Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển của thời đại, của khoa học kỹ thuật và công nghệ, khi
Việt Nam đã gia nhập WTO thì nền kinh tế Việt Nam nói chung và Công nghiệp Việt
Nam nói riêng đang từng bước hoà nhập cùng sự phát triển của thế giới.
Tham gia tích cực thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là đến năm
2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước Công nghiệp, ngành Công nghiệp Hà Nội
đang góp một phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Hà Nội là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của đất nước. Từ năm
1997 đến nay, cơ cấu kinh tế của thành phố đang dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷ
trọng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng giá trị sản xuất
công nghiệp đã tăng đáng kể trong cơ cấu kinh tế trong vòng 15 năm qua. Sản xuất
công nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của thành
phố.
Khu vực công nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá-
hiện đại hoá của Hà Nội. Để đạt được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, chúng ta cần đánh giá được quá trình phát triển của
khu vực này thời gian qua.
Để nghiên cứu sâu hơn về thực trạng phát triển ngành công nghiệp Hà Nội
trong giai đoạn 1997-2007, đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp và dự đoán
cho các năm tiếp theo, em đã chọn đề tài: "Vận dụng một số phương pháp thống kê để
phân tích giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1997-2007 và dự
đoán đến năm 2009".
Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về công nghiệp và sản xuất công nghiệp.
Chương 2: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích giá trị sản xuất
Công nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn 1997- 2007 và dự đoán đến năm 2009.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công
nghiệp Hà Nội trong giai đoạn từ 2008 - 2020.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
1
lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác.
- Công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng
tư liệu lao động cho các ngành. Do đó công nghiệp có vai trò gần như quyết định trong
việc cung cấp các yếu tố đầu vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh
tế quốc dân.
- Công nghiệp là ngành hầu như không chịu ảnh hưởng, tác động
bởi điều kiện tự nhiên. Do đó nó không phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên
- Năng suất lao động của ngành công nghiệp thường cao hơn các
ngành khác do có lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phát triển, do được trang bị
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, do có trình độ quản lý, tổ chức sản xuất hoàn thiện
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
nên đã hình thành một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, có tính tổ chức và
kỷ luật cao.
- Hiệu quả sản xuất của ngành công nghiệp là cao do được ứng
dụng khoa học công nghệ hiện đại làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại, chi phí sản
xuất giảm, chất lượng sản phẩm không ngừng nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của xã hội.
1.3. Vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Ngành công nghiệp có vai trò rất lớn và mang ý nghĩa quyết định đối với toàn
bộ quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu
sau:
• Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng gần như vào bậc
nhất của nhiều quốc gia. Sự phát triển của ngành công nghiệp là một trong những tiêu
chuẩn đánh giá trình độ phát triển kinh tế của đất nước, là một trong những chỉ tiêu
dùng để so sánh quốc tế.
• Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu và duy nhất nâng cao không
ngừng tiềm lực kinh tế, đẩy nhanh tiến bộ xã hội. Sự phát triển của công nghiệp là một
yếu tố có tính chất quyết định để thực hiện quá trình CNH-HĐH toàn bộ nền kinh tế
ngành công nghiệp chia thành hai nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công
nghiệp nhẹ.
Sự phân loại này thường sử dụng trong mô hình kinh tế khép kín trước đây, khi
mà nhiều nước thường căn cứ vào cách chia này để vận dụng quy luật tái sản xuất mở
rộng, xây dựng mô hình ưu tiên phát triển công nghiệp nặng.. Ngày nay trong điều
kiện toàn cầu hoá và hội nhập thì người ta ít dựa vào sự phân loại này hơn.
1.4.2. Dựa vào quy mô của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chia ngành công
nghiệp thành 3 khu vực là: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh
nghiệp nhỏ. Cách phân loại này đặc biệt có ý nghĩa trong đánh giá hiệu quả
và hoạch định chính sách phát triển cho các doanh nghiệp.
