Bài tiểu luận quản trị học: Sự phát triển của Làng nghề truyền thống gốm Bát Tràng – Hà Nội - Pdf 46

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BT : Bát Tràng
TQ : Trung Quốc
VN : Việt Nam


PHẦN MỞ ĐẦU
Làng gốm Bát Tràng là một trong những làng nghề truyền thống tại Hà
Nội. Làng gốm đã trải qua hơn năm thế kỉ với nhiều thành tựu đáng tự hào. Làng
nghề phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất
mùa vụ , mang đặc trưng của chế độ làng xã , trong đó bao gồm cả yếu tố dòng
họ. Làng gốm Bát Tràng chứa đựng trong đó những yếu tố nhân văn và giá trị
văn hóa truyền thống quý giá. Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu
phát triển thì Làng gốm Bát Tràng còn là một trong những di sản văn hóa cần
được bảo tồn và phát huy trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước nói
chung và phát triển văn hóa nói riêng.
Điều đặc biệt nữa là ở đây họ không chỉ đơn thuần sản xuất ra những sản
phẩm hàng hóa như trong công xưởng sản xuất mà nó còn là cả một môi trường
văn hóa, kinh tế, xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời.Nó bảo lưu những
tinh hoa nghệ thuật từ đời này sang đời khác.Mỗi sản phẩm gốm làm ra là kinh
nghiệm, là kĩ thuật, là bí quyết của người nghệ nhân , họ thổi vào những sản
phẩm của mình cả tâm hồn và những ý niệm.
Ngoài mục đích chính là sản xuất phục vụ cho việc phát triển kinh tế thì
làng nghề gốm Bát Tràng đang khai thác về tiềm năng cho phát triển du lịch.
Tuy nhiên để các làng nghề truyền thống nói chung và làng Bát Tràng nói riêng
phát triển hoạt động du lịch thật sự có hiệu quả,góp phần thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội, đồng thời lưu giữ và phát huy được những giá trị văn hóa thì cần

với chạm nổi và vẽ men lam
Thế kỉ XVI : cùng với việc xuất hiên những chân đèn, lư hương có kích
thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp với men lam đạt đến trình độ
tinh xảo như : rồng, phượng …
Thế kỉ XVII : kĩ thuật trạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh
tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ.
Thế kỉ XVIII: Trang trí chạm nổi chiếm ưu thế hẳn trang trí vẽ men lam
trên gốm Bát Tràng. Các kĩ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi dã thích ứng
với việc sử dụng men đơn sắc
4


Thế kỉ XIX: Gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách
kết hợp sử dụng nhiều lại men vào trang trí
-Các dòng men: Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện
qua các thời kì như
Men lam: đây là loại men được sử dụng sớm nhất ( từ thế kỉ XIV ) , men
lam không để trần như men nâu mà bao giờ cũng phủ lên một lớp máu sáng
bóng có độ thủy tinh hóa cao .
Men nâu: đây là một trong số những loại men được sử dụng đầu tiên ở
Bát Tràng, sức độ màu của men phụ thuộc vào xương gốm
Men trắng: Đây là loại men trắng, có nhiều trường hợp ngả màu vàng
khi nhiệt độ nung ở độ cao. Nhưng cũng có nhiều trường hợp có màu trắng xám
hay trắng sữa, trắng đục. Cùng với hình dáng và trang trí men trắng ngà cũng tạo
nên một nét riêng biệt đồ gốm Bát Tràng
Men ngọc: từ thế kỉ thư XIV đến thế kỉ thứ XIX men ngọc được sử dụng
khá phổ biến cùng với men trắng ngà và men nâu.
Minh Văn :gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng
khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ
năm sản xuất, họ tên, quê quán, thời gian chế tạo, đôi lúc còn có cả chức tước

