4
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ LAM HỒNG
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƢƠNG ĐỨC CHÍNH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa
được công bố trong công trình nào khác. Những con số, ý kiến khoa học trong
luận văn được tham khảo và sử dụng đúng quy định.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017.
13
16
27
27
33
35
37
38
Nhà nước
Chƣơng 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người lao động khi cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nước
3.2 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo
đảm quyền lợi người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
45
45
KẾT LUẬN
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
78
Quyết định số 202-CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch
CT ngày 8/6/1992
Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục làm thí điểm
Người lao động
chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
cổ phần.
6
Nghị định 28/CP
Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 của Chính phủ về
ngày 07/5/1996
chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
cổ phần.
7
8
9
10
64/2002/NĐ-CP
phủ về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành
ngày 19/6/2002
Công ty cổ phần.
Nghị định
Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
187/2004/NĐ-CP
Chính phủ về việc chuyển công ty Nhà nước thành
ngày 16/11/2004
Công ty cổ phần.
Nghị định
Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của
109/2007/NĐ-CP
Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà
ngày 26/6/2007
14
15
Nghị định
Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính
59/2011/NĐ-CP
phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
ngày 18/7/2011
thành Công ty cổ phần.
Nghị định
Nghị định 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính
60/2013/NĐ-CP
phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao
ngày 19/6/2013
động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm
việc
16
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cổ phần hóa (CPH) Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là một trong những chủ
trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm chuyển đổi các DNNN thành Công
ty cổ phần (CTCP) - loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, dễ dàng huy động
vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, để nâng cao năng lực tài chính,
đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế cũng như bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh
nghiệp, nhà đầu tư và người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp.
CPH DNNN gắn liền với thay đổi cơ cấu công nghệ và đổi mới phương thức
quản lý doanh nghiệp sẽ có những tác động to lớn, trực tiếp, cả tác động tích cực lẫn
tác động tiêu cực đến cuộc sống của NLĐ trong doanh nghiệp CPH. Do vậy, việc đảm
bảo quyền lợi cho những NLĐ trong doanh nghiệp CPH là rất cần thiết. Thêm vào đó,
việc đảm bảo quyền lợi cho NLĐ sẽ tạo động lực để họ phát huy vai trò làm chủ thực
sự của mình, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác CPH các DNNN.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo đảm quyền lợi NLĐ trong quá
trình CPH các DNNN, trong quá trình triển khai chủ trương CPH các DNNN của
Việt Nam từ những năm 1990 đến nay, chúng ta cũng đã xây dựng được hệ thống
các quy định pháp luật làm khung pháp lý cơ bản để điều chỉnh các vấn đề liên quan
đến CPH các DNNN nói chung và vấn đề đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi CPH
DNNN nói riêng.
Tại Thông tư 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách đối với NLĐ theo quy định
tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh
nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần (đang có hiệu lực áp dụng) –
sau đây gọi tắt là Thông tư 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 hướng dẫn
Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 đã quy định tương đối đầy đủ những
quyền lợi cơ bản của NLĐ được áp dụng cho từng nhóm đối tượng trong DNNN
CPH: quyền được mua cổ phần với giá ưu đãi, được chia số dư bằng tiền của Quỹ
khen thưởng, Quỹ phúc lợi… được áp dụng chung đối với những NLĐ có tên trong
danh sách thường xuyên của doanh nghiệp tại thời điểm công bố giá trị doanh
CPH DNNN là một chủ trương lớn của Nhà nước ta được triển khai thử nghiệm
từ những năm 1990 – 1991, chính thức thực hiện từ năm 1992, được đẩy mạnh từ năm
1996 và quá trình CPH các DNNN diễn ra đến nay đã được hơn 20 năm. Trong quá
trình chúng ta tiến hành CPH các DNNN, có khá nhiều công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học về vấn đề CPH DNNN nói chung. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
2
một cách quy mô, kỹ lưỡng liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền lợi cho NLĐ trong
quá trình CPH DNNN không nhiều và chủ yếu được tiến hành trong giai đoạn đẩy
mạnh CPH DNNN ở nước ta, có thể kể đến một số công trình sau đây:
- “Chế độ, quyền lợi người lao động khi cổ phần hóa DNNN” – Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường - Khoa Pháp luật kinh tế - Trường Đại học Luật Hà
Nội, Hà Nội, 2007;
- Nguyễn Thị Minh Trang - “Bảo đảm quyền lợi của người lao động trong
quá trình cổ phần hóa DNNN với thực tiễn tại Hà Nội” – Luận văn Thạc sỹ Luật
học, Hà Nội, 2009;
- Nguyễn Xuân Vinh – “Bảo vệ quyền lợi người lao động trong và sau quá
trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: Pháp luật và thực tiễn” – Luận văn
Thạc sỹ Luật học, Hà Nội, 2009;
- Nguyễn Thanh Hải “Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước” – Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội, 2012.