1.4.3. Dựa vào tính chất biến đổi đối tượng lao động và công dụng của sản phẩm
( phân theo ngành cấp 1 trong hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam )
Theo cách chia này, ngành công nghiệp chia thành 3 nhóm ngành là: công nghiệp
khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt và
nước.
a. Ngành công nghiệp khai thác mỏ
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
Ngành công nghiệp khai thác được hiểu là các hoạt động khai thác khoáng sản
có trong tự nhiên như: than, dầu... tạo thành nguyên liệu thô làm đầu vào cho các giai
đoạn chế biến tiếp theo.
Ngành này gồm: khai thác khoáng tự nhiên ở dạng cứng ( than và quặng ), chất
lỏng ( dầu thô ) hoặc khí ( khí gas tự nhiên ). Khai thác có thể được thực hiện theo
nhiều phương pháp khác nhau như dưới lòng đất hoặc trên bề mặt, khai thác dưới đáy
biển…Ngành này cũng gồm các hoạt động phụ trợ như chuẩn bị các nguyên liệu thô
cho kinh doanh, ví dụ như: nghiền, cắt, rửa sạch, phân loại, nung quặng, hoá lỏng gas
và các nhiên liệu rắn. Các hoạt động này thường được thực hiện bởi các đơn vị khai
thác mỏ và/ hoặc các đơn vị khác gần đó.
Ngành này không bao gồm các hoạt động:
vào vận hành dây truyền sản xuất
- sửa chữa ô tô, xe máy và các xe có động cơ khác
- Hoạt động lắp ráp trong các đơn vị bán buôn, bán lẻ.
c. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi
nước và điều hoà không khí.
Ngành này là sự kết hợp của 3 ngành: điện, khí đốt và nước nhằm cung cấp
điện, khí đốt và nước cho sản xuất và sinh hoạt.
Ngành này gồm:
- Hoạt động phân phối năng lượng điện, khí tự nhiên, hơi nước và
nước nóng thông qua một hệ thống ống dẫn, đường dây ổn định lâu dài ( mạng lưới ).
Chiều dài của mạng lưới này không quan trọng; ở đây cũng bao gồm cả việc cung cấp
điện, khí đốt, hơi nước, nước nóng và các loại tương tự trong khu công nghiệp và khu
nhà ở cao tầng.
- Hoạt động cung cấp điện và gas, bao gồm thu thập, giám sát và
phân phối điện, gas. Nó cũng bao gồm cung cấp hơi nước và điều hoà không khí.
Ngành này không bao gồm:
- Các hoạt động tưới tiêu trong nông nghiệp và hoạt động xử lý nước
thải
- Vận chuyển gas qua đường dây ( chủ yếu là đường dài ).
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
1.4.4. Dựa vào sự khác nhau về quan hệ sở hữu, hình thức tổ chức sản xuất xã
hội mà công nghiệp được chia ra thành: công nghiệp nhà nước, công nghiệp ngoài nhà
nước và công nghiệp có vốn đầu tư ngoài.
- Công nghiệp nhà nước bao gồm kinh tế nhà nước trung ương và
kinh tế nhà nước địa phương.Chẳng hạn như các doanh nghiệp nhà nước, công ty trách
nhiệm hữư hạn nhà nước, công ty cổ phần nhà nước… mà hoạt động trong lĩnh vực
công nghiệp.
- Khu vực công nghệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm:
quan hệ rất mật thiết với nhau. Để đẩy mạnh chuyên môn hoá và hiệp tác hoá cần phân
bố các xí nghiệp công nghiệp thành các cụm công nghiệp, khu công nghiệp.
Thứ hai, sản xuất công nghiệp có khả năng liên hợp rộng
Liên hợp hoá là quá trình liên kết rất nhiều cơ sở sản xuất của nhiều ngành công
nghiệp khác nhau nhằm sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Liên hợp hoá trong sản xuất công nghiệp được thể hiện ở sự thành lập các xí
nghiệp liên hợp. Đặc điểm này đòi hỏi trong tổ chức sản xuất công nghiệp cần phân bố
các cơ sở sản xuất công nghiệp có mối quan hệ gắn bó với nhau về mặt công nghệ,
hình thành các tổ hợp sản xuất thống nhất trên mỗi vùng lãnh thổ để tạo ra điều kiện
thuận lợi cho việc tổ chức và quản lý sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của từng doanh nghiệp.
