Nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ sở từ thực tiễn tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THỤ

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC
TIỄN TẠI THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
Phản biện 1: TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
Phản biện 2: PGS,TS. NGUYỄN MINH HOÀ

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: ...... giờ, ngày...... tháng
10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viên Học viện Khoa học Xã hội

sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng”, Học viện Chính trị Quốc gia
1


Hồ chí Minh. Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2003), “Nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng trong doanh
nghiệp nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Tác giả Nguyễn Viết Mạnh
(2014), “Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cấp xã trên địa bàn
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn thạc sỹ, bảo
vệ tại Học viện báo chí và Tuyên truyền. Tác giả Lê Hữu Nghĩa
(2001), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của
chính quyền cơ sở. Tạp chí cộng sản số 19 .Tác giả Lê Hữu Nghĩa
(2014), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong điều kiện Đảng cầm quyền, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Tác giả Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên) (1994), Đặc
điểm, nội dung,phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính
trị, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể tổ chức xã
hội, Đề tài cấp nhà nước KX.05.06. Tác giả làm rõ hơn mối quan hệ
giữa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức trong
hệ thống chính trị Việt Nam.
Các bài nói, bài viết đã tạo tiền đề cho tác giả kế thừa về tư
tưởng, nội dung và phương pháp làm đề tài luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nâng cao năng
lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng từ thực tiễn thị xã Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp
phần nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng đáp ứng
yêu cầu thực tiễn thời kỳ phát triển mới trên địa bàn thị xã.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, diễn dịch và quy nạp. Phương pháp phân tích,
tổng hợp được sử dụng ở cả 03 chương để làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận, cũng như đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, kiến
nghị nhằm hoàn thiện nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ
thống chính trị cấp cơ sở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2,
3


nhằm đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng thực nâng cao năng lực
lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thị xã Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh, cả về những kết quả đạt được, những hạn
chế, yếu kém và nguyên nhân trong hoạt động này.
Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
nhằm đánh giá thực tiễn nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong
hệ thống chính trị cấp cơ sở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Mục đích khảo sát: Thu thập các dữ liệu phục vụ đánh giá
thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính
trị cấp cơ sở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Địa bàn khảo sát: Đề tài khảo sát trên địa bàn thị xã Đông
Triều
Đối tượng khảo sát: Đề tài phát ra 300 phiếu khảo sát, thu về
258 phiếu phiếu hợp lệ.
Nội dung khảo sát: Các câu hỏi dưới dạng mở đánh giá về
việc thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống
chính trị cấp cơ sở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thời gian qua
(Cụ thể tham khảo tại phụ lục)
Xử lý dữ liệu: Đề tài sử dụng thang đánh giá với 5 mức độ là

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP CƠ SỞ
1.1. Hệ thống chính trị cấp cơ sở và năng lực lãnh đạo của Đảng
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.1.1. Khái niệm về tổ chức cơ sở Đảng và hệ thống chính trị cấp
cơ sở
1.1.1.1. Tổ chức cơ sở Đảng
1. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền
tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở
lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy huyện). Ở cơ quan,
doanh nghiêp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an
và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức
đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp
5


ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực
thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên
chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt
ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ
sở có các tổ đảng trực thuộc.
4. Tổ chức cơ sơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên,
lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy.
5. Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo
và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện:
- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi
đảng viên.

đoàn thể chính trị - xã hội (Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội Liên
hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương.
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở là cấp trực tiếp giải quyết
những vấn đề ở cơ sở, những yêu cầu bức xúc của người dân, những
vấn đề nảy sinh trong đời sống; hệ thống chính trị cơ sở gắn bó mật
thiết và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân.
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố
đặc thù mang tính chất vùng như: các quan hệ cộng đồng, các yếu tố
văn hóa, tôn giáo, phương thức sản xuất…
Thứ năm, các mối quan hệ theo nhiều hướng đang đan xen và
tác động lẫn nhau hết sức sinh động và phức tạp.
1.1.2. Năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ
sở
Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là tổng hợp những
phẩm chất, trình độ, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng đáp ứng yêu
cầu hoạt động lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng. Năng lực lãnh đạo
của tổ chức cơ sở Đảng thể hiện tiêu biểu nhất ở năng lực lãnh đạo
của cấp uỷ đảng.
1.2. Nội dung nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ
thống chính trị cấp cơ sở
7


