HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
PHÇN Më ®Çu
Học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết giữ vị trí “hòn đá tảng” trong tồn
bộ lý luận kinh tế của C.Mác, một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác, làm
sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong học thuyết này,
C.Mác nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người thơng qua mối quan hệ giữa
vật với vật. Cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với người thơng qua
quan hệ giữa vật với vật chính là lao động, cái thực thể, yếu tố cấu thành giá trị của
hàng hóa. Đó chính là trọng tâm của học thuyết giá trị. Sản xuất hàng hóa và gắn
liền với nó là các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ đã từng có trước chủ nghĩa tư
bản. Nó là những điều kiện tiền đề để cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra
đời và phát triển.
Nhưng sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa khác với sản xuất hàng hóa giản
đơn khơng chỉ về trình độ mà còn khác cả về chất nữa. Và khi xuất hiện một loại
hàng hóa mới đó là hàng hóa sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì
tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất
hiện: quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm th. Thực chất của mối quan hệ này
là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của cơng nhân làm th. Giá trị thặng dư
là nguồn gốc hình thành nên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột
trong chủ nghĩa tư bản.Từ học thuyết giá trị và cơ sở thực tiễn mà C.Mác đã xây
dựng nên học thuyết giá trị thặng dư.
Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, mà nền kinh tế thị trường thì ln gắn liền với các phạm trù và các quy luật
kinh tế của nó. Trong đó có phạm trù giá trị thặng dư, hay nói các khác “sự tồn tại
của giá trị thặng dư là một tất yếu khác quan ở Việt Nam khi mà nước ta đang áp
dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Việc nghiên cứu về giá trị thặng
dư sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về con đường đi lên XHCN ở Việt Nam.
Để hiểu rõ nội dung này Tiểu Đội 3 xin trình bài Tiểu luận “Học thuyết giá
trị thặng dư của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng trong nền kinh tế thị
điểm cuối đều là tiền nên chúng khơng khác nhau về chất. Do vậy, nếu số tiền thu
về bằng số tiền ứng ra thì q trình vận động trở nên vơ nghĩa. Mà như ta đã biết,
một món tiền chỉ có thể khác với một món tiền khác về mặt số lượng. Kết quả là
qua lưu thơng số tiền ứng trước khơng những được bảo tồn mà còn tự tăng thêm giá
trị. Nên cơng thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’. Trong đó T’=T+t số
tiền trội hơn so với số tiền ứng ra là t, C.Mác gọi là giá trị thặng dư số tiền ứng ra
ban đầu chuyển hóa thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư nên
sự vận động của tư bản là khơng có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là khơng có
giới hạn.
Từ phân tích trên ta thấy C.Mác đã phân biệt rõ tiền thơng thường và tiền tư
bản. Tiền thơng thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thơng. Còn tiền tư bản
là giá trị vận động, nó ra khỏi lĩnh vực lưu thơng rồi lại trở lại lưu thơng, tự duy trì
và sinh sơi nảy nỡ trong lưu thơng quay trở lại dưới dạng đã lớn lên và khơng
ngừng bắt đầu lại cùng một vòng chu chuyển. T-H-T’ mới nhìn thì nó là cơng thức
vận động của riêng tư bản thương nghiệp nhưng ngay cả tư bản cơng nghiệp và tư
2
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
bản cho vay thì cũng vậy. Tư bản chủ nghĩa cũng là tiền được chuyển hóa thành
hàng hóa thơng qua sản xuất rồi lại chuyển hóa thành một số tiền lớn hơn bằng việc
bán hàng hóa đó. Tư bản cho vay thì lưu thơng T-H-T’ được hiểu hiện dưới dạng
thu ngắn lại và T-T’ một số tiền thành một số tiền lớn hơn. Như vậy T-H-T’ thực sự
là cơng thức chung của tư bản.
1.2. Mâu thuẫn của cơng thức chung
Cơng thức T-H-T’ là cơng thức chung của tư bản, nhưng nó lại mâu thuẫn với
tất cả các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền và bản thân lưu thơng.
Ta xét trong lưu thơng có thể xảy ra hai trường hợp: một là trao đổi tn theo
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
hàng hóa đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị thặng dư đó là sức lao
động.