Thứ ba, sản xuất công nghiệp có tính tập trung cao độ
Tính tập trung cao của sản xuất công nghiệp được thể hiện là trên một phạm vi
không gian không phải là lớn nhưng có sự tập trung cao độ về tư liệu sản xuất, tập
trung về dân cư và lao động, tập trung về các sản phẩm được sản xuất ra.
Sự tập trung trong sản xuất công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa nhanh những công nghệ tiên tiến vào sản
xuất; đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Sự tập trung hoá trong sản xuất công
nghiệp còn tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành liên hợp hoá, hiệp tác hoá và đẩy
nhanh chuyên môn hoá trong sản xuất. Việc tập trung về dân cư và lao động một mặt
tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng lao động, mặt khác còn tạo điều kiện nâng cao đời
sống cho nhân dân..
với đặc điểm này, trong tổ chức sản xuất công nghiệp cần chú ý tới việc khai
thác những lợi thế do tính tập trung tạo ra; đặc biệt là chú ý tới việc phát triển các khu
công nghiệp, trung tâm công nghiệp hay vùng công nghiệp.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
Thứ tư sản xuất công nghiệp ít chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên
Do các hoạt động sản xuất công nghiệp thường được tiến hành trong nhà,
doanh nghiệp công nghiệp.
Như vậy GO
CN
là chỉ tiêu số lượng, tuyệt đối, thời kỳ.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
2. Ý nghĩa của chỉ tiêu GO trong hoạt động sản xuất công nghiệp
- GO
CN
phản ánh quy mô về kết quả sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp
- Là cơ sở để tính VA, NVA của doanh nghiệp.
- Là căn cứ tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- GO
CN
còn dùng để tính GDP, GNI của nền kinh tế quốc dân.
3. Nguyên tắc tính GO
CN
Để xác định chính xác chỉ tiêu GO
CN
phải tuân theo các quy định sau:
- Chỉ tiêu GO
CN
được tính theo giá sử dụng cuối cùng ( giá thị trường).
- Thời điểm xác định chỉ tiêu là thời điểm sản xuất( chế tạo)
Tức là kết quả của hoạt động sản xuất tạo ra GO
CN
của thời kỳ nào thì phải tính cho
thời kỳ đó.
- Tính toàn bộ giá trị sản phẩm. Theo nguyên tắc này, cần tính vào
- Chênh lệch gía trị của những sản phẩm trung gian ( tức là nửa
thành phẩm và sản phẩm dở dang), công cụ dụng cụ, mô hình tự chế giữa cuối kỳ và
đầu kỳ
- Giá trị dịch vụ công nghiệp đã hoàn thành cho bên ngoài; như
sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, gia công ngắn hay hoàn chỉnh sản phẩm.
- Giá trị cho thuê máy móc, thiết bị và nhà xưởng trong dây
truyền sản xuất của doanh nghiệp
Lưu ý: Ở góc độ này GO
CN
thường tính theo giá so sánh và giá hiện
hành.
Theo số liệu tiêu thụ, GO
CN
bao gồm các khoản như sau:
- Doanh thu tiêu thụ thành phẩm ( chính, phụ và nửa thành phẩm) do
lao động của doanh nghiệp làm ra
- Doanh thu tiêu thụ thành phẩm( chính, phụ và nửa thành phẩm) làm
bằng nguyên, vật liệu của doanh nghiệp nhưng thuê gia công bên ngoài
- Doanh thu từ hợp đồng chế biến sản phẩm cho khách hàng
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất phụ ( khi không
thể hạch toán riêng về ngành phù hợp)
- Thu nhập từ hàng hóa mua vào, bán ra không qua chế biến
- Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm
- Chênh lệch giá trị sản phẩm trung gian và công cụ, dụng cụ, mô hình
tự chế giữa cuối kỳ và đầu kỳ
- Chênh lệch giá trị thành phẩm tồn kho giữa cuối và đầu kỳ
- Chênh lệch giá trị hàng hoá đã gửi bán chưa thu được tiền giữa cuối
và đầu kỳ
- Doanh thu cho thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong dây truyền
sản xuất của doanh nghiệp.