Có thể thấy, trong 4 công trình khoa học nêu trên chỉ có 03 công trình Luận văn
Thạc sỹ nghiên cứu liên quan đến vấn đề quyền lợi của NLĐ trong DNNN cổ phần
hóa và có 01 là đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Ngoài các công trình nêu
trên, theo tác giả tìm hiểu thì còn có một số Khóa luận tốt nghiệp cử nhân nghiên cứu
về vấn đề này, tuy nhiên ở cấp độ Luận văn Thạc sỹ Luật học, tác giả xin phép không
trích dẫn những Khóa luận tốt nghiệp này.[37]
Đối với đề tài khoa học của Khoa Pháp luật kinh tế - Trường Đại học Luật Hà
tập trung theo các vấn đề đã được tác giả nghiên cứu trên phạm vi thành phố Hà Nội.
Đối với Luận văn của Thạc sỹ Nguyễn Xuân Vinh [45], tác giả có đưa ra được
những vấn đề cơ bản liên quan đến CPH DNNN nhưng chưa phân tích chỉ rõ tác
động của CPH DNNN đến quyền lợi NLĐ. Vấn đề này chỉ được tác giả chỉ ra trong
hơn 01 trang (trang 17-18) của Luận văn chưa cho người đọc thấy được vai trò và
sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN. Luận văn
cũng có đưa ra vấn đề kinh nghiệm CPH DNNN ở một số nước trên thế giới nhưng
chủ yếu tập trung vào vấn đề CPH nói chung mà chưa chỉ ra được kinh nghiệm áp
dụng đối với Việt Nam trong việc bảo đảm quyền lợi cho NLĐ trong quá trình CPH
DNNN. Thêm vào đó, Luận văn nghiên cứu dàn trải cả vấn đề bảo đảm quyền lợi
cho NLĐ trong quá trình CPH DNNN và sau quá trình CPH DNNN nên chưa phân
tích kỹ lưỡng được những thực trạng thực hiện pháp luật và hướng hoàn thiện cụ thể
liên quan đến bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quá trình CPH DNNN.
4
Đối với Luận văn của Thạc sỹ Nguyễn Thanh Hải [24], tại công trình của
mình, tác giả đã trình bày được vấn đề sự cần thiết phải bảo đảm quyền lợi của
NLĐ trong quá trình CPH DNNN một cách tương đối toàn diện, đầy đủ. Tuy nhiên,
công trình này chưa đi vào nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các
quy định pháp luật về vấn đề này. Thêm vào đó, mặc dù tác giả có nghiên cứu vấn
đề quyền lợi của NLĐ trong DNNN CPH theo quy định của Nghị định
59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
thành CTCP (Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011), tuy nhiên trong vấn đề
quyền lợi của NLĐ dôi dư khi sắp xếp lại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên do Nhà nước làm chủ sở hữu thì tác giả trình bày nội dung theo quy định tại
Nghị định 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2010 quy định chính sách đối với NLĐ dôi
dư khi sắp xếp lại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm
chủ sở hữu (Nghị định 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2010) – đến thời điểm hiện tại đã
trung vào các quy định pháp luật hiện hành.
- Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề bảo đảm quyền lợi NLĐ
trong quá trình CPH DNNN.
- Trên cơ sở các nhận xét, đánh giá những vấn đề có liên quan và thực tiễn bảo
đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN, Luận văn sẽ đề xuất một số
giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH các DNNN.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN là một vấn đề lớn.
Vì vậy, trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sỹ không thể giải quyết được một
cách trọn vẹn tất cả các vấn đề có liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi của NLĐ
trong doanh nghiệp CPH. Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau đây:
Đối tƣợng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật từ những năm 1990 tới
nay, tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành theo quy định tại Nghị định
59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 và Nghị định 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 về
bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN và thực trạng áp dụng các
quy định pháp luật về bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH các DNNN.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Các quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về
bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH các DNNN.
6
- Về không gian: Nghiên cứu trên bình diện chung của cả nước, tập trung hơn
vào một số doanh nghiệp thuộc Bộ xây dựng tiến hành CPH trong thời gian vừa qua
theo tìm hiểu và số liệu thu thập được của tác giả.
- Về thời gian: Các quy định của pháp luật từ những năm 1990 tới nay, tập trung vào
các quy định pháp luật hiện hành theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 (có hiệu
lực từ 05/9/2011 tới nay) về bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN.
DNNN nhằm bảo đảm quyền lợi của NLĐ. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật
hiện hành về CPH DNNN nói chung và về quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN nói
riêng sẽ góp phần thúc đẩy chủ trương CPH được tiến hành mạnh mẽ, hiệu quả, tạo
động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo
ba chương:
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƢỚC VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI CỔ PHẦN HÓA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI
NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC.
Chƣơng 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ PHƢƠNG
HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA
NGƢỜI LAO ĐỘNG KHI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1. Sự cần thiết của việc bảo đảm quyền lợi cho ngƣời lao động khi cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc
DNNN là một mô hình doanh nghiệp không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà thực
chất là một mô hình đã ra đời và tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đối
hơn. Điều này kéo theo sự thay đổi trong việc bố trí, sử dụng lao động. Thêm vào
đó, sau khi CPH thì công nghệ và quy trình sản xuất, cơ chế quản lý lao động cũng
có thể thay đổi theo hướng giảm nhu cầu sử dụng lao động. Tính chất của công
nghệ hiện đại, tiên tiến được áp dụng trong quá trình sản xuất có thể khiến cho NLĐ
trong DNNN chưa được đào tạo hoặc đào tạo không phù hợp với yêu cầu mới sẽ bị
thay thế.
Ngoài ra, không chỉ tại thời điểm CPH mà ngay cả khi CTCP đã đi vào hoạt
động, NLĐ vẫn có thể đứng trước nguy cơ bị mất việc làm. Sau CPH, doanh nghiệp
huy động được một lượng vốn lớn để đầu tư công nghệ hiện đại, cơ cấu lại sản xuất
nên những NLĐ được giữ lại làm việc theo phương án sử dụng lao động lại tiếp tục
bị mất việc làm. Một số Công ty có thể đưa ra lý do thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm
việc hay giải thể xưởng sản xuất để chấm dứt hợp đồng lao động đối với NLĐ chỉ
một thời gian ngắn sau khi CPH.
Có thể thấy, NLĐ làm việc tại DNNN có tên trong danh sách lao động dôi dư sẽ
phải đi tìm việc làm mới nhưng trong tình trạng thiếu việc làm ở nước ta vẫn chưa
được giải quyết thì điều này là tương đối khó khăn với họ. Hơn thế nữa, nhiều NLĐ
dôi dư là những NLĐ lớn tuổi, làm việc lâu năm trong DNNN thì tìm một công việc
mới đối với họ là rất khó. Những NLĐ có thể bị thất nghiệp và gia tăng sức ép lên thị
trường lao động vốn đã căng thẳng do mất cân đối giữa cung và cầu như hiện nay.
