d
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỖ MẠNH TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN
GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TY: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỖ MẠNH TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN
GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TY: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính- Ngân Hàng
Mã Số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Lê Đạt Chí
khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt
Nam”, tôi đã vận dụng các kiến thực học tập của mình và với sự trao đổi, hướng
dẫn góp ý của Giáo viên hướng dẫn để thực hiện đề tài Luận văn Thạc sĩ này.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong
Luận văn Thạc sĩ này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Các kết quả của Luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu
nào. Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Đạt Chí.
TP.HCM, Ngày 10 Tháng 09 Năm 2017
Học viên thực hiện Luận văn
Đỗ Mạnh Tuấn
2.4.1 Thanh khoản tại Ngân hàng là gì? ......................................................... 15
2.4.2 Mô hình đo lường sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của
ngân hàng .......................................................................................................... 20
2.5 Những bằng chứng ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị
doanh nghiệp hoặc ngân hàng................................................................................ 22
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .......................... 29
3.1
Ảnh hưởng trạng thái thanh khoản đến giá trị ngân hàng ...................... 30
3.2
Đo lường sự sụt giảm giá trị thanh khoản của tài sản (Liquidity
Discount) .................................................................................................................. 32
3.3
Kiểm định dữ liệu ......................................................................................... 45
4.2
Kiểm định tính dừng .................................................................................... 46
4.3
Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi- kiểm định White. ............... 49
4.4
Trạng thái thanh khoản ròng của các ngân hàng theo thời gian ............ 49
4.4.1. Kết quả hoạt động của các ngân hàng theo thời gian ............................. 49
4.4.2. Trạng thái giảm thanh khoản thay đổi như thế nào theo thời gian? ....... 50
4.5 Kết quả ước lượng tổng quát mô hình GLS, GLM, FEM và REM ............ 56
4.5.1 Kết quả ước lượng tổng quát mô hình GLS, GLM, FEM và REM ........... 56
4.5.2 Kiểm định việc lựa chọn giữa mô hình FEM và REM .............................. 59
4.6 Thảo luận kết quả ước lượng FEM ................................................................. 60
4.7 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy PVAR.................................................... 66
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ....................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bảng
Tên Bảng
Trang
Bảng 3.1
Danh sách các ngân hàng trong nghiên cứu
Bảng 3.2
Tóm tắt các biến chính sử dụng trong bài
Bảng 3.3
Thống kê mô tả các biến
44
Bảng 4.1
Kiểm định đa cộng tuyến
46
Bảng 4.2
Kết quả kiểm định tính dừng Levin–Lin–Chu, 2002
khoản giảm của các ngân hàng Việt Nam
Bảng 4.8
Kết quả ước lượng mô hình GLS, GLM, FEM và REM
Bảng 4.9
Kết quả kiểm định Hausan
60
Bảng 4.10
Kết quả ước lượng mô hình FEM
61
Bảng 4.11
Kết quả ước lượng VAR cho Cash và LD
63
Bảng 4.12
Kết quả ước lượng VAR cho tất cả các ngân hàng Việt
67
57-58
Đồ thị biểu diễn sự thay đổi theo thời gian của
48
chuỗi dữ liệu
1
TÓM TẮT
Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh
khoản lên giá trị công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các Ngân hàng Đài Loan”
của Shih-Kuo Yeh và các cộng sự (2016) với mẫu nghiên cứu gồm các ngân hàng
và công ty tại chính tại Đài Loan, bài nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu
phân tích sự ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị của các tổ chức tài
chính, cụ thể là các ngân hàng tại Việt Nam. Tính thanh khoản được nghiên cứu
trong trường hợp thị trường đang ghi nhận sự sụt giảm, đó chính là tính giảm thanh
khoản (Liquidity Discount) và giá trị của công ty được đánh giá thông qua các chỉ
số đánh giá khả năng năng sinh lời, như là ROE, ROA... Nghiên cứu cũng phân các
ngân hàng Việt Nam thành ba nhóm: Safe Banks, Crisis- contagious Banks và
Liquidity- vulnerable Banks để phân tích chi tiết. Thông quan mô hình FEM và mô
hinh PVAR với dữ liệu bảng, có tần suất theo quý, từ năm 2010 đến năm 2016, bài
nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng
thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”, đã đạt được những kết quả chính như
sau: Thứ nhất, những nhân tố nội tại (the bank’s inside factors) ảnh hưởng đến sự
sụt giảm tính thanh khoản của các ngân hàng Việt Nam bao gồm: Currentratio (Khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn), Debtratio (Tỷ lệ nợ), Cash (Tỷ lệ tiền mặt trên vốn
cổ phần), Size (Quy mô giá trị tài sản của ngân hàng). Trong đó, Currentratio (Khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn) và Cash (Tỷ lệ tiền mặt trên vốn cổ phần là ảnh
có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia
tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này
có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng
tăng. Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy làm cho giá chứng khoán sụt
giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng
trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất
động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh
doanh.