5. Phương pháp tính GO
CN
Theo phương pháp doanh nghiệp: GO
CN
tính theo phương pháp này lấy doanh
nghiệp( xí nghiệp) làm đơn vị tính. Thực chất của phương pháp này là cộng tổng giá
trị sản xuất của tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong
nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của doanh nghiệp công
nghiệp đó, không bao gồm giá trị của sản phẩm chu chuyển trong nội bộ của doanh
nghiệp ( giữa các phân xưởng).
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
Theo phương pháp phân phối ( cấu thành giá trị) thì:
GO
CN
= C+V+M= C
1
+C
2
+V+M
Trong đó:
C
1
: Khấu hao tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh công nghiệp
C
2
: Chi phí trung gian (IC): bao gồm toàn bộ chi phí vật chất khác ( không kể khấu
hao TSCĐ) và chi phí dịch vụ cho sản phẩm công nghiệp của doanh nghiệp. Chi phí
trung gian là chi phí sử dụng đối tượng lao động cho sản phẩm trung gian để làm ra
Mai, Thanh Xuân. Và 5 quận, huyện ngoại thành là Sóc Sơn, Gia Lâm, Từ Liêm,
Thanh Trì, Đông Anh.
Bộ mặt kinh tế-xã hội của Hà Nội đã có những thay đổi rõ nét, thế và lực hiện nay tốt
hơn nhiều so với 10 năm trước. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã
hội được củng cố, giữ vững. Cơ sở hạ tầng đã có bước nhảy vọt về chất.Đời sống cả vật
chất và tinh thần của đại bộ phận các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt.
Hà Nội là một thành phố tập trung nguồn nhân lực, trí tuệ dồi dào chiếm trên 62%
số cán bộ khoa học và quản lý có trình độ trên đại học, giáo sư, tiến sĩ, thạc sỹ của cả
nước hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội. Người dân Hà Nội có trình độ dân trí và
tay nghề khá cao, có khả năng tiếp nhận nhanh chóng các công nghệ hiện đại cũng như
trình độ quản lý tiên tiến.
Hà Nội là thủ đô của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm kinh
tế- chính trị- văn hoá của cả nước, nơi làm việc của các cơ quan đầu não của Việt Nam
như: Trung ương Đảng, chính phủ, các bộ chuyên ngành... Hà Nội là nơi có vị thế
thuận lợi, có chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa linh hoạt, là trung tâm giao dịch kinh
tế và trung tâm giao lưu quốc tế quan trọng của cả nước. Do đó Hà Nội giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Hà Nội luôn là trọng điểm
trong quy hoạch phát triển của đất nước với nhiệm vụ then chốt hiện nay là thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Việc nắm rõ các điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của Hà Nội là rất cần thiết. Nó
có ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển của
vùng, của các ngành, của quốc gia. Nó còn giúp ta phân tích được những nguyên nhân,
đưa ra được những kết luận về sự phát triển của một vấn đề nào đó trong thời gian đã
qua. Trong phạm vi của chuyên đề này chỉ chú trọng khai thác mảng công nghiệp bởi
những lý do sau:
Công nghiệp là một ngành có vai trò rất quan trọng trong nền
KTQD. Với Việt Nam hiện nay ngành công nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong GDP. Đặc biệt trong quá trình CNH- HĐH của nước ta hiện nay thì công nghiệp
đang được chú trọng, ưu tiên phát triển hàng đầu.
Hà Nội là một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, là thành
trưởng cao nhất, tiếp đến là công nghiệp điện, nước, gas, khí đốt và công nghiệp khai
thác có mức tăng trưởng thấp nhất (báo cáo tổng hợp đánh giá thực hiện quy hoạch
công nghiệp 2001-2010).
