VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ BÌNH
TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thế Tâm
Phản biện 1: Phó GS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp
Trường ĐH Luật TPHCM
Phản biện 2: TS. Phạm Quang Huy
Học viện Hành chính Quốc gia
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 00 ngày 10 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
đảm nguyên tắc mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện và xử lý
kịp thời. Bởi vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách
khoa học về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức theo
quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng của nó, đề ra các giải
pháp sửa đổi, hoàn thiện. Vì vậy, tôi đã lựa chọn Đề tài “Trách
nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức từ thực tiễn huyện Hóc
Môn, thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nhà nước tiến hành cải cách hành chính,
hướng tới một nhà nước kiến tạo, một số tác giả đã nghiên cứu về
trách nhiệm kỷ luật công chức, viên chức hoặc một số khía cạnh có
liên quan. Các công trình đã được đăng tải trên một số sách, báo, tạp
chí nghiên cứu và luận án. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, tác
giả xin điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:
- Phạm Hồng Thái (2001) “Trách nhiệm kỷ luật và trách
nhiệm bồi thường vật chất của cán bộ công chức ở nước ta hiện nay”
Đề tài khoa học Học viện hành chính quốc gia.
- Trần Thúy Lâm (2005) “Sự khác nhau cơ bản giữa kỷ luật lao
động và kỷ luật công chức” Tạp chí Luật học, số 3 (28-32).
- PGS.TS Võ Kim Sơn (chủ nhiệm), “Cơ sở lý luận và thực
tiễn để xây dựng Luật công vụ Việt Nam” Đề tài Khoa học cấp Bộ,
năm 2008.
- Giáo trình Tổ chức bộ máy Hành chính Nhà nước, Học viện
Hành chính, Hà Nội, 2010.
- Nguyễn Hữu Phúc (2009) “Vai trò và trách nhiệm kỷ luật
hành chính trong quản lý cán bộ, công chức” Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 8,(256).
luật đối với công chức, viên chức; bảo đảm việc thực hiện tốt hơn
quy định pháp lý này trong thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ khái niệm trách nhiệm kỷ luật
đối với công chức, viên chức; đặc điểm; các hình thức trách nhiệm
kỷ luật đối với công chức, viên chức; vai trò của trách nhiệm kỷ luật
đối với công chức, viên chức trong quản lý hành chính nhà nước.
Phân tích thực trạng thực hiện và áp dụng pháp luật về trách nhiệm
kỷ luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn hiện nay,
bước đầu xác định những nguyên nhân mặt tích cực và hạn chế của
thực trạng đó. Kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật
đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: trách nhiệm kỷ luật đối với công
chức, viên chức nhà nước vi phạm kỷ luật.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu quy định về trách
nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức theo nghĩa vụ pháp lý
trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010;
Nghị định 34/2011/NĐ-CP, Nghị định 27/2012/NĐ-CP. Thực trạng
pháp luật hiện hành về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức theo Luật Cán bộ, công chức, Luật viên chức Việt Nam từ năm
2011 đến 2017
Không gian, thời gian nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn,
đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tình hình công chức, viên chức huyện
Hóc Môn vi phạm bị áp dụng chế định kỷ luật trong Luật Cán bộ,
công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 từ năm 2011 đến
4
chức, viên chức.
- Chương hai: Thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn
thực hiện trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ở huyện
Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương ba: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ
Chí Minh.
6
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT
ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
1.1.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm công chức
Theo quan điểm chung, công chức được hiểu là những công
dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà
nước, do ngân sách Nhà nước trả lương.
Luật cán bộ, công chức được Quốc hội khóa XII đã thông qua
ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định, “Công chức là công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
trách nhiệm hình sự.
1.2.
1.2. Đặc điểm, vai trò và mối quan hệ giữa trách nhiệm kỷ
luật với các hình thức trách nhiệm khác
1.2.1. Đặc điểm trách nhiệm kỷ luật
- Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm kỷ luật là công chức,
viên chức vi phạm kỷ luật, vi phạm quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt
động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật là người đứng đầu cơ
quan, đơn vị nơi có công chức, viên chức vi phạm.
Giữa chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật với chủ thể chịu
trách nhiệm kỷ luật có mối quan hệ trực thuộc nhau về mặt tổ chức.
- Cơ sở phát sinh trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức là khi có hành vi vi phạm kỷ luật và có lỗi. Trong những trường
8
hợp nhất định, việc vi phạm đạo đức, vi phạm điều lệ của tổ chức
chính trị cũng là cơ sở trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức.
- Mang tính cưỡng chế nhà nước nghĩa là khi công chức, viên
chức vi phạm kỷ luật thì phải chịu một hình thức kỷ luật nhất định
theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức được tiến
hành chặt chẽ, theo quy trình, thủ tục do pháp luật quy định.
