính, suy luận logic, diễn giải trong
quá trình phân tích, đánh giá chính sách.
1.1. Khái quát về chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên
chức hiện hành ở nước ta
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ra nhiều nghị quyết về đổi mới và
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển cán bộ, công chức, viên
chức, đã xây dựng và tổ chức chỉ đạo thực hiện Chiến lược cán bộ đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lược
đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tổ chức và chất lượng cán bộ, đặt công tác
này ở vị trí chiến lược trên quan điểm coi con người là chủ thể, là trung tâm
của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi mới.
Nếu phát triển nhanh và bền vững là điểm xuyên suốt trong quan điểm
phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020), hướng tầm nhìn tới giữa thế kỷ XXI,
thì thực chất của phát triển bền vững là phát triển bền vững con người.
Chiến lược cũng nêu lên những đột phá để vượt qua những điểm nghẽn
của phát triển. Đó là đột phá thể chế, trước hết là hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường, tạo ra môi trường lành mạnh để phát triển sản xuất - kinh doanh
của các doanh nghiệp và doanh nhân cũng như bảo đảm chất lượng cuộc sống
của người dân; đột phá về hạ tầng kinh tế - kỹ thuật để thu hút đầu tư, phát
triển kinh tế theo hướng tái cấu trúc kinh tế, thay đổi mô hình phát triển từ
chiều rộng sang chiều sâu, kết hợp phát triển theo chiều rộng với phát triển
theo chiều sâu… và một đột phá đặc biệt quan trọng là nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
Sự nhất quán trong quan điểm của Đảng là coi trọng nhân tố con người,
nguồn lực con người. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết
11
định. Chiến lược phát triển con người Việt Nam, trong đó có chiến lược cán
bộ ở tầm chiến lược của mọi chiến lược trong phát triển.
Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực. Vốn xã hội trong
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách :
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức
Theo Luật cán bộ công chức năm 2008: Điều 4. Cán bộ, công chức
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
Theo Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các Điều 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11 của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của
13
Chính phủ quy định những người là công chức. Từ đó, ta có thể hiểu cán bộ,
công chức tại huyện gồm các chức vụ, chức danh sau:
- Cán bộ huyện gồm các chức vụ sau:
+ Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy.
Theo quy định tại Điều 61, Luật cán bộ, công chức năm 2008. Chức vụ,
chức danh cán bộ, công chức cấp xã, các chức vụ sau đây:
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội.
15
Yêu cầu đối với cán bộ, công chức là phải không ngừng rèn luyện
phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực
hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao. Công tác cán bộ phải đặt dưới sự lãnh
đạo thống nhất của các cấp ủy đảng, bảo đảm tập thể dân chủ, đi đôi với phát
huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị.
hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung
giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục
tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan
lẫn nhau.
- PGS.TS. Đỗ Phú Hải nêu ra định nghĩa một cách chung nhất về chính
sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị
có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và
công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định
của đảng chính trị cầm quyền” [19].
1.2.1.2. Khái niệm chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức
Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban
hành các văn bản có liên quan đến chính sách cán bộ, công chức như Luật
Cán bộ, công chức năm 2008 (số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13
tháng 11 năm 2008). Và các văn bản hướng dẫn thực hiện như: Nghị định số
06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là
công chức; Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bộ Nội vụ
hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010
của Chính phủ quy định những người là công chức; Nghị định số
93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị
định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý công chức; Thông tư số 13/2010/TT-BNV, ngày
17
31/12/2010 của Bộ nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng
ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của
Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Thông tư
số 05/2012/TT-BNV, ngày 24/10/2012 của Bộ Nội vụ về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 31/12/2010 của Bộ Nội
phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức.
Vậy ta có thể hiểu, chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức
là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm đạt được các mục
tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của
cán bộ, công chức, viên chức theo mục tiêu đã xác định.
1.2.2. Ý nghĩa của thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức,
viên chức
Chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức bao gồm nhiều bộ
phận cấu thành như: chính sách bầu cử cán bộ; chính sách tuyển dụng, bố trí,
sử dụng công chức; chính sách thu hút sinh viên; chính sách đào tạo, bồi
dưỡng; chính sách khen thưởng – kỷ luật; chính sách đánh giá, phân loại;
chính sách tiền lương; chính sách đãi ngộ… có ý nghĩa tạo động lực thúc đẩy
cán bộ, công chức, viên chức phát huy vai trò, năng lực của mình trong thực
hiện chức trách nhiệm vụ được giao; đảm bảo sự công bằng trong công tác
đánh giá, nhận xét cán bộ, công chức, viên chức về mức độ hoàn thành nhiệm
vụ, thái độ phục vụ nhân dân, để từ đó kịp thời khen thưởng, đề bạt những cán
bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất đạo đức vào những vị trí cao
hơn. Đồng thời kịp chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân, kỷ luật những cán
bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, có sai phạm trong công
việc được giao. Các chính sách còn tác động trực tiếp đến việc sử dụng, quản
lý cán bộ, công chức, viên chức tạo lập môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ
đối với cán bộ, công chức, viên chức hướng đến mục tiêu phát triển đội ngũ
19
cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại,
thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
1.2.3. Vai trò của thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức,
viên chức
Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức có vai trò
theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Công dân
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ,
thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời
hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi
trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo quy
định của pháp luật”.
Căn cứ Điều 22 của Luật Viên chức và Điều 4 Nghị định số
29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ quy định về người đăng ký
dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng
lực theo yêu cầu của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, có đủ các điều
kiện đăng ký dự tuyển quy định tại Điều 22 Luật viên chức.
Trong thời gian qua công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức
chưa thực hiện tốt nhiều nơi, địa phương tuyển dụng cán bộ, công chức, viên
chức chỉ dựa vào mối quan hệ quen biết “con ông cháu cha”, tuyển người
không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ hoặc chuyên môn nghiệp vụ không
phù hợp với công việc, vị trí phân công. Tư tưởng tuyển dụng vào làm trước
rồi mới đưa đi tào tạo chuyên môn nghiệp vụ vẫn còn tồn tại ở nhiều cơ quan,
đơn vị. Đều này đã làm tăng gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, ảnh hưởng
hiệu quả, tiến độ, chất lượng giải quyết công việc cho nhân dân.
Có một nghịch lý mà ở cơ quan nào cũng thường gặp, đó là không sử
dụng hết biên chế được giao mà thay vào đó tuyển dụng và ký hợp đồng nhân
viên có thời hạn với số lượng nhiều hơn số biên chế còn dư. Mặt dù số nhân
21