1.2.1. Khái niệm nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là nâng
cao một cách toàn diện từ năng lực xây dựng đường lối, chủ trương,
chính sách, đến năng lực tổ chức và chỉ đạo thực hiện, động viên, tập

mạnh:
(6) Hình thức tăng cường công tác vận động quần chúng của
tổ chức cơ sở đảng:
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Phải phát huy quyền làm
chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi
ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ của công dân; chú trọng lợi
ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi
dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì
có hại cho dân thì hết sức tránh.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực lãnh đạo của
Đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.3.1. Các yếu tố, nhân tố về lịch sử - xã hội
Trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập sâu quốc tế, Việt Nam
vẫn là một quốc gia có lợi thế địa kinh tế, địa chính trị và văn hóa.
Trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức lớn đan
xen, việc phát huy sức mạnh lịch sử - xã hội, phát huy vai trò lãnh
đạo của tổ chức cơ sở đảng trong sự nghiệp đổi mới là vấn đề cần
thiết, được quan tâm lãnh đạo của Đảng ta, bởi lẽ đây là những nhân
tố được vun đắp và xây dựng nên bởi một bề dày lich sử với bao thế
hệ cán bộ, đảng viên, người dân Việt Nam.
1.3.2. Yếu tố về tổ chức, cán bộ và hoạt động của tổ chức
cơ sở đảng
Công tác tổ chức, cán bộ là công tác đối với con ngưới, đối
với các nhân cách khác nhau. Đây là nhân tố tác động, rất quan trọng,
bảo đảm cho vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung cũng như tổ chức
cơ sở đảng nói riêng.
1.3.3. Yếu tố nhận thức về Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng
9


tạo nghề, giải quyết việc làm; tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 còn 1,13%.
2.1.2. Thực trạng hệ thống chính trị cấp cơ sở thị xã Đông Triều
10


Đảng bộ thị xã hiện có 48 chi, đảng bộ trực thuộc; trong đó
34 đảng bộ và 14 chi bộ (15 đảng bộ xã; 06 đảng bộ phường; 04 chi,
đảng bộ thuộc loại hình cơ quan hành chính; 05 chi, đảng bộ loại
hình đơn vị sự nghiệp; 02 đảng bộ thuộc loại hình an ninh- quốc
phòng; 16 chi, đảng bộ thuộc loại hình doanh nghiệp), 413 chi bộ
trực thuộc đảng bộ cơ sở, với tổng số 8.201 đảng viên; chất lượng tổ
chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên không ngừng được nâng lên,
kết quả đánh giá phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng
viên giai đoạn (2010-2013) cho thấy: Số chi bộ đạt tiêu chuẩn chi bộ
trong sạch, vững mạnh tăng (năm 2010 đạt 88,14%; năm 2013 đạt
92,4%); số đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ (năm 2010
đạt 80,37%; năm 2013 đạt 91,7%); đến tháng 01/2014, không còn chi
bộ thôn sinh hoạt chi bộ ghép.
Trong 34 Đảng bộ cơ sở, có 413 chi bộ trực thuộc; trong số
chi bộ trực thuộc có 119 chi bộ thôn, 54 chi bộ khu phố; 19 chi bộ
quân sự, công an (01 chi bộ quân sự, 06 chi bộ công an trực thuộc
Đảng ủy xã, phường; 03 chi bộ trực thuộc Đảng ủy Quân sự; 09 chi
bộ trực thuộc Đảng ủy Công an); 21 chi bộ cơ quan, 17 chi bộ trạm y
tế trực thuộc Đảng ủy xã, phường; 41 chi bộ cơ quan trực thuộc đảng
bộ khối Đảng, Đoàn thể, Chính quyền; 05 chi bộ trực thuộc Đảng ủy
Trung tâm y tế thị xã; 105 chi bộ trường học; 45 chi bộ trực thuộc
Đảng uỷ doanh nghiệp (12 chi bộ doanh nghiệp nhà nước, 33 chi bộ
doanh nghiệp ngoài tư nhân).
2.2. Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều, tỉnh