nghiệp cởi mở nên sản phẩm gốm BT được lưu thông rộng rãi. Sản phẩm gốm
BT thời này có ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người chế tạo.Người
đặt hàng nhiều chủ yếu là người ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Thế kỉ XVI – XVII: sau khi nhà Minh ( TQ ) được thành lập đã chủ
trương cấm buôn bán với nước ngoài, làm cho việc xuất khẩu gốm sứ của TQ
gặp nhiều hạn chế, tạo điều kiện cho đồ gốm BT mở rộng thị trường ở vùng
Đông Nam Á . Đến năm 1567,nhà Minh bỏ chính sách “ bế quan tỏa cảng “ đã
tạo cho quan hệ buôn bán giữ nước ta va Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó
gốm BT được nhập cảng vào Nhật Bản
Năm 1644-1684: nhà Thannh ( TQ ) ra chính sách “ cấm vượt biển buôn
bán với nước ngoài )sau khi giải phóng Đài Loan. Trong thời gian này, gốm BT
của Việt Nam không bị hàng của TQ canh tranh nên lại có điều kiện phát triển
mạnh.

6


Từ thế kỉ XV-XVII : đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản
xuất gốm xuất khẩu của Việt Nam. Trong nước có 2 trung tâm quan trọng là BT
và Chu Đậu – Mĩ Xá ( Hải Dương ). Bát Tràng may mắn và thuận lợi nằm bên
bờ của sông Hồng trên đường thủy nối liền là cửa ngõ thông thương. Qua thuyền
buôn của TQ, Nhật Bản, các nước phương Tây thì đồ gốm VN được bán sang
Nhật Bản, các nước khu vực Nam Á, Đông Nam Á…
Thế kỉ XVIII – XIX: một só nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng
công nghiệp. Chính quyền Trịnh-Nguyễn cùng với chính chính sách hạn chế
ngoại thương đã là cho quan hệ mậu dịch của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu
đồ gốm cũng suy giảm. Gốm BT tuy có chịu nhiều ảnh hưởng nhưng vẫn giữ
được sức sống bền bỉ , vẫn là một trung tâm sản xuất gốm nổi tiếng trong cả
nước.
Từ thế kỉ XIX đến nay , trong thời kì Pháp thuộc các lò gốm BT tuy bị

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỒNG
GỐM BÁT TRÀNG
2.1: Thực trạng phát triển của làng nghề gốm Bát Tràng
2.1.1: Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng
Quy trình làm ra được một sản phẩm gốm Bát Tràng thường kéo dà từ 10
đến 15 ngày
- Bước 1: Tạo hình sản phẩm.
Tạo hình cho sản phẩm là quá trình đầu tiên cũng được coi là quá trình
quan trọng nhất để có thể tạo ra được một sản phẩm gốm BT. Có nhiều cách để
tạo hình sản phẩm. Trước đây, sản phẩm được nặn vuốt bằng tay trên bàn xoay,
còn ngày nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Người ta tạo sản phẩm bằng
khuôn.
Có 2 cách để tạo hình sản phẩm bằng khuôn là in và đổ rót.
Phương pháp in, đất sét được bỏ vào khuôn của máy In ép lăn và máy sẽ
dập từ trên xuống, chỉ áp dụng cho các sản phẩm như tô, chén, dĩa.
Phương pháp đổ rót, đất sét được hòa lỏng rồi rót vào khuôn, sau đó để
khô tự nhiên
Sản phẩm sau khi đã lấy ra khỏi khuôn, người thợ bắt đầu cắt tỉa những
phần đất dư, làm sạch bề mặt, nối các bộ phận của sản phẩm vào nhau, đục lổ,
trạm trỗ hoặc đắp nổi các họa tiết.
- Bước 2 : Sơ nung
Sản phẩm được đưa vào lò, nung sơ ở 800 độ c.
- Bước 3: Làm men và trang trí hoa văn
Sau khi sơ nung, sản phẩm được phủ men và vẽ.
Vẽ dưới men: vẽ họa tiết lên sản phẩm, sau đó phủ loại men trong suốt.
Vẽ trên men: phủ men lên sản phẩm, sau đó mới vẽ họa tiết.
Men màu của Bát Tràng rất đa dạng, có thể kể đến các loại phổ biến nhất
và là đặc trưng của Bát Tràng như men thủy tinh, men ngọc, men celadon, men