1.3. Hàng hóa sức lao động
Sức lao động bao gồm tồn bộ sức thần kinh, sức cơ bắp, thể lực, trí lực tồn
tại trong bản thân con người sống, nó chỉ được bộc lộ qua lao động và là yếu tố chủ
thể khơng thể thiếu được của mọi q trình sản xuất xã hội.
Sức lao động khơng phải bao giờ cũng là hàng hóa nó chỉ biến thành hàng
hóa khi có đầy đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao
động của mình và chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định. Bởi vì sức
lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư các là hàng hóa khi nó được đưa
ra thị trường, tức là bản thân người có sức lao động đem bán nó. Muốn vậy người
lao động phải được tự do về thân thể có quyền sở hữu sức lao động của mình thì
mới đem bán được. Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một
thời gian nhất định thơi, nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó trở
thành nơ lệ.
- Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất, mốn sống họ phải
bán sức lao động của mình. Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có
tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hóa và bán hàng hóa do mình sản xuất ra
chứ khơng bán sức lao động.
Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính là giá trị và
giá trị sử dụng. Nhưng nó là hàng hóa đặc biệt vì vậy giá trị và giá trị sử dụng của
nó cũng có những nét đặc thù só với những hàng hóa khác.
- Giá trị hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà
sức lao động lại gắn liền với cơ thể sống. Do đó, việc sản xuất và tái sản xuất ra sức
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa khơng phải là giá trị sử dụng mà là
giá trị, hơn nữa cũng khơng phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư. Nhưng
để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra một giá trị sử dụng
nào đó, vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng dư. Để hiểu rõ hơn q
trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc sản xuất sợi của một nhà tư bản để
làm ví dụ:
Giả sử để sản xuất 10kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 15$ (trong đó
10$ mua 10kg bơng, 2$ hao phí máy móc và 3$ mua sức lao động của cơng nhân
trong một ngày 12 giờ). Giả định việc mua này đúng giá trị, mỗi giờ lao động của
cơng nhân tạo ra giá trị là 0,5$.
Giả định chỉ trong 6 giờ đầu, cơng nhân đã kéo xong 10kg bơng thành 10kg
sợi, thì giá trị 10kg sợi được tính theo các khoản như sau:
+ Giá trị 10kg sợi = 10$
+ Hao mòn máy móc = 2$
+ Sức lao động = 3$
Tổng cộng = 15$
Nếu q trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giá trị thặng
dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản. Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong
1 ngày (12 giờ). Nên 6 giờ lao động tiếp, nhà tư bản chi thêm 10$ để mua 10kg
bơng và 2$ hao mòn máy móc (sức lao động khơng phải mua). Với 6 giờ lao động
sau người cơng nhân vẫn tạo ra 10kg sợi với giá trị 10$. Tổng số tiền chi phí nhà tư
bản chi ra là:
+ Tiền mua bơng (20kg): 20$
+ Tiền hao mòn máy móc: 4$
5
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ trong đó gồm thời gian lao động cần thiết là 4 giờ
và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động kéo dài tuyệt đối thành
10 giờ mà thời gian lao động cần thiết khơng đổi thì thời gian lao động thặng dư
tăng từ 4 giờ lên 6 giờ. Điều này dẫn đến việc đấu tranh của cơng nhân và sự đấu
tranh đó buộc nhà tư bản phải rút ngắn thời gian lao động. Khi đó độ dài ngày lao
động được xác định và nhà tư bản tìm phương thức khác để sản xuất ra giá trị thặng
dư đó là phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
6
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi
hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
b. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết
của cơng nhân trong khi thời gian lao động của cơng nhân khơng đổi dựa trên cơ sở
tăng năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay
trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ
Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó thời gia lao động cần thiết và 4
giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100%. Bay giờ chúng ta lại
giả sử rằng cơng nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị mới bằng
giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỉ lệ phân chua ngày lao động thành thời gian
lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư cũng thay đổi theo. Cụ thể là thời
gian lao động cần thiết là 2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc
lột của nhà tư bản lúc này là 300%.
Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm
mọi biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và cơng nghệ vào q trình sản xuất
để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị
dựa vào tăng năng suất lao động xã hội).
Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối
còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do tồn bộ giai cấp của nhà tư bản thu
được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của tồn bộ giai cấp các nhà tư
bản đối với tồn bộ giai cấp cơng nhân làm th. Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do
một số các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được. Xét về mặt đó, nó khơng chỉ
biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm th, mà nó trực tiếp biểu hiện
mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản.
Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh
nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng cơng nghệ mới vào sản xuất,
hồn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động giảm
giá trị của hàng hóa.
2.4. Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản
ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Theo C.Mác,
chế tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Thật vậy, giá trị thặng dư – phần giá trị mới dơi ra ngồi giá trị sức lao động
do cơng nhân làm th tạo ra và bị nhà tư bản chiếm khơng, phản ánh mối quan hệ
kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm
th. Giá trị thặng dư do lao động khơng cơng của cơng nhân tạo ra là nguồn gốc
làm giàu của các nhà tư bản.
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa khơng phải là giá trị sử dụng mà là
sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là
mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của tồn
bộ xã hội tư bản. Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng hóa với chất lượng tốt đi
chăng nữa, thì đó cũng chỉ vì nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư.
Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa khơng chỉ phản ánh mục đích của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử
dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột cơng nhân làm th bằng cách
tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động và mở
Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự
biến đổi lớn. Do áp dụng rộng rãi kỹ thuật và cơng nghệ hiện đại nên lao động phức
tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp. Do đó
lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định
trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động ngày
nay mà tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều.
Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày
càng được mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi
khơng ngang giá…lợi nhuận siêu ngạch mà các nước tư bản phát triển bòn rút từ
các nước kém phát triển trong mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần. Sự cách
biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành
mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay. Các nước tư bản phát triển đã bòn rút
chất xám, hủy hoại mơi sinh, cũng như cội rễ đời sống văn hóa của các nước lạc
hậu, chậm phát triển.
II. VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
9
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
Từ lý luận kinh tế của Mác có thể nói: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động
của cơng nhân làm th sản sinh ra vượt q giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư
bản chiếm đoạt. Nhà tư bản sử dụng tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động
vào mục đích tạo ra cho mình giá trị thặng dư. Chiếm đoạt tồn bộ giá trị thặng dư
này là hành vi được gọi đích danh là “bóc lột ” giá trị thặng dư. Đó là nói chung,
còn cụ thể, trong q trình sản xuất, hành vi “bóc lột” giá trị thặng dư được nhà tư
bản thực hiện bằng các phương pháp khác nhau: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tức là kéo dài tuyệt đối thời gian của ngày
10
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
XHCN có sản xuất giá trị thặng dư khơng? Cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam thuộc về ai? Trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN này sở hữu “giá trị thặng dư” có phải là hành động
bóc lột hay khơng? Hay nói cách khác sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có đồng nghĩa với bóc lột khơng?
Sản xuất và phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ
nghĩa xã hội hồn tồn khơng giống nhau. Bởi vì “bất kỳ một sự phân phối nào về
tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện
sản xuất; nhưng sự phân phối những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của
chính ngay phương thức sản xuất. Ví dụ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
dựa trên tình hình là những điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm ở trong tay
những kẻ khơng lao động, dưới hình thức sở hữu tư bản và sở hữu ruộng đất, còn
quần chúng thì chỉ là kẻ sở hữu những điều kiện người của sản xuất, tức là sức lao
động. Nếu những yếu tố của sản xuất được phân phối như thế thì thì việc phân phối
hiện nay về tư liệu tiêu dùng tự nó cũng do đó mà ra. Nếu những điều kiện vật chất
của sản xuất là sở hữu tập thể của bản thân những người lao động thì cũng sẽ có
một sự phân phối những tư liệu tiêu dùng khác với sự phân phối hiện nay”.
Theo tinh thần đó, trong nền kinh tế mhiều thành phần ở nước ta, việc phân
phối trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân hay doanh nghiệp tư bản nhà nước khác
với việc phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp hiệp tác. Và
còn có bóc lột hay khơng thể hiện trong chính sự phân phối ấy, bao gồm cả phân
phối điều kiện sản xuất và phân phối kết quả sản xuất.