Tại Việt Nam, không nằm ngoại lệ, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam chịu
ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế trên là không tránh được.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang dần phục hồi như hiện nay, hoạt động của Ngân
hàng là rất nhạy cảm với các yếu tố thay đổi của nền kinh tế vĩ mô và các chính
3
sách của Nhà nước. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng thương mại nói riêng mà còn tác động đến thị trường tiền tệ và hệ
thống tài chính nói chung. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án số
254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) mà trọng tâm là các ngân
hàng thương mại (NHTM). Sau gần 04 năm thực hiện, một số các NHTM yếu kém
đã được sáp nhập với nhau, hoặc sáp nhập vào các NHTM lớn; một số NHTM hoạt
động yếu kém, nợ khách hàng lớn hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu, NHNN đã mua
với giá 0 VND và nhận nợ thay, chuyển sang mô hình Ngân hàng trách nhiệm hữu
hạn một thành viên, sau đó giao cho Vietcombank và Vietinbank quản lý, điều
hành. Ổn định để phát triển bền vững là mục tiêu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam
đang hướng tới. Một hệ thống ngân hàng được xem là phát triển không chỉ thể hiện
ở quy mô, doanh số huy động và cho vay tăng lên, thị phần mở rộng; mà còn phải
thể hiện ở năng lực quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp và tính chịu trách nhiệm
cao của Ban lãnh đạo các ngân hàng. Việc đẩy mạnh các biện pháp xử lý hậu tái cấu
tính thanh khoản đến giá trị của các ngân hàng tại Đài Loan. Trong nghiên cứu của
Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) tính thanh khoản được phân tích chính là
Liquidity Discount, hay là tính thanh khoản đang ở trạng thái giảm. Vì vậy, việc
nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc sụt giảm tính thanh khoản đến hoạt động của các
Ngân hàng thương mại Việt Nam là điều cần thiết.
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu với đề tài quản trị thanh khoản tại các NHTM
Việt Nam, như là nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hiền (2013), Đoàn Thị Vân Khanh
(2013), Trần Ngọc Trà Mi (2014), Lê Quốc Toản (2016). Hay cũng có đề tài phân
tích đề tìm ra nguyên nhân nào ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của các
NHTM Việt Nam, như là: Trương Quang Thông (20130, Phạm Duy Hưng (2013),
Nguyễn Thị Băng Thanh (2013), hay Nguyễn Văn Phương (2015)
Tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào việc phân tích những nhân tố
ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản ròng của các NHTM Việt Nam, hoặc là
nghiên cứu sự thiếu hụt thanh khoản sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của
các NHTM Việt Nam. Theo nghiên cứu của tác giả, tác giả chưa tìm thấy được
nghiên cứu nào phân tích sự ảnh hưởng của việc sụt giảm tính thanh khoản sẽ ảnh
hưởng như thế nào đến giá trị của các NMTM Việt Nam. Cần phân biệt rõ là sụt
giảm tính thanh khoản khác với thiếu hụt thanh khoản. Thiếu hụt thanh khoản có thể
5
là do việc quản trị không tốt nguồn vốn và tài sản của ngân hàng, dẫn đến việc các
ngân hàng mất cân đối nguồn tiền và không đủ khả năng chi trả cho các nghĩa vụ nợ
đến hạn. Còn sụt giảm tính thanh khoản chính là khả năng chuyển đổi thành tiền
của tài sản giảm, thường xảy ra khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống và lãi suất tang
cao, như Shih –Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã định nghĩa trong nghiên cứu tại
Đài Loan.
Vì vậy, cần thiết để nghiên cứu về vấn đề khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống dẫn
đến sự sụt giảm tính thanh khoản, thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của các
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, tác giả thảo
luận các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của
tính thanh khoản đến giá trị của công ty.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Trong chương này, tác giả thảo luận
phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, mô tả cụ thể nguồn thu thập số liệu
cũng như mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích thực nghiệm. Trong chương này, tác giả trình bày và thảo luận
kết quả nghiên cứu chính đã đạt được, so sánh kết quả với các nghiên cứu trước đó
để rút ra kết luận.
Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả trình bày những kết luận chính và
một số hạn chế của nghiên cứu.
7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trong chương 2, tác giả tập trung thảo luận các lý thuyết nền tảng cho thấy có tồn
tại mối quan hệ giữa sự thay đổi tính thanh khoản và gía trị của công ty (Firm
Values). Chương này cũng điểm lại một số nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả
khác từ trước đến nay.
