Thực trạng quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tỉnh lai châu giai đoạn 2012 – 2016 - Pdf 46

LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội không những là một loại hình bảo hiểm, mà nó còn là
một cơ chế bảo vệ người lao động trong trường hợp người lao động bị mất hoặc
giảm thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn do mất khả năng lao động. Bảo hiểm Xã
hội là một chính sách quan trọng của hệ thống an sinh xã hội của đất nước. Trong
những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực, cố gắng
vượt bậc của ngành Bảo hiểm Xã hội nên các chế độ Bảo hiểm xã hội được thực
hiện ngày càng tốt hơn, công tác thu - chi, quản lý quỹ và giải quyết chính sách
Bảo hiểm xã hội cho các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội theo Luật định đi
vào nề nếp, đem lại lợi ích cho người lao động và niềm tin cho những người
tham gia Bảo hiểm xã hội và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội.
Trước tình hình Việt Nam hội nhập kinh tế, nguồn vốn đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam ngày càng tăng, công tác tạo công ăn việc làm cho người lao động
được chú trọng hơn và đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Đối
tượng tham gia Bảo hiểm xã hội ngày được mở rộng hơn trước, với nhiều đối
tượng làm việc trong các lĩnh vực khác nhau. Vì thế công tác quản lý ngày càng
phức tạp hơn đặc biệt là trong khu vực Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và khu
vực có vốn đầu tư từ nước ngoài. Đáp ứng yêu cầu đó đòi hỏi công tác quản lý
thu - chi, quản lý quỹ, quản lý đối tượng,..vv phải không ngừng được nâng cao,
đội ngũ cán bộ phải được đào tạo lại thường xuyên , nâng cao trình độ để phục
vụ cho đối tượng tham gia. Trong đó quản lý đối tượng tham gia có vai trò quan
trọng trong sự phát triển Bảo hiểm xã hội của tỉnh Lai Châu nói riêng và hệ
thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung. Trước tình hình đó, em đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài “ Thực trạng quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội
tỉnh Lai Châu giai đoạn 2012 – 2016”.


Mục đích của đề tài là nghiên cứu, xem xét đánh giá quá trình thực hiện
công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã
hội tỉnh Lai Châu. Từ đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện BHXH nói chung và trong công

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

TP

Thành phố

TLTC

Tiền lương tiền công

BHYT

Bảo hiểm y tế

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM
GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI



pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng;
+ Cán bộ, công chức, viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân
dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được
hưởng sinh hoạt phí;
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có
hưởng tiền lương;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
* Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
+ Các Công ty Nhà nước thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước đang
trong thời gian chuyển đổi thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Cổ
phần theo Luật Doanh nghiệp.


+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; Tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội
khác;
+ Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;
+ Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo; y
tế; văn hóa; thể dục thể thao; khoa học và công nghệ; môi trường xã hội; dân số,

- NSDLĐ tham gia BHTN:
+ Là người sử dụng lao động có từ 10 người lao động trở lên tại các cơ
quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau đây:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân
+ Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, đơn vị
sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã
hội và tổ chức xã hội khác.
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
+ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho người lao động.

2. Phạm vi quản lý
- Quản lý các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt
buộc trên địa bàn quản lý theo sự phân bố của cấp quản lý.
- Quản lý người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trong từng
đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn quản
lý theo sự phân cấp quản lý.
- Quản lý mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của những người lao
động tham gia BHXH bắt buộc và tổng quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH


bắt buộc của các đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH.
- Quản lý mức thu nhập đăng ký đóng BHXH tự nguyện của người tham
gia BHXH tự nguyện; mức đóng BHYT của Người tự nguyện tham gia BHYT.
3. Nội dung quản lý đối tượng tham gia BHXH
Nội dung chính của công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bao gồm:
- Quản lý danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc trong từng đơn vị
sử dụng lao động; danh sách điều chỉnh lao động và mức lương đóng BHXH bắt
buộc.

