VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH THANH TÙNG
BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
CÁC BẢN ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện
trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi. Các thông tin, số liệu, các luận điểm kế
thừa được trích dẫn rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực.
HỌC VIÊN
Trịnh Thanh Tùng
dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ..................................................... 67
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 73
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì tài sản đóng vai trò khá quan
trọng, tài sản được xem là trung tâm cho các quan hệ xã hội, cũng như là
trung tâm của quan hệ pháp luật. Thấy được tầm quan trọng to lớn của tài sản,
đồng thời để quản lý một cách chặt chẽ, có hiệu quả tài sản thì điều kiện tiên
quyết là tài sản khi quản lý, sử dụng cần một hành lang pháp lý đầy đủ điều
tiết nó. Nhằm mục đích phát huy tính chủ động của mọi tổ chức, cá nhân
trong quá trình xử lý tài sản thì điều kiện tiên quyết là cần có những quy định
chặt chẽ trong quá trình bán đấu giá tài sản nói chung và quy trình bán đấu giá
trong thi hành án các bản án về giải quyết tranh chấp về hoạt động tín dụng
ngân hàng nói riêng. Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai, có
từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và thủ tục được pháp
luật quy định. Tài sản đấu giá là động sản, bất động sản và các quyền tài sản
được phép giao dịch theo quy định của pháp luật. Người có tài sản bán đấu
giá là chủ sở hữu tài sản hoặc người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán tài
sản hoặc cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo quy định
của pháp luật. Người tham gia bán đấu giá tài sản là cá nhân, tổ chức được
phép tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo quy định của Nghị định
về bán đấu giá tài sản. Người mua được tài sản bán đấu giá là người trả giá
cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm và được coi là đã chấp nhận giao kết
hợp đồng mua bán tài sản.
Pháp luật về bán đấu giá tài sản là toàn bộ những quy phạm pháp luật
điều chỉnh lĩnh vực bán đấu giá tài sản bao gồm những quy định về nguyên
tắc, thủ tục bán đấu giá tài sản, người bán đấu giá tài sản và quản lý nhà nước
theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước; Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/1/2013 Quy
2
định về Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro
và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày
18/3/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TTNHNN ngày 21/1/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương
pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong
hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nghị định
số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3/2010 thay thế Nghị định số 05/2005/2005/NĐCP có hiệu lực tử ngày 01/7/2010, Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14,
Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản.
Để giải quyết bài toán cả lý luận và thực tiễn về bán đấu giá tài sản đặc
biệt trong hoạt động tín dụng ngân hàng, tác giả đã lựa chọn đề tài “Bán đấu
giá tài sản trong thi hành án các bản án giải quyết tranh chấp về hoạt động
tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” làm đề tài Luận văn thạc
sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số công trình nghiên cứu về bán đấu giá tài sản như: Tác giả Đỗ
Khắc Trung (2007), “Bán đấu giá tài sản - thực trạng và hướng hoàn thiện”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2007; Tác giả Nguyễn Mạnh Cường
(2008), “So sánh đấu giá hàng hóa trong luật Thương mại với đấu giá tài sản
trong Luật Dân sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2008; Tác giả Đặng
Thị Bích Liễu (2012), “Pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ Luật học; Bộ Tư pháp - Vụ Bổ trợ Tư pháp: Các quy định
nước ngoài về bán đấu giá tài sản, Luật về bán đấu giá tài sản của Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa, (Tài liệu dịch tham khảo) tháng 7, 2004. Tác giả Bùi
Thị Thu Hiền (2014), Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự theo pháp
4
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật hiện
hành về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự; đồng thời, đánh giá thực
trạng hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án các bản án giải quyết
tranh chấp về hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích pháp luật hiện hành và đánh giá thực
trạng việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án các bản án giải quyết tranh
chấp về hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong 03
năm (từ năm 2014 đến 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa
duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh, diễn dịch và quy nạp. Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử
dụng ở cả 03 chương để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, cũng như đánh giá
thực trạng và đề xuất phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
liên quan đến bán đấu giá tài sản trong thi hành án các bản án giải quyết tranh
chấp về hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Phương
pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm đánh giá
đúng và đầy đủ thực trạng thực hiện pháp luật liên quan đến bán đấu giá tài
sản trong thi hành án các bản án giải quyết tranh chấp về hoạt động tín dụng
ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, cả về những kết quả đạt được, những
hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong hoạt động này.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH CÁC BẢN ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1. Khái quát về hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi
hành án dân sự
1.1.1.1. Khái niệm
Để tìm hiểu khái niệm về hoạt động bán đấu giá trong thi hành án dân
sự trước tiên ta tìm hiểu khái niệm về bán đấu giá tài sản.