Như vậy, khi CPH DNNN, NLĐ trong các doanh nghiệp CPH đứng trước
nguy cơ mất việc làm. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp trên thực tiễn, khi giải
quyết quyền lợi về việc làm cho NLĐ tại các doanh nghiệp CPH thì các doanh
nghiệp thực hiện chưa đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của NLĐ.
1.1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tác động trực tiếp đến thu nhập
của người lao động
10
11
Một trong những mục tiêu CPH DNNN đó là tạo điều kiện cho đông đảo NLĐ
có thể sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp CPH, trở thành những cổ đông, những
người chủ thực sự của doanh nghiệp, tham gia trực tiếp vào hoạt động quản lý
doanh nghiệp. Pháp luật cũng có những quy định cụ thể để tạo điều kiện cho NLĐ
trong việc sở hữu cổ phần của doanh nghiệp CPH. Tuy nhiên, trên thực tế dù đã có
sự ưu đãi về giá cho NLĐ khi mua cổ phần nhưng mức giá ấy dường như vẫn còn
chưa phù hợp với điều kiện của họ. NLĐ thường có đối tượng có những khó khăn
về kinh tế nên họ không đủ điều kiện để mua cổ phần ưu đãi của doanh nghiệp.
Trong trường hợp mua được số cổ phần ưu đãi của doanh nghiệp đi chăng nữa thì
sau đó cũng có thể họ sẽ bán lại số cổ phần này để hưởng mức chệnh lệch về giá.
Từ đó quyền sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp của họ không được đảm bảo.
Ngoài ra, khi CPH thì việc thực hiện phân phối lợi ích từ Quỹ lương, Quỹ
khen thưởng, Quỹ phúc lợi trong doanh nghiệp để tạo điều kiện cho NLĐ được sở
hữu thêm cổ phần trong nhiều trường hợp cũng không được các doanh nghiệp tuân
thủ các quy định pháp luật khiến cho quyền - lợi ích hợp pháp của NLĐ cũng bị
ảnh hưởng. Việc không được sở hữu cổ phần của doanh nghiệp CPH khiến quyền
lợi của NLĐ bị ảnh hưởng ở nhiều khía cạnh khác nhau. NLĐ đánh mất đi cả quyền
lợi về kinh tế (không được hưởng cổ tức, không được hưởng lợi khi giá cổ phiếu
trên thị trường tăng, không được quyền mua cổ phần tăng vốn khi CTCP tăng vốn
điều lệ…) lẫn quyền lợi về quản lý doanh nghiệp khi không được tham gia Đại hội
cổ đông để bàn bạc, biểu quyết quyết định những vấn đề quan trọng của doanh
nghiệp.
Tóm lại, NLĐ làm việc tại các DNNN là những người có sự gắn bó lâu dài,
đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển của
nền kinh tế nói chung. Quá trình CPH DNNN sẽ có những tác động tích cực cũng
như tiêu cực đến đời sống của NLĐ. Do đó, công tác bảo đảm quyền lợi cho NLĐ
tiền đề, các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để người lao
động được hưởng các quyền lợi của họ khi CPH DNNN đã được pháp luật ghi
nhận. Trong các tiền đề này, tiền đề về pháp lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi
nó tạo ra những cơ sở vững chắc trong việc ghi nhận quyền cũng như bảo đảm các
quyền lợi này được thực hiện trên thực tế.
- Nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của người lao động khi cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nước:
13
Việc tạo ra các tiền đề, các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý
nhằm bảo đảm các quyền lợi cho người lao động khi CPH DNNN cần đảm bảo tuân
thủ một số nguyên tắc sau đây:
+ Đảm bảo các quyền lợi của người lao động khi CPH DNNN được tiến hành
toàn diện, đồng bộ trên các lĩnh vực như: kinh tế, xã hội, pháp lý.
+ Đối với các bảo đảm pháp lý: các quyền lợi của người lao động khi CPH
DNNN phải được pháp luật ghi nhận đầy đủ và có biện pháp tổ chức thực hiện.