Hệ thống pháp luật mà các nhà quản trị có thể dựa vào đó để quản lý đối
tượng tham gia BHXH bao gồm: Pháp luật về lao động, pháp luật về BHXH và
các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật
đầu tư, Luật Hợp tác xã, Luật Sĩ quan Công an nhân dân, Luật Sĩ quan Quân đội
nhân dân…
6. Hồ sơ tham gia BHXH, BHTN, BHYT và thủ tục thực hiện
a. hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHYT, BHTN
- Hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc
+ Tờ khai cá nhân của NLĐ;
+ Danh sách NLĐ tham gia BHXH, BHYT bắt buộc do NSDLĐ lập;
+ Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
đối với NSDLĐ tham gia BHXH lần đầu;
+ Hợp đồng lao động đối với NSDLĐ là cá nhân có thuê mướn, sử dụng
lao động.
- Hồ sơ tham gia BHXH tự nguyện


Tờ khai cá nhân của NLĐ
- Hồ sơ tham gia BHYT
+ Văn bản đăng ký tham gia BHYT của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
đóng BHYT theo quy định của luật BHYT;
+ Danh sách người tham gia BHYT;
+ Tờ khai của cá nhân, hộ gia đình tham gia BHYT.
- Hồ sơ tham gia BHTN
+ Tờ khai cá nhân của người lào động theo mẫu do Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội quy định ;
+ Danh sách người lao động tham gia BHXHTM do NSDLĐ lập theo mẫu
do Bộ lao động – Thương binh và Xã hội quy đinh.
b. Sổ BHXH, thẻ BHYT
- Cấp và quản lý sổ BHXH

c. Nội dung quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN
Nội dung chính của công tác quản lý thu bao gồm:
- Quản lý các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH, BHYT,
BHTN.
- Quản lý danh sách lao động trong từng đơn vị tham gia BHXH, BHYT,
BHTN.
- Quản lý mức lương hoặc tiền công theo từng hợp đồng hoặc mức trợ cấp
của từng người tham gia BHXH, BHYT, BHTN.
- Quản lý tổng quỹ tiền lương, tiền công của số người tham gia BHXH,
BHYT, BHTN.
- Quản lý mức đóng BHXH, BHYT, BHTN.
- Cấp sổ thẻ BHXH, BHYT cho người tham gia BHXH, BHYT, BHTN.
- Lập dự toán thu BHXH, BHYT, BHTN cho năm sau.


- Tổ chức thu BHXH, BHYT, BHTN. Đây là nội dung chính của công tác
thu BHXH, BHYT, BHTN.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
BHXH TỈNH LAI CHÂU GIAI ĐOẠN 2012-2016.
I. Khái quát chung về BHXH tỉnh Lai Châu.
1. Khái quát chung về tỉnh Lai châu.
Lai Châu là tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, Phía Bắc tỉnh
Lai Châu giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên
Bái, Sơn La, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Điện Biên. Tỉnh có 261,2 km
đường biên giới Việt - Trung, có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng và nhiều lối
mở trên tuyến biên giới Việt – Trung. Diện tích: 9 059,4 km2 (theo số liệu thống
kê năm 2012).
Dân số năm 2012 là 414,2 nghìn người, mật độ trung bình 45 người/km2,
gồm các dân tộc:Việt, Thái, H’mông, Dao, Giáy. Đơn vị hành chính: Lai Châu có

đơn vị sử dụng lao động cũng như số lao động đang tham gia BHXH, BHYT bắt
buộc. Theo báo cáo hàng năm của BHXH tỉnh Lai Châu, dựa trên danh sách đối
tượng tham gia thì năm 1995 mới có 722 đơn vị sử dụng lao động và số lao động
tham gia BHXH là 84.766. Đến năm 2012 số lượng đơn vị sử dụng lao động
cũng như số lao động tham gia BHXH đã tăng lên đáng kể. Để rõ hơn sự phát


triển này chúng ta cùng xem xét bảng số liệu thống kê dưới đây:
Bảng 1: Tình hình lao động tham gia BHXH tại Lai Châu (Giai
đoạn 2012 – 2016)
Đơn vị tính: người.
Các năm

Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

Loại hình

2012

2013

2014


20.550

18.360

17.112

15.946

- Xã, phường.