1.2.2. Vai trò của trách nhiệm kỷ luật
Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức là một chế
và làm rõ hơn khi Người lãnh đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp
luật kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Lênin đã khẳng định:
“Những người bônsêvích sẽ không giữ vững được chính quyền, tôi
không nói được tới hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi cũng
không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh,
kỷ luật sắt thực sự”[10, tr.6]. Vi phạm kỷ luật - cũng có nghĩa là
phản bội lại Đảng. "Kẻ nào làm yếu - dù chỉ là chút ít - kỷ luật sắt
trong Đảng của giai cấp vô sản (nhất là trong thời kỳ chuyên chính
của nó) là thực tế giúp cho giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản"
[12, tr.34].
1.3.2. Tư tưởng Hồ chí Minh về trách nhiệm kỷ luật đối với cán
bộ, đảng viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Sức mạnh vô địch của
Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của
cán bộ, đảng viên” [8, tr.311]. Uy tín chung của Đảng và của mỗi
đảng viên trong nhân dân bắt nguồn từ sự gương mẫu, tự giác tuân
thủ kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của
các tổ chức, đoàn thể nhân dân mà đảng viên đó tham gia. Người cho
rằng, nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần
10
tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng.
Người đặc biệt yêu cầu giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, không
có sự thỏa hiệp, lơi lỏng kỷ luật, kỷ cương dưới bất cứ danh nghĩa
nào; phải chú ý coi trọng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương.
Khi cán bộ vi phạm kỷ luật, tha hóa biến chất, cho dù ở vị trí
công tác nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kiên quyết xử lý, thấu tình
đạt lý, giữ nghiêm kỷ luật.
1.3.3. Quan điểm của Đảng về trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ,
12
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG
CHỨC, VIÊN CHỨC Ở HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
2.1. Thực trạng pháp luật hiện hành về trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức
2.1.1. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm kỷ luật đối với công
chức, viên chức
Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức không chỉ
được quy định trong một văn bản pháp luật cụ thể mà nó được thể
hiện ở nhiều văn bản như: Hiến pháp năm 2013, Luật Cán bộ, công
chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Nghị định số
06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010; Nghị định số
34/2011/NĐ- CP ngày 17 tháng 5 năm 2011; Nghị định số
27/2012/NĐ- CP ngày 06 tháng 4 năm 2012; Thông tư số
08/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị
định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ
quy định những người là công chức.
2.1.2. Khái quát chung quy định của pháp luật hiện hành về
trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức
- Nguyên tắc: Mọi vi phạm kỷ luật đều phải bị xử lý một cách
khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật. Mỗi hành vi
vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật. Nếu có nhiều
hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi
phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức
14
tính chất, mức độ sẽ bị áp dụng các hình thức: Khiển trách; Cảnh
cáo; Cách chức; Buộc thôi việc. Riêng hình thức “cách chức” chỉ áp
dụng đối với viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
- Hình thức, thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật công chức,
viên chức:
Thời hiệu xử lý kỷ luật cho cả công chức và viên chức đều là
24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm.
Thời hạn xử lý kỷ luật đối với công chức và viên chức đều
không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp
cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời
hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng.
- Trình tự, thủ tục xem xét kỷ luật công chức, viên chức
Đối với công chức: Người đứng đầu cơ quan sử dụng công
chức chịu trách nhiệm tổ chức cuộc họp để công chức có hành vi vi
phạm pháp luật tự kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật. Người có
thẩm quyền xử lý kỷ luật quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để tư
vấn về việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với công chức có hành vi
vi phạm pháp luật (trừ các trường hợp: Công chức có hành vi vi
phạm pháp luật bị phạt tù mà không được hưởng án treo; Công chức
giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xem xét xử lý kỷ luật khi đã có kết
luận về hành vi vi phạm pháp luật của cấp ủy, tổ chức Đảng theo quy
định phân cấp quản lý cán bộ, công chức của Ban Chấp hành Trung
ương). Tổ chức họp Hội đồng kỷ luật. Ra quyết định kỷ luật.
Đối với viên chức: Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
quản lý viên chức chịu trách nhiệm tổ chức cuộc họp để viên chức có
hành vi vi phạm pháp luật tự kiểm điểm và nhận thức kỷ luật. Người
có thẩm quyền xử lý kỷ luật quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật
16
nhưng năng lực thực tiễn yếu, chưa nhạy bén trong việc bao quát tình
hình, thiếu bản lĩnh ứng phó với các vấn đề khó khăn phát sinh; một
vài công chức, viên chức được đào tạo chính quy nhưng không vận
dụng được kiến thức vào công tác, thiếu tính chuyên nghiệp. Đội ngũ
công chức, viên chức còn thiếu sự gắn kết trong hoạt động công vụ.
Một bộ phận công chức, viên chức chưa yên tâm công tác, chưa toàn
tâm toàn ý vì công việc; thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, để xảy ra
sai phạm, phải bị xử lý kỷ luật.