Từ trước đến nay người ta vẫn hiểu bán đấu giá tài sản là việc bán tài
sản công khai mà cóa nhiều người cùng muốn mua một tài sản,mỗi người sẽ
trả một giá theo nhu cầu cũng như điều kiện kinh tế của mình, người trả giá
cao nhất phù hợp với yêu cầu của người bán sẽ được mua tài sản.
Tuy nhiên, xét trên phương diện lý luận thì có khá nhiều khái niệm khái
nhau về bán đấu giá tài sản như:
Theo như Luật về bán đấu giá tài sản của Trung Quốc “bán đấu giá là
hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản
được bán cho người trả giá cao nhất” [38].
Tại Mỹ theo như đạo luật Floriada cho “Bán đấu giá tuyệt đối" là cuộc
bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán
cho người trả giá cao nhất [38].
Tựu chung lại các khái niệm ở trên thì việc bán đấu giá sẽ thành công
khi giá được trả cho tài sản bán đấu giá là cao nhất.
Còn ở Việt Nam thì theo Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày
17/11/2016 quy định: Đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người
trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc: Tuân thủ quy định của pháp luật;
8
+ Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung
quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ
quốc gia;
+ Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về
quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh
nghiệp;
+ Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy
định của pháp luật về phá sản;
+ Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng
đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết
cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
+ Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về
khoáng sản;
+ Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng
theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
+ Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp
luật về tần số vô tuyến điện;
+ Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức
mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ
xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá.
Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán
thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản số
01/2016/QH14.
10
và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê
biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức
bán đấu giá thực hiện. Đương sự có quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá
trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành
viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do
đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp
hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá
tài sản. Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá. Việc bán đấu giá đối với động sản phải
được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể
từ ngày ký hợp đồng.
1.1.1.2. Đặc điểm
a) Việc bán đấu giá trong thi hành án dân sự có sự tham gia của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
Trong thi hành án dân sự, việc bán đấu giá tài sản có sự tham gia của
người bị thi hành án tức là người có tài sản bị đem bán đấu giá, tổ chức làm
dịch vụ đấu giá và sự tham gia của Cơ quan thi hành án dân sự. Ở đây, Chấp
hành viên sẽ quyết định lựa chọn tổ chức làm dịch vụ đấu giá tài sản, tiến
hành ký các hợp đồng có liên quan đến đấu giá tài sản trong thi hành án. Bên
cạnh đó, một số tỉnh thành phó chưa có tổ chức bán đấu giá thì Chấp hành
viên đứng ra bán đấu giá tài sản phải thi hành án tại địa phương đó; mặt khác
cũng có trường hợp tài tổ chức làm dịch vụ đấu giá tài sản không đồng ý hợp
đồng đấu giá tài sản thì Chấp hành viên cũng tự tiến hành đấu giá tài sản phải
thi hành án dân sự. Chấp hành viên được xem là đại diện cho cơ quan thi hành
án tham gia vào hoạt động đấu giá thi hành án dân sự
b) Việc bán đấu giá trong thi hành án dân sự mang tính cưỡng chế
12
Bán đấu giá tài sản được tổ chức bán công khai, có nhiều người tham
gia trả giá để cho những người có nhu cầu có thể tham gia đấu giá để mua tài
sản. Pháp luật dân sự quy định đấu giá là hình thức công khai lựa chọn người
mua nên mọi vấn đề có liên quan đến cuộc bán đấu giá và những thông tin về
tài sản, bán đấu giá phải được công khai cho tất cả những người muốn mua
biết bằng hình thức: niêm yết, thông báo, trưng bày, giới thiệu về tài sản; công
khai về thời gian, địa điểm tiến hành bán đấu giá; tên loại tài sản bán đấu giá;
số lượng, chất lượng, giá khởi điểm; địa điểm trưng bày, các hồ sơ tài liệu liên
quan đến tài sản; công khai họ tên người bán hàng, tên tổ chức bán đấu giá và
cá nhân, tổ chức đăng kí mua và tại phiên đấu giá, người điều hành bán đấu
giá phải công khai các mức giá được trả và họ tên người mua trả giá cao nhất
của mỗi lần trả giá...