10.784

10.876

11.237

11.566

11.905

- NCL

5.340

6.333

7.758

8.111


2.656

3.121

3.667

405

764

991

11.283

20.397

Tổng số lao động
Trong đó:

- HTX
- Hộ SXKD

Qua bảng số liệu ở trên, ta có thể thấy: số đối tượng trong danh sách quản
lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở Lai Châu liên tục tăng qua các năm
( trong đó, số lao động tăng 49.337 người, tốc dộ tăng là 1,39 lần số đơn vị sử
dụng lao động tăng 1.623 đơn vị, tốc độ tăng là 1,403 lần), nhờ các biện pháp
tăng cường công tác quản lý dối tượng tham gia mà BHXH tỉnh Lai Châu đã
thực hiện. Cơ cấu các loại hình tham gia BHXH thay đổi, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tăng mạnh cả về số đơn vị và lao động, trong khi đó doanh nghiệp

Quản lý quỹ lương, tiền công đóng làm căn cứ đóng BHXH, BHYT,
BHTN.
Quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH được quản lý theo từng đơn vị sử
dụng lao động, giống như việc quản lý danh sách đối tượng tham gia. Cơ quan
BHXH tỉnh Lai Châu đã thực hiện tốt việc chỉ đạo công tác quản lý quỹ tiền
lương của các đơn vị sử dụng lao động trong thời gian qua, không để xảy ra
những sai sót lớn gây thất thoát tiền thu.
Việc quản lý tốt quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH là cơ sở để mọi
hoạt động khác diễn ra ổn định: công tác thu, chi, thu hồi nợ đọng, quản lý quỹ,
…. Bảng tổng hợp quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của BHXH tỉnh Lai
Châu trong giai đoạn 2012 – 2016 với sự thống kê rất chi tiết về quỹ lương của
từng khu vực kinh tế cho thấy công tác quản lý quỹ lương đã được BHXH tỉnh
Lai Châu chỉ đạo thực hiện rất hiệu quả trong những năm qua.

Bảng 2: Tổng quỹ lương đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao
động trên địa bàn tỉnh Lai Châu ( 2012 - 2016)
Đơn vị tính: triệu đồng
Các năm

Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

loại hình

DNNQD
HTX
NCL
Hộ SXKD

298.529
213.576

290.422
389.330

291.768
529.025

292.123
613.475

292.478
711.406

22.328
152.923
6.087
30.954
1.284

26.686
301.530
10.423
46.395

phá sản hoặc chuyển đổi hình thức kinh doanh chứ không phải do sự buông lỏng
quản lý của cơ quan BHXH. Đối với khu vực ngoài nhà nước, tăng nhanh cả về
tổng quỹ lương đóng BHXH ( từ 213.576 triệu đồng lên 711.406 triệu đồng)
cũng như tỷ trọng trong cơ cấu thu BHXH ( tỷ trọng tăng từ 11,76% lên
27,01%). Trong đó, chủ yếu là do sự tăng nhanh của khu vực ngoài quốc doanh.
Sự gia tăng về quỹ lương đóng BHXH của khu vực này chủ yếu là do sự gia tăng
về số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

- Về quản lý mức đóng BHXH, BHYT, BHTN.


Với danh sách đối tượng tham gia cùng với bảng kê tiền lương, tiền công
đóng BHXH đã được quản lý chi tiết, BHXH tỉnh Lai Châu dễ dàng quản lý mức
đóng BHXH, BHYT, BHTN của từng cá nhân NLĐ cũng như của từng đơn vị sử
dụng lao động.

- Cấp, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT.
Việc cấp và quản lý sổ BHXH thẻ BHYT được BHXH tỉnh Lai Châu tiến
hành theo đúng quy định của Luật. Trong giai đoạn 2012 – 2016, 100% lao động
tham gia BHXH bắt buộc và tự nguyện được cấp sổ BHXH. Cụ thể: Đối với
BHXH bắt buộc:
Năm 2014, có thêm 7,180 lao động tham gia BHXH, số sổ BHXH được
cấp thêm là 7.180 sổ, đạt 100%.
Năm 2015, có thêm 19,151 lao động tham gia BHXH, số sổ BHXH được
cấp thêm là 19.151 sổ, đạt 100%.
Đối với BHXH tự nguyện: tính đến cuối năm 2016 đã có 1.460 người
tham gia, tổng số sổ tính đến thời điểm này cũng là 1.460 đạt 100%.
- Quản lý tổ chức thu BHXH
Nguồn thu BHXH được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia
bao gồm người lao động và chủ sử dụng lao động, cộng thêm sự hỗ trợ từ phía

Thứ hai, việc cấp và quản lý sổ BHXH vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng
các cán bộ, nhân viên cơ quan BHXH không kịp thời ghi các thông tin mới phát


sinh vào sổ BHXH cho người lao động diễn ra khá phổ biến. Việc quản lý sổ
BHXH cũng chưa thực sự hiệu quả, tình trạng thất lạc sổ của người tham gia
BHXH vẫn còn tồn tại, gây khó khăn cho công tác giải quyết chế độ sau này.