9

Làng gốm Bát Tràng cũng chuyên sản xuất ra nhiều sản phẩm mà mỗi gia
đình người dân Việt ta dùng để thờ ông bà tổ tiên. Có bát hương, đỉnh chầm, cây
10


đèn, độc bình,song bình, lộc bình, ống cắm hương, chân nến, lọ hoa, bộ tam đa
và các loại choé,...
2.1.2.3. Đồ trang trí nội thất
Ngoài ra gốm Bát Tràng còn sản xuất ra nhiều sản phẩm đa dạng và
phong phú dùng để trang trí nhà cửa. Có các loại chậu hoa, chậu thống, đôn,
trạc, nghê, voi, vịt, cá,tôm, cua, ve sầu cùng các loại phù điêu và đĩa treo tường
và mới đây là những đồ vật có kích thước rất nhỏ và ngộ nghĩnh thường phục vụ
dưới hình thức đồ lưu niệm cho khách du lịch như hộp phấn, hình người, bộ ấm
chén cỡ nhỏ xíu. Với những ngày lễ trong năm như: ngày quốc tế phụ nữ, ngày
lễ tình yêu, ngày nhà giáo,... cũng có những sản phẩm đặc trưng tại các quầy
hàng.
2.1.3: Thị trường tiêu thụ sản phẩm
2.1.3.1. Trị trường trong nước
Từ năm 2010 thị trường tiêu thụ gốm sứ Bát Tràng đã có sự thay đổi theo
hướng phục vụ thị trường nội địa là chính, chiếm khoảng 85% đến 90%. Hiện
nay, chỉ những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, được chế tác tinh xảo mới xuất
khẩu. Còn lại, hầu hết sản phẩm của Bát Tràng hiện nay là phục vụ nhu cầu của
người dân trong nước.
Làng Bát Tràng sản xuất ra luợng sản phẩm gốm sứ nhiều nhất so với các
làng ở các vùng xung quanh như: Giang Cao, Kim Lan, Ða Tốn,...Trong làng
Bát Tràng mới,theo các trục đường lớn cửa hàng đã đua nhau mọc lên san sát,
trưng bày các sản phẩm của lò nhà mình hoặc sản phẩm tổng hợp của một số lò
xung quanh cho gian hàng thêm sinh động và phong phú.
Huớng tiêu thụ chính của các lò vẫn là bán buôn cho các đại lý sản phẩm
truyền thống của lò mình hoặc sản xuất và sản xuất theo các đơn đặt hàng. Các

và khám phá một nền văn hóa.
2.2: Đánh giá
Gốm BT - phong cách riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc . Bắt kịp
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Ngày nay, gốm BT đã trở thành một
thương hiêu nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế. Người tiêu dùng có
thể tìm thấy các sản phẩm của gốm BT trên thị trường như đồ thờ, đồ dân dụng,
đồ trang trí… đều là những sản phẩm được tạo ra bởi knh nghiệm sản xuất và
12


đòi hỏi kĩ năng kĩ xảo cao và được truyền từ đời này sang đời khác. Các sản
phẩm đó mang tính chất cá biệt, có sắc thái riêng, đặc trưng riêng của làng nghề
và phản ánh được quan niệm thẩm mĩ, bản sắc dân tộc của người dân BT.
Ở đây, quy trình sản xuất hầu hết đều sử dụng kĩ thuật truyền thống lâu
đời với kĩ thuật san xuất riêng bao gồm nhiêu công đoạn từ chọn đất, xử lí, pha
chế đất cho đến quá trình trang trí hoa văn và nung gốm. Người thợ thủ công sản
xuất hàng thủ công trước tiên là lợi ích kinh tế cho nên sản phẩm thủ công
truyền thống tự thân đã trở thành hàng hóa, nhưng bên cạnh đó nó vẫn giữ cho
mình được những giá trị nghệ thuật.
Tuy nhiên khi nền kinh tế thị trường tạo ra xu hướng mở cửa hội nhập,
gốm BT cũng là một trong những mặt hàng tham gia vào cuộc canh tranh mạnh
mẽ với gốm sứ đến từ các nước khác, đặc biệt là gốm sứ Trung Quốc. Ngay cả ở
trong nước, gốm BT hầu như đã xuất hiện ở hầu hết các tỉnh thành nhưng nó vẫn
chưa thực sự chiếm lĩnh được thị trường nội địa
Làng gốm BT còn là môi trường kinh tế - văn hóa – xã hội có truyền
thống lâu đời. Vì vậy mà yếu tố văn hóa đậm nét của những sản phẩm gốm thủ
công truyền thống đã tạo nên vị trí quan trọng ở thị trường trong nước và trong
giao lưu kinh tế - văn hóa quốc tế. Vì vậy việc xem xét và đánh giá các tiềm
năng du lịch của làng nghề truyền thống nói chung có ý nghĩa thực tiễn đối với
sự tồn tại và phát triển của đất nước