đổi cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, đưa các giống cây, con có hiệu quả
kinh tế cao vào sản xuất. (2) Chương trình xây dựng nông thôn mới:
Dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã,
Chính quyền các xã, phường xác định đây là chương trình trọng tâm
để thúc đẩy nhanh phát triển sản xuất trong nông nghiệp, xây dựng
kinh tế nông thôn, xây dựng, nâng cấp hạ tầng, diện mạo nông thôn.
Chính quyền cơ sở luôn quan tâm chỉ đạo lập quy hoạch, đề án xây
dựng nông thôn mới của các xã, phường.
(3) Lãnh đạo phát triển các ngành dịch vụ: Các ngành dịch
vụ tiếp tục ổn định và phát triển như: Du lịch, thương mại, tài chính,
12


bảo hiểm, giao thông vận tải, viễn thông… đáp ứng nhu cầu phát
triển sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân. Giá trị gia tăng
ngành dịch vụ - thương mại năm 2014 tăng 35,2% so với năm 2010,
năm 2015 ước đạt 1.250 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5
năm ước đạt 16,1% (mục tiêu 16,6%/năm).
(4) Chương trình xây dựng và phát triển đô thị: Ngay từ
cuối năm 2011, Cấp uỷ, chính quyền cơ sở tập trung công tác lập quy
hoạch, xây dựng và chỉnh trang đô thị, kết hợp Chương trình xây
dựng đô thị với Chương trình xây dựng nông thôn mới.
(5) Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao: Phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng đi vào chiều sâu.
Công tác quản lý văn hoá được quan tâm, chú trọng; thường xuyên
kiểm tra, chấn chỉnh các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá trên
địa bàn.
(6) Giáo dục và đào tạo: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát
triển toàn diện cả về quy mô và chất lượng trong các ngành học, cấp
học. Quan tâm xây dựng chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

- Việc xây dựng và triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết
của các cấp uỷ cơ sở đạt kết quả cao do công tác lãnh đạo, chỉ đạo
của các cấp uỷ, phát huy trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ với
quyết tâm cao, có trọng tâm, trọng điểm nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
2.2.6. Nâng cao khả năng xây dựng các tổ chức trong hệ thống
chính trị ở cơ sở vững mạnh
Những năm qua tổ chức cơ sở đảng ở các xã, thị trấn đã tập
xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị cũng như phát triển đảng
viên. Cụ thể là có nhiều đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo; quan tâm
đào tạo, luân chuyển, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ của hệ thống
chính trị đảm bảo số lượng và chất lương.
2.2.7. Nâng cao khả năng lãnh đạo Mặt trận và các đoàn
thể quần chúng, tăng cường mối quan hệ gắn bó với dân
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXX
và các nghị quyết của cấp trên, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng
vũ trang trên địa bàn huyện đã đoàn kết thống nhất, chủ động, sáng
tạo, phát huy tối đa các nguồn lực, khắc phục mọi khó khăn, tận dụng
14


tốt thời cơ, thực hiện thắng lợi những mục tiêu do Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ huyện lần thứ XXX đề ra.
2.2.8. Về hình thức nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ
thống chính trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều
Đề tài tổ chức khảo sát về mức độ thực hiện các hình thức
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ
sở với thang đo 5 mức là Rất tốt, tốt, khá, trung bình và kém. Kết quả
được tổng hợp trong bảng số liệu dưới đây.
2.2.9. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tại thị xã Đông

Năm là, gắn công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch
vững mạnh với xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở
trên tinh thần Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Tỉnh ủy và kết luận
64 của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7. Phát huy vai trò to lớn
của quần chúng nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng
như công tác xây dựng Đảng.
Sáu là, tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên đối với cơ sở,
hướng mọi hoạt động về cơ sở. Quan tâm giúp đỡ cơ sở tháo gỡ khó
khăn, làm tốt công tác sơ, tổng kết, nhân rộng các cá nhân điển hình
tiên tiến, gương người tốt việc tốt.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Hạn chế
Một là, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy,
tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế. Công tác quán triệt, tuyên
truyền, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết ở một số cơ sở chưa
đáp ứng được yêu cầu
Hai là, việc lãnh đạo của chính quyền cơ sở trong việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất tại địa phương còn chậm; năng suất, sản lượng
cây trồng và một số chỉ tiêu đề ra đạt thấp; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch chậm, tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn thấp.
Ba là, nhiều phong trào văn hóa chưa đi vào chiều sâu; thực
hiện một số chương trình, chính sách cho người có công chậm và sai
sót; kết quả giảm nghèo chưa bền vững, chưa tạo được việc làm ổn
16


định cho người dân; đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều
khó khăn.
Bốn là, chất lượng, hiệu quả của công tác chính quyền ở một