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THU BHXH TỈNH LAI CHÂU
I. Các giải pháp đói với BHXH tỉnh Lai Châu nhằm hoàn thiện công
tác quản lý đối tượng tham gia.
Dựa trên nhưng tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý thu BHXH tỉnh
Lai Châu chúng ta có thể đưa ra một số giải pháp như sau:
1. Về cán bộ quản lý thu
Việc cần làm trước tiên là nâng cao trình độ tin học và trình độ quản lý cho
các cán bộ trong cơ quan BHXH tỉnh nói chung và bộ phận quản lý đối tượng
tham gia BHXH nói riêng. Số lượng lao động và đơn vị sử dụng lao động tham
gia BHXH lớn và tăng liên tục qua các năm đòi hỏi một kỹ năng quản lý cao. Do
đó, trình độ quản lý của cán bộ được nâng cao thì tình trạng nhầm lẫn về sổ sách
cũng như danh sách các đối tượng tham gia BHXH như hiện nay sẽ được giải
quyết.
2. Về máy móc thiết bị, công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và việc xây dựng cơ sở dữ liệu để ứng dụng tin học
cần phải được thực hiện đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ quan BHXH. Hiện
nay lĩnh vực quản lý đối tượng tham gia BHXH vẫn chưa ứng dụng được công
nghệ tin học, việc kết nối mạng internet toàn ngành cũng mới chỉ nằm trên dự


thảo. Trong khi đây lại là những lĩnh vực rất cần sự có mặt của công nghệ thông

Thứ hai, mở rộng đầu tư quỹ nhằm tăng thêm nguồn thu BHXH: Quỹ
BHXH có nguồn tài chính nhàn rỗi tương đối lớn có thể thực hiện các hoạt động
đâu tư tăng trưởng nguồn quỹ , mặt khác đây cũng là một nguồn vốn quan trọng
trong đầu tư phát triển KT - XH
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BHXH. Để nâng cao hiệu quả tuyên
truyền cần phải thực hiện các hướng sau:
Về nội dung: Cần đặc biệt quan tâm đến nội dung mà lâu nay ít được đề
cập đến đó là tuyên truyền về mục đích, bản chất nhân đạo, nhân văn của BHXH.
Nếu chúng ta làm được điều đó thì sẽ từng bước thay đổi được tâm lý nặng nề
của họ hiện nay là bắt buộc đóng BHXH. Từ đó hình thành thái độ tự giác tự
nguyện tham gia BHXH và có trách nhiệm nộp BHXH.
5. Về hình thức tuyên truyền:
- Để phục vụ độc giả tốt hơn tạp chí BHXH - cơ quan ngôn luận của
BHXH Việt Nam cần đa dạng hóa nội dung và hình thức thực hiện. Đội ngũ
phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên phải có những bài viết chất lượng cao


hơn.
- Tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng ( đài truyền
hình, truyền thanh, báo chí ) để tuyên truyền sâu rộng về BHXH. Nội dung tuyên
truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, gây được sự chú ý của mọi người.
- Tổ chức các hội nghị các cuộc họp có các đại diện của NLĐ để nhằm
mục đích tuyên truyền về BHXH giúp các bên tham gia nắm được quyền lợi và
nghĩa vụ của mình. Đồng thời qua đó thu thập tổng hợp các ý kiến thắc mắc,
đóng góp của NLĐ chủ SDLĐ để đưa ra các biện pháp phù hợp với nguyện vọng
của họ.
- Phấn đấu mỗi cán bộ BHXH là một tuyên truyền viên vì hơn ai hết họ
hiểu rõ mục đich, bản chất, tác dụng và cách thức thực hiện các chính sách
BHXH.


- Kết luận …………………………………….…….…………………20;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status