Trong các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp hiệp tác dựa trên chế độ
sở hữu cơng cộng về tư liệu sản xuất, thì kết quả sản xuất thuộc về nhà nước và tập
thừa nhận sự tiến bộ, hợp pháp của kinh tế tư nhân và khuyến khích nó phát triển là
khuyến khích sản xuất ngày càng nhiều giá trị mới cho xã hội (làm giàu), khuyến
khích sự phát triển của xã hội, chứ khơng phải là khuyến khích sự bóc lột. Đó là sự
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Sự
khẳng định này đã góp phần xóa bỏ mặc cảm, tháo gỡ rào cản cho kinh tế tư nhân
phát triển, thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Cơng nghiệp hố hiện đại hóa ở nước ta là q trình chuyển đổi căn bản, tồn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội từ sử dụng
lao động thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động với cơng nghệ,
phương tiện tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất xã hội cao. Thực chất cơng nghiệp
hóa hiện đại hóa là q trình tạo ra những vấn đề về vật chất, kỹ thuật, về con
người, cơng nghệ phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng
sản xuất cho chủ nghĩa xã hội.
Là một nước tiến lên xã hội chủ nghĩa chưa và khơng qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa hay đúng hơn là khơng qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản.
Vì vậy chúng ta khơng được kế thừa tất cả tiền đề nảy sinh một cách tự phát như
những sáng tạo của người đi trước cho dù chúng cũng chỉ là nhân tố vơ cớ. Điểm
xuất phát để nhận thức tầm quan trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận
điểm sản phẩm của lao động thừa vượt q những chi phí để duy trì lao động và
việc xây dựng, tích lũy quỹ sản xuất xã hội và dự trữ “Tất cả những cái đó đã và
mãi mãi vẫn là vẫn là cơ sở cho mọi sự tiến bộ xã hội về chính trị và tinh thần. Nó
sẽ là điều kiện và động cơ kích thích sự tiến bộ xã hội hơn nữa…”.
Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là
nước tiểu nơng nghiệp cũng có nghĩa từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hóa
mặc dù có sản xuất hàng hóa. Cái thiếu của đất nước ta theo cách nói của C.Mác
khơng phải là và chủ yếu là cái đó, mà cái chính là chưa trải qua sự ngự trị của các
tổ chức kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa.
12
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa khơng phải là sản xuất ra giá trị sử
dụng, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị thặng
13
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục đích động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi
nhả tư bản, cũng như tồn bộ xã hội tư sản. Sản xuất ra giá trị thặng dư quả thực là
động lực vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết “ mục
đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu, là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị,
do đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trị thặng dư”.
Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường bóc lột cơng
nhân làm th khơng phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế (roi vọt) mà bằng cưỡng bức
kinh tế (kỷ luật đói rét) dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật để tăng
năng suất lao động, tăng cường bóc lột lao động và kéo dài ngày lao động.
Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
bản. C.Mác viết “ việc tạo ra giá trị thặng dư đó là quy luật tuyệt đối của phương
thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu của quy luật này là để thu được giá trị thặng
dư một cách tối đa, nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm th và tìm mọi thủ
đoạn để bóc lột họ.
Trong giai đoạn hiện nay, các nhà tư bản thực hiện cải tiến kỹ thuật hồn
thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá
trị hàng hóa. Đồng thời thu hút một đội ngũ các kỹ sư, quản lí mà chức năng của họ
suy cho cùng là bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất tất cả các nhân tố của sản xuất
mà trước hết là sức lao động, nhờ đó mà tăng giá trị thặng dư.
Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã giúp cho
chúng ta thấy rằng: Mục tiêu cơng nghiệp hóa hiện đại hóa là tạo ra tiềm lực to lớn,
đủ khả năng xây dựng cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc của tồn dân và thực hiện
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
MơC LơC
Phần mở đầu..............................................................................................................1
15
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
Phần nội dung............................................................................................................2
I. HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN.........2
1. Sự chuyển hóa hóa của tiền thành tư bản..............................................................2
1.1. Cơng thức chung của tư bản...............................................................................2
1.2. Mâu thuẫn của cơng thức chung........................................................................3
1.3. Hàng hóa sức lao động.......................................................................................4