+ Đảm bảo các quyền lợi của người lao động khi CPH DNNN phải đảm bảo
nguyên tắc công bằng giữa những người lao động trong DNNN cổ phần hóa.
+ Việc đảm bảo các quyền lợi của người lao động khi CPH DNNN phải hướng
đến giải quyết toàn diện các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người
lao động: vấn đề việc làm, vấn đề thu nhập, vấn đề quyền sở hữu cổ phần trong
DNNN cổ phần hóa …nhưng cần đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết việc làm
cho người lao động.
+ Các hành vi vi phạm quyền lợi của người lao động khi CPH DNNN cần
được xử lý nghiêm minh.
- Nội dung bảo đảm quyền lợi của người lao động khi cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nước:
Như đã phân tích ở mục 1.1 thì việc cổ phần hóa DNNN tác động trực tiếp đến
DNNN CPH cũng như quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi cổ phần hóa.
Những quy định này là hành lang, là khung giới hạn hành vi của doanh nghiệp trong
việc thực hiện các đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Doanh nghiệp không thể
lạm dụng quyền lực của mình cũng như không thể cắt giảm quyền lợi của người lao
động để gây ảnh hưởng đến những lợi ích mà người lao động được hưởng.
+ Pháp luật là phương tiện để người lao động động, các cá nhân, tổ chức có
liên quan kiểm soát được hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hoạt
động của DNNN cổ phần hóa và hoạt động của các đơn vị có liên quan trong quá
trình CPH DNNN, từ đó ngăn chặn được những hành vi vi phạm pháp luật và bảo
đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động khi CPH DNNN. Khi nhận thức rõ được
các quy định pháp luật, người lao động sẽ thực hiện việc bảo vệ quyền lợi của mình
một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
+ Pháp luật là phương tiện pháp lý, bằng các phương thức, cách thức, biện
pháp khác nhau để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình CPH các
15
DNNN khi các quyền lợi này bị xâm phạm. Các quy định liên quan đến xử phạt vi
phạm, các quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự đối với các
hành vi xâm phạm quyền lợi của người lao động khi cổ phần hóa DNNN sẽ là cơ
chế hữu hiệu để người lao động bảo vệ được quyền lợi của mình.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về
quyền lợi ngƣời lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc
CPH DNNN là giải pháp quan trọng và hữu hiệu mà Đảng và Nhà nước ta đã
lựa chọn sử dụng để cải cách, đổi mới DNNN. Trải qua các giai đoạn khác nhau,
với những kinh nghiệm thực tiễn được rút ra, pháp luật về CPH DNNN nói chung
và pháp luật về quyền lợi của NLĐ trong doanh nghiệp CPH nói riêng cũng có
những thay đổi cho phù hợp với đặc điểm của từng thời kỳ và quan điểm chỉ đạo
của Đảng, Nhà nước ta.
nghiệp được chọn làm thí điểm ban hành kèm theo Quyết định 202-CT ngày
8/6/1992 cũng đã khẳng định lại quyền ưu tiên mua cổ phiếu của NLĐ trong doanh
nghiệp tại điểm b Mục 4 như sau:
“…Trật tự ưu tiên về bán cổ phiếu như sau:
- Thứ nhất là bán cho công nhân viên chức đang làm việc trong doanh nghiệp.
Một số công nhân viên chức có hoàn cảnh khó khăn sẽ được ưu tiên trả chậm tiền
mua cổ phiếu (không quá 12 tháng)…”
Các chế độ khác liên quan đến NLĐ như tiền lương, bảo hiểm xã hội, hợp
đồng lao động, thoả ước lao động tập thể trong DNNN khi CPH và sau khi CPH
được Đề án dẫn chiếu đến quy định tại Thông tư số 09/LĐTBXH-TT ngày
22/7/1992 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về lao động và
chính sách đối với NLĐ trong thí điểm chuyển DNNN thành CTCP theo Quyết định
202/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, Nhà nước cho phép các
doanh nghiệp áp dụng việc sắp xếp lại lao động theo Quyết định 176/HĐBT của
Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 09/10/1989 về việc sắp xếp lại lao động trong
các đơn vị kinh tế quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành và các Thông tư
hướng dẫn kèm theo.