Thực tiễn cho thấy thì việc bán đấu giá tài sản thi hành án hầu hết thực
hiện duy nhất bằng hình thức công khai, trực tiếpbằng lời nói tại cuộc đấu giá,
điều này sẽ đảm bảo tính an toàn và tránh rủi ro so với Đấu giá bằng bỏ phiếu
trực tiếp tại cuộc đấu giá; Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp. Ngoài ra, hình
thức đấu giá trực tuyến hầu như chưa được áp dụng.
d) Tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự
Tài sản được đem ra bán đấu giá thường có giá trị tương đương hoặc
lớn hơn với giá trị phải thi hành theo phán quyết của Tòa án bản án, ở đây tài
sản được bán đấu giá được xác định rõ ràng, không phải là tài sản bất kỳ
thuộc sở hữu của người phải thi hành án
Bên cạnh đó tài sản đem đi bán đấu giá theo phán quyết của Tòa án
nhất thiết phải được xác định giá trị một cách rõ ràng, dễ dàng, để làm cơ sở
cho việc thi hành án một cách chuẩn xác; một khi tài sản không được xác định
rõ ràng về mặt giá trị thì không được sử dụng làm tài sản thi hành án
14
biên tài sản, gây khó khăn cho việc định giá tài sản bán đấu giá, bỏ trốn cùng
với tài sản bán đấu giá... Ngoài ra, người phải thi hành án cũng lợi dụng khe
hở của pháp luật để tiến hành Làm đơn khiếu nại có tranh chấp đối với nhà
đất đã được bán đấu giá, từ đó mà tài sản khi đã đưa ra bán đấu giá tài sản vẫn
coi là bị tranh chấp; nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do các văn bản
pháp luật không có quy định cụ thể và các cơ quan quản lý hành chính nhà
nước về đất đai cũng không có cơ sở, căn cứ nào để xác định cụ thể trường
hợp nào thì được coi là có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó,
nhằm trì hoãn việc phải thi hành án, đối tượng vay vốn còn cố tình thực hiện
các biện pháp khiếu nại vượt cấp, tồn tại rất nhiều trường hợp người phải thi
hành án nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến các cấp mặc dù qua nhiều lần giải
quyết đúng pháp luật bản án vẫn được giữ nguyên, đây được xem là hình thức
chống đối nhằm mục đích kéo dài thời gian thi hành án, khiến cho việc thực
thi các kết luận của Tòa án không hiệu quả.