2.1 Tính chất đặc trưng của ngân hàng thương mại
Vì nghiên cứu tập trung vào việc phân tích sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến
giá trị của ngân hàng, mà ngân hàng lại là một loại hình công ty có những đặc thù
riêng. Nên, cần thiết để tóm lược một cách cơ bản về tính chất đặc trưng của ngân
hàng cũng như hiểu rõ trạng thái thanh khoản ngân hàng đóng vai trò như thế nào.
2.1.1 Ngân hàng thương mại khác gì so với doanh nghiệp thông thường
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và
quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, và ngược lại, kinh tế
hàng hoá phát triển mạnh mẽ thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở
thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng
vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng
này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là
người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi
suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và
người đi vay...
Chức năng trung gian thanh toán:
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản
tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền
gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi
như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy
theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp
9
chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một
phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức
năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh
toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát
triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình
sản vô hình, do đó nó không có nghĩa là cổ phiếu được định giá quá cao cho khi
mới gia nhập thị trường. Ví dụ, các công ty công nghệ sẽ có chi phí thay thế tương
đối thấp đối với tài sản của họ so với giá trị thị trường so với công ty đó sản xuất
máy móc công nghiệp. Trong khi đo ROE lại phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp trong đó vốn chủ sở hữu, chỉ số này thông thường lớn hơn ROA gấp
nhiều lần. Các nhà đầu tư thường so sánh ROE với các cổ phiếu cùng ngành trên thị
trường. Từ đó quyết định và lựa chọn mua cổ phiếu công ty có triển vọng. Tỷ số
ngày càng cao có nghĩa doanh nghiệp sử dụng vốn của cổ đông càng hiệu quả.
Trong nghiên cứu này Tobin Q được tính như sau:
𝑇𝑜𝑏𝑖𝑛′ 𝑄 =
𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻 + 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑛ợ
𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻 + 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑛ợ
≈
𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻
(1)
𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻
𝑅𝑂𝐸 =
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
(2)
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛
Trong đó giá trị sổ sách được tính toán dựa trên bảng cân đối kế toán và đó là
sự khác biệt giữa tổng tài sản và nợ phải trả của công ty (Giá trị sổ sách của VCSH
= (Vốn chủ sở hữu – tài sản vô hình)/Tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành)). Giá
trị thị trường của VCSH là giá giao dịch của chính cổ phiếu đó trên thị trường.
2.2 Lý thuyết về thanh khoản của tài sản, tài sản tài chính
2.2.1 Mô hình thị trường thanh khoản thấp
trường tài sản không có tính thanh khoản.
Thứ hai, lúc giá trị tới hạn khi K = 0, thanh khoản không ảnh hưởng đến giá trị tài
sản. Dựa trên Chen (2012) của lý luận, khi thị trường thanh khoản thấp vô cùng, có
là không có giao dịch cho phép cho các tài sản. Sau đó giá của tài sản không thanh
khoản (𝑉T∗) có thể được tính bằng phương trình sau
𝑉𝑇∗ =
𝟏
(𝑬[𝑽𝑻 ] − 𝜷$ {𝑬[𝑽𝑻 ] − 𝑹(𝒕, 𝑻)𝒀𝑻 })(𝟓)
𝑹(𝒕, 𝑻)
Với, 𝑹(𝒕, 𝑻) = 𝒆𝒓(𝑻−𝒕) là lãi suất phi rủi ro. 𝜷$ =
𝑪𝒐𝒗[𝑽𝑻 ,𝒀𝑻 ]
𝑽𝒂𝒓[𝒀𝑻 ]
hệ số Beta Dollar, hay
chính là hệ số đo lường rủi ro hệ thống của tài sản tài chính. Vậy, theo Shih –Kuo
12
Yeh và các cộng sự (2015), gía trị tài sản không có thanh khoản có thể ước tính theo
(03) với điều kiện là tài sản đó không còn được đo lường trên thị trường.
2.2.2 Mô hình thị trường thanh khoản hoàn hảo
Theo đề xuất của Chen (2012), khi nền kinh tế là “bình thường” và thị trường
là thanh khoản hoàn hảo, thì phải là trường hợp giá trị mặc định chỉ có thể xảy ra do
các nguyên nhân kinh tế. Kết quả là, chúng ta có thể áp dụng các cấu trúc Geske
(1977) lựa chọn mô hình hỗn hợp để đánh giá giá trị tài sản khi nền kinh tế không
Khi nền kinh tế chịu áp lực thanh khoản thì giá trị tài sản sẽ bị ảnh hưởng do
thiếu thanh khoản. Kết quả mặc định về kinh tế 𝑉𝑇1 < 𝑉̅𝑇1 và mặc định thanh khoản
𝑉𝑇∗1 < 𝐹1 .