2.3.Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật
đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn
2.3.1. Tình hình công chức, viên chức bị kỷ luật
Từ năm 2011 đến 6 tháng năm 2017, huyện đã phát hiện và
tiến hành xử lý 34 trường hợp công chức, viên chức vi phạm. Trong
đó: 02 trường hợp kỷ luật là công chức giữ chức vụ lãnh đạo là
trưởng phòng thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Có 32 trường hợp kỷ
luật là công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
(trong đó số lượng công chức vi phạm bị xử lý kỷ luật nhiều hơn so
với viên chức). Hình thức kỷ luật cao nhất là buộc thôi việc, thấp
nhất là khiển trách. Trong đó: 08 trường hợp là khiển trách, 16
trường hợp là cảnh cáo, 02 trường hợp là cách chức, 08 trường hợp
là buộc thôi việc (trong đó số lượng viên chức bị thi hành hình thức
kỷ luật buộc thôi việc nhiều hơn công chức). Nội dung hành vi vi
phạm xảy ra chủ yếu ở lĩnh vực đất đai, xây dựng, ngân sách, đạo
đức lối sống.
2.3.2.Đánh giá chung thực tiễn thực hiện trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức huyện Hóc Môn
Mặt được: Công tác xử lí kỉ luật công chức, viên chức được
18
bộ, công chức đến gần 02 năm.Việc triển khai thực hiện các nội dung
cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin - cho”
trong hoạt động công vụ vẫn còn; thủ tục hành chính còn rườm rà.
Việc chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân ở một số
cơ quan, công chức, viên chức chưa nghiêm. Cơ chế kiểm tra, giám
sát chế độ công vụ của công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu.
Công tác thanh tra, kiểm tra về kỷ luật, kỷ cương hoạt động công vụ
chưa được quan tâm đúng mức. Công tác quán triệt của người đứng
đầu tại một số cơ quan, đơn vị chưa được thường xuyên; chưa chưa
bám sát nội dung chỉ đạo. Chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức
chưa rõ ràng. Các cơ quan, đơn vị có công chức, viên chức vi phạm
chưa chủ động xử lý theo quy định. Ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ
cương hành chính, đạo đức công vụ trong thi hành nhiệm vụ của một bộ
phận công chức, viên chức chưa cao, thậm chí có biểu hiện thích hưởng
thụ, lười biếng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân.
2.4.Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến trách nhiệm kỷ luật
đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn
Kinh tế - xã hội; văn hóa lối sống nông thôn; chính sách pháp
luật; sự công khai, minh bạch trách nhiệm kỷ luật đối với công chức,
viên chức trong cơ quan, đơn vị.
Tiểu kết Chương 2
Chương 2 là những nội dung nghiên cứu thực trạng pháp luật
hiện hành và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn nhằm đưa ra
những kết luận cho vấn đề, làm cơ sở cho những đề xuất ở chương
sau.
20
quyết đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp
luật của công chức, viên chức theo nguyên tắc “Mọi vi phạm pháp luật
đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh”.
Hai là, khắc phục được những yếu kém, hạn chế của thực
trạng quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức.
Ba là, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia rộng rãi của cán
bộ, công chức, viên chức và các đối tượng liên quan đến phạm vi
điều chỉnh và áp dụng pháp luật về trách nhiệm kỷ luật góp ý cho dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Bốn là, tạo được hành lang pháp lý toàn diện, đồng bộ và đảm
bảo tính minh bạch, rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm kỷ luật đối với
công chức, viên chức; phát huy tối đa trách nhiệm của công chức,
viên chức khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách
nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức
+ Về đối tượng áp dụng chế độ kỷ luật đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo của các đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức;
+ Về đối tượng được miễn trách nhiệm kỷ luật;
+ Về hình thức kỷ luật;
+ Về thời hiệu xử lý kỷ luật;
+ Về thời hạn xử lý kỷ luật;
+ Về thẩm quyền xử lý kỷ luật;
+ Về các quy định khác liên quan đến công chức, viên chức bị
kỷ luật;
nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức ở huyện Hóc Môn, thành
phố Hồ Chí Minh đã tạo được hiệu quả cơ bản bước đầu, thể hiện
tinh thần thượng tôn pháp luật.
Bên cạnh kết quả đạt được, tình hình vi phạm trách nhiệm kỷ
luật đối với công chức, viên chức vẫn diễn ra phức tạp; hành vi vi
phạm của công chức, viên chức khá tinh vi và biểu hiện có sự liên
kết với nhau giữa các đơn vị, chức vụ khác nhau nhất là ở các lĩnh
vực địa chính, xây dựng, ngân sách, kinh tế. Vẫn còn trường hợp
công chức, viên chức sai phạm chưa được xử lý kịp thời, hình thức
xử lý kỷ luật chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi
phạm.
Đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức,
viên chức từ thực tiễn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh”
với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên
chức trong thời gian tới.
23