Nằm trong xu hướng phát triển chung của cả nước và thế giới, giai đoạn 1998-
1999 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á mà tốc độ tăng trưởng các
ngành, khu vực của Hà Nội đều suy giảm. Công nghiệp và xây dựng là hai khu vực bị
1
Bài viết trong diễn đàn"Việt Nam: sãn sàng tham gia tổ chức thương mại thế giới" tại Hà Nội ngày 3-4 tháng
6 năm 2003.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
ảnh hưởng ít nhất, còn nặng nề nhất là nông nghiệp. Từ năm 2000, tăng trưởng của các
khu vực đã dần phục hồi lại. Công nghiệp là ngành phục hồi nhanh với tỷ lệ tăng
trưởng mạnh mẽ nhất. Đến năm 2004, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 641 tỷ đồng
trong khi công nghiệp đạt 12332 tỷ đồng và dịch vụ dẫn đầu với 17552 tỷ đồng. Năm
2007 giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội đã lên tới 51725 tỷ đồng.
• Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế
Sự ra đời và có hiệu lực của luật doanh nghiệp năm 2000 đã tạo ra một môi
trường thuận lợi cho việc thành lập nhiều công ty mới. Năm 2001, toàn thành phố có
1443 doanh nghiệp công nghiệp thì đến năm 2004 con số này đã là 2787.Theo cục
thống kê Hà Nội 2005, sự phát triển của các doanh nghiệp đã góp phần phát huy tiềm
năng vốn, giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động, tăng sản phẩm xã hội cũng
như làm tăng nguồn thu cho ngân sách.
Trong sự phát triển của số lượng doanh nghiệp thì đáng chú ý nhất là sự vượt bậc
của doanh nghiệp ngoài nhà nước. Số doanh nghiệp tăng từ 1089 năm 2001 lên 2399
năm 2004. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có sự phát triển nhanh chóng,
với tổng số 163 doanh nghiệp năm 2004 đã tăng 43 doanh nghiệp so với năm 2001.
Đặc biệt tỷ trọng các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm dần qua các năm.
Thực tế này không chỉ phản ánh kết quả của quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp ở Hà
Sản xuất công nghiệp nhìn chung giữ được nhịp độ tăng trưởng cao song tính
ổn định trong sản xuất chưa cao. Khu vực các doanh nghiệp công nghiệp do Trung
ương quản lý do được đầu tư ban đầu tương đối đồng bộ, sản phẩm của các doanh
nghiệp tiêu thụ được trên thị trường do vậy sản xuất mang tính ổn định nhất, Các
doanh nghiệp công nghiệp địa phương và công nghiệp ngoài nhà nước hiện tại vẫn
đang có sự tăng trưởng khá nhưng tính ổn định không cao, sản phẩm của các doanh
nghiệp của khu vực này chủ yếu tiêu thụ cho thị trường nông thôn phía bắc và các
tỉnh miền trung là nơi có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, lâu dài nếu không
được đầu tư đổi mới công nghệ và thay đổi cơ cấu sản phẩm thích hợp sẽ khó cạnh
tranh được với sản phẩm của các địa phương khác và sản phẩm ngoại nhập. Khu vực
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tính ổn định trong sản xuất kinh doanh
rất thấp, ngoại trừ một số doanh nghiệp vốn đầu tư lớn và có được cơ cấu sản phẩm
thích hợp và thị trường tiêu thụ ổn định sản xuất phát triển, những doanh nghiệp đầu
tư vừa và nhỏ sản xuất rất bấp bênh, tính ổn định trong sản xuất kinh doanh rất thấp.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
• Quy mô doanh nghiệp công nghiệp
Số lao động bình quân một doanh nghiệp hiện nay là 105 người; trong đó quy mô
trung bình của doanh nghiệp ngoài nhà nước là 38 lao động. Thực tế này có thể do các
doanh nghiệp mới thành lập phần nhiều chuyển từ hình thức hộ gia đình sang. Quy mô
lao động lớn thường tập trung ở các ngành có đặc thù về dây truyền sản xuất như may
mặc, sản xuất sản phẩm kim loại.