- Việc đấu giá thành công tài sản đảm bảo trong thi hành án cũng thông
thường đạt tỷ lệ thấp mà nguyên nhân sâu xa cũng xuất phát từ tâm lý của
người mua tài sản đấu giá, người mua tài sản thường có tâm lý e ngại khi mua
tài sản bán đấu giá thi hành án của các bản nói chung và các bản án tranh chấp
hoạt động tín dụng nói riêng, họ cho rằng việc tiếp tục sở hữu một tài sản phải
đem bán đấu giá sẽ gặp những điều không may mắn trong công việc, làm ăn
sau này; ngoài ra chính sự bất hợp tác của người phải thi hành án trong công
cuộc bàn giao tài sản đấu giá, cũng như chuyển nhượng giấy tờ sở hữu hợp
pháp của tài sản đấu giá sau khi đấu giá thành công cũng khiến người mua tài
sản đấu giá rất e ngại khi mua tài sản bán đấu giá; tài sản đấu giá phải giảm
giá nhiều lần cũng như đem ra bán đấu giá khá nhiều lần mới thành công
- Một số bản án được giải quyết theo hình thức tổ chức tín dụng nhận
lại tài sản bán đấu giá để trừ vào nợ gốc, nợ lãi của khoản vay; tuy nhiên thực
16
xấu trở thành tất yếu khách quan, đóng vị trí quan trọng, sống còn cho sự an
toàn, phát triển bền vững hệ thống của các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, để các tổ chức tín dụng có thể xử lý nợ xấu triệt để, điều
kiện tiên quyết là cần một hành lang phát lý đủ mạnh, đầy đủ, trở thành công
cụ vững chắc cho các tổ chức tín dụng tiến hành xử lý nợ xấu. Hiện nay, cơ sở
pháp lý cho việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại đã được ngân
hàng nhà nước quy định cụ thể trong: Luật số 47//2010/QH12 ngày 16/6/2010
về Luật các tổ chức tín dụng; Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày
25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm
theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước; Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/1/2013 Quy
định về Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro
và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày
18/3/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TTNHNN ngày 21/1/2013 Quy định về Phân loại tài sản có, mức trích, phương
pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong
hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong
những cách hiệu quả để ngân hàng, các tổ chức tín dụng xử lý được nợ xấu
của mình là kiện ra tòa để tiến hành bán đấu giá tài sản đảm bảo của bên vay
vốn [24].
Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó có
nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều khá rõ ràng về bán đấu giá tài
sản thi hành án như [17]:
17
trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản
cho người mua được tài sản bán đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp
trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt
hại cho người mua được tài sản bán đấu giá thì phải bồi thường.
+ Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án
theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá.
Trong thời gian chưa giao được tài sản, cơ quan thi hành án dân sự làm
thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng theo hình thức gửi tiền có kỳ
hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản, phần lãi tiền gửi được cộng vào
số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp không giao được tài sản thì
phần lãi tiền gửi thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp
có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác.
Trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao
được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền
yêu cầu hủy bỏ hợp đồng.
+ Trường hợp sau khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài
sản từ chối mua hoặc đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa
thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào thì khoản tiền đặt trước thuộc về ngân
sách nhà nước và được sử dụng để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm
ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi
phí cần thiết khác.
Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không thực hiện đầy
đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì tiền thanh
toán mua tài sản đấu giá được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán
tài sản bán đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản.
19
quyền và nghĩa vụ của tổ chức bán đấu giá; quyền và nghĩa vụ của đấu giá
viên.
- Nhóm quy phạm điều chỉnh về quản lý nhà nước đối với bán đấu giá
tài sản. Nhóm quan hệ này gồm tổng hợp các quan hệ pháp luật xác định
quyền hạn, nhiệm vụ, nội dung quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm
quyền.
Pháp luật về bán đấu giá là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chính các quan hệ xã
hội trong hoạt động bán đấu giá. Văn bản pháp luật quan trọng đánh dấu sự
phát triển của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bán đấu giá. Nghị định
số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản là văn bản pháp luật chuyên ngành,
là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, cùng với Nghị định số 05/2005/NĐ-CP thì còn có nhiều văn
bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh hoạt động bán đấu giá tài sản như Bộ
Luật Dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật Quản lý và sử dụng
tài sản nhà nước năm 2008; Luật kinh doanh bất động sản năm 2005; Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ về bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu
tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30
tháng 10 năm 2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29
tháng 10 năm 2004 về thi hành luật đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐCP
ngày 25 tháng 05 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai; Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày
21