3.1.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính
trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay cần
được xác định là yêu cầu khách quan
a) Nâng cao năng lực lãnh đạo, của tổ chức cơ sở đảng là
yêu cầu khách quan
b) Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là đòi
hỏi cấp thiết
c) Nâng cao năng lực để tăng cường hiệu quả sự lãnh đạo
của Đảng ở cơ sở
3.1.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính
trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay cần
được xác định là một quá trình, với nguyên tắc, phương pháp,
phương châm và khâu đột phá nhất định
a) Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, vai trò của
nhân dân trong nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
b) Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là
một quá trình:
c) Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng phải
có phương pháp thích hợp, đồng bộ các giải pháp và khâu đột phá có
tính quyết định:
3.2. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh
3.2.1. Nhóm giải pháp phát huy năng lực lãnh đạo của Đảng trong
hệ thống chính trị cấp cơ sở tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng
Ninh
Về công tác tổ chức cán bộ: Phải luôn xác định cán bộ là cái
gốc của mọi công việc, “cán bộ nào thì phong trào ấy”; cán bộ là
nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng,
chính quyền và các bộ phận thành viên trong hệ thống chính trị.

chức đảng và cán bộ, đảng viên; Kiểm tra, bổ sung, hoàn thiện quy
định chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động cụ thể của chính
quyền, …
19


Đối tượng kiểm tra, giám sát là cấp ủy, cán bộ chủ chốt, nhất
là người đứng đầu các địa phương, chú trọng trong việc giữ gìn phẩm
chất đạo đức, lối sống, không để người thân trong gia đình lợi dụng
chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền
kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng cho ủy ban kiểm tra các cấp.
Đối với Ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên tiến hành
kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý trong
việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công
chức; việc thực hiện Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các
văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ. Hằng năm cần có
báo cáo kết quả thực hiện của cán bộ thuộc cấp ủy quản lý trong việc
chấp hành quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, Luật
cán bộ, công chức, Luật Viên chức.
Tất cả cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị cơ sở
phải thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII gắn với
đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thực hiện tốt việc tự
phê bình của cán bộ, đảng viên trước quần chúng kể cả nơi công tác
và nơi cư trú. Thông qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự lắng
nghe ý kiến của quần chúng nhân dân; kịp thời khắc phục những hạn
chế, thiếu sót, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Với Trung ương

phụ cấp của bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, thôn trưởng, trưởng
các đoàn thể nhân dân ở tổ dân phố, thôn để động viên cán bộ tích cực
tham gia hoạt động góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày
càng vững mạnh. Có hướng dẫn cụ thể để thực hiện kết luận 64 của
Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương (KXI)
- Nghiên cứu để nâng mức phụ cấp cho cấp phó các đoàn thể
xã, thị trấn.
- Chế độ phụ cấp kiêm nhiệm Bí thư Đảng uỷ đồng thời là
Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn nói chung và cán bộ công chức,
cấp huyện tăng cường xuống phường, xã làm Bí thư Đảng uỷ.
21


b) Cơ chế chính sách trong công tác cán bộ:
Đề nghị phân cấp cho các xã, thị chủ động xét tuyển cán bộ
công chức theo những tiêu chuẩn qui định sau đó đề xuất huyện
tuyển dụng. Về việc biên chế và sử dụng biên chế: đề nghị với Tỉnh
và Trung ương, cần có biên chế chuyên trách chức danh văn phòng
đảng ủy các xã, thị.
- Có quy định cụ thể quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp
xã, luân chuyển, sắp xếp cán bộ, công chức xã theo hướng tăng thẩm
quyền cho cơ sở.
c) Qui định cụ thể về thực hiện tài chính đảng:
Tỉnh cần hướng dẫn cụ thể để thực hiện nghiêm chỉnh theo
qui định của Trung ương về tài khoản, kinh phí hoạt động cho đảng
bộ các xã, thị trấn vì hiện nay trên địa bàn toàn huyện cẩm xuyên
đảng ủy các xã, thị trấn cũng như các đoàn thể không có tài khoản
riêng mà theo tài khoản của UBND phường, xã, thị trấn vì thế không
thực hiện đúng như hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng,
mất tính chủ động, phụ thuộc làm giảm năng lực lãnh đạo.

phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung và của các tổ chức Đảng
cơ sở thị xã Đông Triều nói riêng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới toàn diện sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế hiện
nay, để tăng cường và nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu quả hoạt
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status