13
Để thực hiện thực nghiệm các mô hình giảm tính thanh khoản, thời giá của
dòng tiền ra năm đầu tiên được mặc định là 𝐹1. Đối với 𝐹2, tổng hợp các luồng tiền
mặt năm thứ hai và một nửa trong số tiền mặt còn lại. Thời gian đáo hạn 𝑇1 và 𝑇2
được cố định một đến hai năm, tương ứng. Sau đó, chúng ta có thể sử dụng thông
tin thị trường để hiệu chỉnh giá trị tài sản thanh khoản 𝑉𝑡 và giá trị tài sản thanh
khoản 𝑉𝑡 *.
2.3 Lý thuyết về thanh khoản trong thị trường chứng khoán.
Trong thị trường chứng khoán, thanh khoản được hiểu là một khái niệm trừu tượng
với rất nhiều định nghĩa khác nhau. Hiểu một cách đơn giản nhất thanh khoản là
mức độ dễ dàng của việc giao dịch một chứng khoán nào đó. Hiểu một cách thực tế
hơn thị trường được coi là thanh khoản khi mà các chi phí giao dịch tương ứng
được tối thiểu hóa các thành phần cấu thành nên tính thanh khoản bao gồm: chi phí
tìm kiếm đối tác giao dịch, chi phí rủi ro tồn đọng do trì hoãn giao dịch, rủi ro lựa
chọn đối nghịch và các rủi ro do bất hoàn hảo thị trường (Kyle, 1985).
Dự trên lý luận này nhiều tác giả đã phát triển rủi ro thanh khoản khác nhau
và mỗi thước đo tập trung khai thác một khía cạnh trong định nghĩa về thanh khoản.
Tiêu biểu như Amihud (2002) đo lường thanh khoản bằng độ nhạy cảm của giá,
Lesmond và cộng sự (1999) đo lường thanh khoản bằng tần suất giao dịch có tỉ suất
sinh lời bằng 0 hay Roll (1984) đo lường thanh khoản dựa trên chênh lệch hỏi mua
chào bán.
Thước đo chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại không có sẵn trong các thị
trường mới nổi. Do đó, để ước lượng về thanh khoản trong thị trường này, nhiều
học giả đã đưa ra những cách đo lường khác nhau. Trong đó phương pháp phổ biến
(10)
Trong đó Ridy là tỷ suất sinh lời của chứng khoán i vào ngày d năm y,
VKidy là khối lượng giao dịch hằng ngày, Diy là số ngày trong đó dữ liệu sẵn có
cho chứng khoán i trong năm y.
Theo Amihud và các cộng sự (1997), tỷ lệ thanh khoản liên quan đến sự thay
đổi đơn vị trong giá chứng khoán, tỷ lệ thanh khoản cao ngụ ý thanh khoản thị
trường lớn hơn.
𝐿𝑅 = ∑ 𝑉𝐾𝑖𝑑 / ∑ |𝑅𝑖𝑑 | =
𝑦
𝑦
∑𝑁𝑡
𝑛=1 𝑝𝑛 𝑣𝑛
∑𝑦 |(
𝑝𝑖𝑑
𝑝𝑖(𝑑−1)
− 1) ∗ 100|
(11)
Trong đó VKid là khối lượng giao dịch hằng ngày, Rid là tỷ suất sinh lợi của
chứng khoán i vào ngày d. ước lượng khối lượng giao dịch khi có 1% thay đổi trong
giá chứng khoán hoặc so sánh khối lượng giao dịch với những thay đổi tuyệt đối
trong giá chứng khoán tại một thời điểm nào đó.
2.4 Lý thuyết về thanh khoản ngân hàng
thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn.
(Duttweiler, 2009). Như vậy, ở đây đã xác định trạng thái thanh khoản của một
ngân hàng là gì, đó là khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ của NHTM.
Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng:
16
Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng, rủi ro thanh khoản có thể
đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân
đối tài sản của ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2010),
có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản
thường xuyên là: “Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau
đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn. Do đó nhiều ngân hàng phải
đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.”
“Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất. Khi lãi suất tăng,
nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn.
Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng
với lãi suất thấp đã thỏa thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến
luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân
hàng”. “Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn
hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào
ngân hàng.”
Ở nguyên nhân thứ hai, sự sụt giảm tính thanh khoản của ngân hàng đến từ sụt giảm
giá trị của các tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ. Dẫn đến khó khăn trong việc
chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Lý thuyết về đo lường thanh khoản và các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản
của các NHTM
Trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ lệ thanh khoản để đưa ra các biện
pháp quản lý rủi ro thanh khoản tốt hơn. Tỷ lệ mà các nghiên cứu trước đây sử dụng