Theo quy định hiện hành của Chính phủ tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa
và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô dưới 300 lao động và vốn dưới 10 tỷ đồng
thì đại bộ phận các doanh nghiệp Hà nội được xếp vào loại doanh nghiệp quy mô
vừa và nhỏ, doanh nghiệp có quy mô lớn không nhiều, trong 9569 doanh nghiệp thì
có 9125 doanh nghiệp có dưới 300 lao động, chiếm 95,4 % và 8084 doanh nghiệp
có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 84%. Doanh nghiệp quy mô trên nhỏ thường
đi kèm kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, chỉ có 6% doanh nghiệp có quy mô vốn trên
lao động. Cơ cấu lao động công nghiệp theo các ngành có sự chuyển dịch lớn trong
thời gian qua. Tỷ trọng các ngành được xem là mũi nhọn của thành phố như cơ khí,
hoá chất, in ấn, chế biến thực phẩm, dệt may, da giầy tăng lên đáng kể. Trong đó thu
hút thêm nhiều lao động nhất là ngành chế biến thực phẩm, dệt may, da giầy và cơ
kim khí.
• Hiện trạng lao động của Hà Nội
Nguồn nhân lực của Hà Nội hiện nay được đánh giá là có trình độ văn hoá cao
so với cả nước. Trong năm 1998 chỉ số năm học cao nhất đã qua bình quân cho một
lao động là 9,9 năm; số lao động được đào tào từ sơ cấp trở lên chiếm 32,2%, cao
hơn mức chung bình chung cả nước là 13,3%. Tuy nhiên trình độ này vẫn chưa đáp
ứng được đòi hỏi, yêu cầu của thực tế.
Công nghiệp được coi là ngành có vai trò quyết định, chiến lược đến phát triển
phân công lao động xã hội. Theo báo cáo tổng hợp đánh giá thực hiện quy hoạch
công nghiệp 2001-2010 của viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thì
lao động tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, khoảng 15-16% toàn bộ lao
động đang làm việc và trong thời kỳ 1997-2002 mức tăng trung bình là 3,58%/năm.
Mặc dù số lượng còn rất khiêm tốn nhưng lao động tăng thêm trong công nghiệp lại
có vai trò hết sức quan trọng trong lực lượng lao động chung. Bởi đây là những lao
động có tay nghề, có trình độ kỹ thuật và khả năng làm việc trong một môi trường
chuyên nghiệp, công nghệ tương đối hiện đại.
Kết quả điều tra trên 115000 công nhân kỹ thuật cho thấy ngành may chiếm tỷ
trọng lớn nhất, hơn 20%; tiếp đó là kỹ thuật xây dựng gần 15%; kỹ thuật điện 11%,
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
cơ khí 10% và một phần nằm trong các ngành dệt, nhuộm, sản xuất sản phẩm kim
loại.
Để đáp ứng cho nhu cầu của CNH-HĐH, đồng thời duy trì một mức tăng
trưởng kinh tế cao thì Hà Nội còn thiếu rất nhiều công nhân kỹ thuật, đặc biệt là thợ
kỹ thuật bậc cao. Đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật trong ngành công nghiệp
viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp, 2003 thì tỷ trọng vốn đầu tư cho
công nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội của thành phố giảm xuống. Năm 1995 nó
chiếm 33,8% và đến năm 2000 còn khoảng 30% trong tổng cơ cấu vốn đầu tư xã hội
thành phố. Xu hướng dịch chuyển này sẽ gây ra khó khăn trong việc xây dựng cơ cấu
kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng các ngành khác. Nó có
thể làm chậm nhịp độ tăng trưởng của công nghiệp, làm chậm quá trình CNH.
Tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp xét theo các thành phần kinh tế đều giảm. Với
công nghiệp nhà nước, tỷ trọng này giảm từ 21% năm 1995 xuống chỉ còn 16% năm
2000. Với khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tốc độ tăng đầu tư bình
quân là 10,8%/năm. Trong khi tốc độ tăng đầu tư nước ngoài chung vào thành phố là
12,8%. Điều này cho thấy, vốn đầu tư nước ngoài vào công nghiệp còn khá thấp. Khu
vực công nghiệp ngoài nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổng vốn đầu tư
xã hội ( chiếm tới trên 80%) nhưng cũng chỉ đầu tư 1/3 vào công nghiệp.