- Đối với những NLĐ tiếp tục làm việc tại CTCP thì họ sẽ được hưởng các
quyền lợi theo chế độ Hợp đồng lao động thỏa thuận với doanh nghiệp sau CPH.
- Đối với những NLĐ đến tuổi nghỉ hưu thì họ sẽ được hưởng chế độ hưu trí
theo quy định tại điểm c mục 3 của Quyết định 176/HĐBT ngày 09/10/1989 về việc
sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng
ban hành.
17
- Đối với những NLĐ có nhu cầu xin chuyển công tác, thì được giải quyết theo
nguyện vọng và doanh nghiệp có trách nhiệm cấp kinh phí đi đường, tiền tàu xe đến
nơi làm việc mới.
tại doanh nghiệp sau CPH sẽ được hưởng các khoản trợ cấp riêng theo pháp luật lao
động tại thời kỳ này.
Để đẩy mạnh triển khai thực hiện Quyết định số 202-CT ngày 8/6/1992, ngày
04/3/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 84-TTg về việc xúc tiến
thực hiện thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối
với các DNNN. Chỉ thị số 84-TTg có nêu: “Quyết định số 202-CT ngày 8-6-1992
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc tiếp tục làm
thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP đã ban hành hơn 8 tháng, nhưng việc
tiến hành còn quá chậm, không thực hiện được những yêu cầu và tiến độ đã quy
định. Nguyên nhân chính của các chậm trễ này là do các Bộ chức năng chưa kịp
thời hướng dẫn, cụ thể hoá những quy định của Quyết định số 202-CT; các Bộ quản
lý các đơn vị sản xuất, kinh doanh, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chưa quán triệt sâu sắc về quan điểm, nội dung CPH và chưa quan tâm
đúng mức chỉ đạo việc triển khai thực hiện công tác này…”
Có thể thấy, Quyết định 202-CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng được ban hành nhưng việc thí điểm triển khai còn chậm trễ, không thực hiện
được những yêu cầu và tiến độ đã đặt ra. Chính vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị 84-TTg ngày 04/3/1993 về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH
DNNN và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với các DNNN để đẩy
mạnh triển khai và tiến hành có hiệu quả thí điểm CPH DNNN. Điều này cho thấy
quyết tâm của Chính phủ trong việc triển khai chủ trương CPH các DNNN. Tại Chỉ
thị 84-TTg nêu trên, quyền lợi của NLĐ trong doanh nghiệp CPH về cơ bản được
quy định giống như Quyết định 202-CT ngày 8/6/1992, theo đó NLĐ được hưởng
quyền ưu tiên mua cổ phiếu trả chậm, được chia số dư từ Quỹ phúc lợi và Quỹ khen
thưởng để mua cổ phiếu. Đối với những NLĐ thuộc diện nghỉ hưu, mất sức, thôi
việc thì quyền lợi tiếp tục được giải quyết theo các quy định của pháp luật lao động
thời điểm này.
Sau 4 năm thực hiện thí điểm, ngày 07/5/1996 Chính phủ ban hành Nghị định
28-CP về chuyển một số DNNN thành CTCP (Nghị định 28-CP ngày 07/5/1996).
nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
1.3.2 Giai đoạn từ những năm 1996 đến trước năm 2011
Tiếp tục hoàn thiện hơn các quy định về CPH DNNN, ngày 29/6/1998 Chính
phủ đã ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP về chuyển DNNN thành CTCP (Nghị
định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998). Đối với vấn đề quyền lợi của NLĐ trong
DNNN CPH, so với Nghị định 28/CP ngày 07/5/1996, ngoài quyền lợi được mua cổ
20