-

năng nắm bắt được xu thế mới, hoa văn mà khách hàng ưa chuộng
Định giá sản phẩm phù hợp
Tìm hiểu rõ thị trường, tính toán chi tiết chi phí sản phẩm để người tiêu
dùng thấy rằng mặc dù gốm sứ BT giá cao hơn với gốm sứ Trung Quốc nhưng

-

ẫn phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng hiện nay
Đa dạng hóa hình thức quảng bá sản phẩm
Việc kết hợp quảng bá sản phẩm thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, đặc biệt là ứng dụng thương mại điện tử trong giới thiệu và quảng bá sản
phẩm, giúp người tiêu dùng trong và ngoài nước đều biết đến các sản phẩm mới
lạ và độc đáo
3.2: Giải pháp cho phát triển du lịch làng nghề

14


- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch gốm BT đặt trong mối
quan hệ chặt chẽ với quy hoạch tỏng thể phát triển du lịch chung và quy hoạch
phát triển ngành nghề nông thôn. Cần phải nghiên cứu tiềm năng du lịch và thị
trường khách du lịch , đánh giá năng lực của cộng đồng trong phát triển du lịch
- Tuyên truyền giới thiệu rộng rãi trong nhân dân nâng cao vai trò, vị trí
của du lịch làng nghề. Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tuyên truyền và cô động
nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của việc bảo tồn các giá trị văn hóa
truyền thống. Tổ chức khảo sát thực tế các làng đã thành công trong việc trực
tiếp các mô hình làng nghề để học hỏi kinh nghiệm, học cách sản xuất hàng thủ
công với phát triển du lịch

nghề Gốm Bát Tràng phát triển. Tạo nhiều việc làm cho người lao động góp
phần phát triển kinh tế. Bên cạnh đó việc hội nhập quốc tế đã quảng bá hình ảnh
làng nghề tới bạn bè quốc tế, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển.Quá
trình hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng có rất nhiều thách thức
đối với chúng ta. Làng nghề Gốm Bát Tràng phát triển mang tính tự phát, không
có một chiến lược lâu dài, cũng không có sự chỉ đạo cụ thể của nhà nước. Sự
cạnh tranh khốc liệt của gốm sứ Trung Quốc trên hầu khắp các thị trường trong
cũng như ngoài nước khiến cho gốm sứ cổ truyền Bát Tràng gặp không ít khó
khăn.
Qua việc nghiên cứu đề tài “ Sự phát triển của Làng nghề truyền thống
gốm Bát Tràng- Hà Nội ” chúng ta đã hiểu rõ hơn về làng nghề gốm cũng như
những cơ hội, thách thức của làng nghề gặp phải trong qua trình hội nhập quốc
tế. Qua đó góp phần đưa hình ảnh của làng nghề Gốm Bát Tràng nói chung và
đất nước Việt Nam nói riêng tới bạn bè quốc tế để họ hiểu rõ hơn về truyền
thống văn hóa của con người Việt Nam và chúng ta cảm thấy tự hào, hãnh diện
hơn vì đất nước chúng ta có những làng nghề truyền thống đã và đang được giữ
gìn và phát triển.

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Lượng ( 2003 ) “ Làng nghề thủ công truyền thống Việt
Nam” NXB Giáo dục,Hà Nội
2. Đinh Tiến Hoàng ( 2007 ) “ Làng nghề truyền thống Hà Nội “ NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội , Hà Nội

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status