Xét trên tổng thể nền kinh tế, rõ ràng công nghiệp không phải là khu vực thành
công về thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngoài nói riêng. Thực trạng
này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà một trong những nguyên nhân cơ bản là do
chính sách thu hút vốn đầu tư vào công nghiệp chưa hấp dẫn, chưa tạo được các điều
kiện ổn định cho nhà đầu tư.
Từ trước đến nay, nguồn vốn đầu tư từ nhà nước luôn có một vai trò hết sức
quan trọng. Tuy nhiên vai trò đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tín dụng đang dần
dần nâng cao vị trí. Nguồn vốn tín dụng cho công nghiệp đang tăng lên, từ 10% năm
1997 lên đến 23% năm 2000 và 44% năm 2001. Đầu tư từ khu vực công nghiệp
ngoài nhà nước liên tục tăng, trong khi công nghiệp nhà nước lại giảm nhanh. Mặc
dù vậy nguồn vốn do doanh nghiệp nhà nước tự huy động vẫn có một vai trò quan
trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào công nghiệp.
2.1.2.3. Nguyên nhân chủ yếu của những kết quả đạt được và yếu kém
trong công nghiệp Hà Nội thời gian qua
a. Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
22
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
23
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa thống kê
triển mạnh ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhưng lại làm suy giảm cho các doanh
nghiệp trong nước như các sản phẩm láp ráp điện tử, ô tô, xe máy...
- Ba là, sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là khu vực hộ cá
thể là khu vực sản xuất nhỏ, chưa được đầu tư thiết bị và công nghệ, kỹ thuật sản
xuất thủ công lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản xuất hết sức bấp bênh và không
ổn định. Vì vậy trước yêu cầu về chất lượng cao, giá thành hạ và yêu cầu đòi hỏi
ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và thị trường nước ngoài thì khu vực
này chưa đủ điều kiện và khả năng để phát triển bền vững, lâu dài.
2 .2.Phân tích giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 1997-2007 và
dự đoán cho hai năm 2008, 2009
2.2.1. Một số phương pháp thống kê sử dụng để phân tích và dự đoán giá trị
sản xuất công nghiệp
2.2.1.1.Phương pháp đồ thị thống kê
a. Khái niệm, tác dụng, ý nghĩa của đồ thị thống kê
- Khái niệm: Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình
học để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê.
Đặc điểm: Đồ thị thống kê sử dụng kết hợp các con số và hình vẽ, đường nét và màu
sắc để trình bày các đặc trưng và phân tích đặc điểm về số lượng của hiện tượng.
Mặt khác, các đồ thị thống kê không trình bày cụ thể, tỷ mỉ, chi tiết các đặc trưng số
lượng của hiện tượng, mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản
chất, xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng. Do vậy nó rất dễ hiểu, có sự hấp dẫn
và sinh động.
- Tác dụng: Dùng đồ thị thống kê có thể hình tượng hóa sự phát triển
của hiện tượng qua thời gian, kết cấu và biến động kết cấu, trình độ phổ biến, quan hệ
so sánh, mối liên hệ giữa các hiện tượng.
- Ý nghĩa: Do những tác dụng thực tế của nó mà các đồ thị thống kê
được sử dụng rộng rãi trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế.
c. Những yêu cầu đối với việc xây dựng đồ thị thống kê
Để xây dựng một đồ thị thống kê thật chính xác, dễ xem, dễ hiểu và đẹp thì
không phải là một điều dễ dàng. Muốn đảm bảo được những yêu cầu này, chúng ta
phải chú ý đến những yếu tố chính của đồ thị, như:
• Quy mô của đồ thị: ở đây muốn đề cập đến to hay nhỏ, lớn hay bé, ta phải
căn cứ vào mục đích sử dụng. Trong các đoán cáo phân tích không nên vẽ các đồ thị
quá lớn.
Nguyễn Thị Thắng Thống kê 46A
25