BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM PHƯỚC
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM PHƯỚC
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
trong nước còn hạn chế nên luôn luôn cần những nguồn vốn từ nước
ngoài.
Các nhà quản lý kinh tế, các nhà khoa học ở các quốc gia trên
thế giới và Việt Nam vẫn chưa thống nhất quan điểm về thu hút và
sử dụng nguồn vốn FDI. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, FDI có tác
động tích cực đến kinh tế và cũng không ít người cho rằng FDI có
nhiều tác động tiêu cực đến kinh tế của các quốc gia tiếp nhận đầu
tư. Hai nhóm có quan điểm trái chiều liên quan đến FDI như sau:
Quan điểm thứ nhất: Vốn FDI có vai trò quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế của các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư, nó góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Burke và Epstein, 2001).
Quan điểm thứ hai: Các nhà nghiên cứu tìm ra những tác động
tiêu cực của vốn FDI. Vốn FDI ảnh hưởng đến thu ngân sách và tạo
môi trường cạnh tranh không lành mạnh do hoạt động chuyển giá
của các DN FDI (Phạm Tiến Hùng, 2012); FDI làm mất cân đối
trong đầu tư của quốc. Theo quan điểm này, vốn FDI không tốt cho
nền kinh tế của các quốc gia, vì vậy, các quốc gia không nhất thiết
phải thu hút vốn FDI.
Như vậy, nguồn vốn FDI không phải lúc nào cũng giúp tăng
trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia. Các quốc gia cần xem
3
xét thật cẩn trọng khi thu hút vốn FDI, đặc biệt là chú ý đến những
tác động của vốn FDI đến nền kinh tế trong nước.
Những minh chứng từ các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao trên thế giới đều cho thấy, vốn đầu tư nước ngoài tạo động lực
thúc đẩy kinh tế phát triển khá mạnh. Theo UNCTAD (2012) nhận
định trong thời gian tới, xu hướng dòng vốn FDI dịch chuyển sang
cấp tỉnh (PCI) được cải thiện khá tốt. Các tỉnh Đồng Tháp, Long An,
4
Cần Thơ là những địa phương luôn nằm trong top 10 của cả nước về
chỉ số năng lực cạnh tranh.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (2014), trong tổng số các dự án
FDI vào Việt Nam, số dự án đầu tư vào vùng ĐBSCL chiếm chưa
đến 11% mặc dù số dự án có gia tăng qua các năm nhưng tỷ lệ dự án
FDI đầu tư vào vùng này còn rất nhỏ, chủ yếu là đầu tư vào công
nghiệp chế biến, chế tạo. Xét trên tổng vốn đăng ký ĐBSCL so với
cả nước, số vốn đăng kí đầu tư vào vùng ĐBSCL khá nhỏ, chiếm
dưới 5% so với cả nước, chỉ riêng 2 năm 2013 và 2014 có tỷ lệ vượt
lên trên 5%. Như vậy, vốn FDI đầu tư vào vùng ĐBSCL còn rất hạn
chế về số dự án lẫn số vốn đầu tư.
Với vị trí, vai trò quan trọng như thế, nhưng ĐBSCL thu hút
vốn đầu tư còn rất hạn chế, đặc biệt là vốn FDI Câu hỏi đặt ra là: Tại
sao các nhà đầu tư nước ngoài không đầu tư vào vùng ĐBSCL? Vốn
FDI có vai trò như thế nào trong tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL?
Yếu tố nào có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn FDI
vào vùng ĐBSCL? Ngoài vốn FDI, tăng trưởng kinh tế vùng
ĐBSCL còn dựa vào yếu tố nào? Trước những vấn đề trên, nghiên
cứu về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của
các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long” được thực hiện nhằm giúp
chính quyền các cấp có những giải pháp thiết thực giúp ĐBSCL đạt
được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và thu hút vốn FDI theo
định hướng phát triển của vùng ĐBSCL, góp phần vào mục tiêu kinh
tế - xã hội chung của quốc gia.
1.2. Tóm tắt cơ sở lý luận và các nghiên cứu trước
Sự dịch chuyển của dòng vốn FDI được lý giải bởi nhiều lý
biệt. Gần đây, nghiên cứu về FDI và tăng trưởng kinh tế ở các quốc
gia trên Thế giới và Việt Nam khá nhiều, tuy nhiên, các nghiên cứu
có những khía cạnh quan tâm và mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên
kết quả nghiên cứu cũng không đồng nhất, cụ thể như:
(i) Các yếu tố tác động đến thu hút vốn FDI được tổng kết
qua các nghiên cứu trước đây như sau: FDI năm sau chịu ảnh hưởng
bởi nguồn vốn FDI năm trước (Hồ Đắc Nghĩa, 2014), GDP của quốc
gia tiếp nhận đầu tư (Dunning, 1981, Chimobi, 2010, Iftikhar (2012),
vốn đầu tư của nhà nước (Tang et al, 2008, Hồ Đắc Nghĩa, 2014,
Omri, 2014, Muusibah & ctg, 2015), vốn đầu tư của tư nhân trong
nước (Mankiw và ctg, 1995, Olugbenga và Owoye, 2007, Omri,
2014, Musibah và ctg, 2015), lực lượng lao động (Deyo, 1989,
Harris và Reid, 2010), độ mở của nền kinh tế (Akin, 2009, Ding và
Jinjarak, 2012, Xin, 2012, Khachoo và Khan, 2012, Okafor, 2015),
chỉ số giá tiêu dùng (Demirhan và Masca, 2008, Azam và Lukman,
2010), thu ngân sách/GDP (Wagner, 1983, Hughes, 2012), chi
thường xuyên/GDP (Wagner, 1983, Devarajan và ctg, 1996), bán lẻ
hàng hóa (Heckscher và Ohlin, 1991, Khachoo và Khan, 2012,
Okafor và ctg, 2015), vận chuyển hàng hóa (Asiedu, 2002, Meyer và
Nguyen, 2005, Khadaroo và Seetanah, 2007), môi trường đầu tư
(Globerman và Shapiro, 2003, Navaretti và ctg, 2004).
6
(ii) Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế được đúc kết
qua kết quả của các nghiên cứu trước đây như sau: Tăng trưởng kinh
tế năm trước (Tsai, 1994, Barrell và Pain, 1997, Anwar và Nguyen,
2010, Ahmad và ctg, 2012), vốn FDI (Iftikhar, 2012, Shaari và ctg,
2012), vốn đầu tư trong nước (Mankiw và ctg, 1990, Deok-Ki Kim
và Seo, 2003), lực lượng lao động (Ahmad và ctg, 2012, Okafor,
1998 đến năm 2014 trên phạm vi Thế giới và Việt Nam. Về cơ bản,
7
các nghiên cứu được các tác giả thực hiện ở những vùng nghiên cứu
không giống nhau, với bộ dữ liệu thời gian khác nhau và có những
ứng dụng lý thuyết nền tảng riêng nên kết quả cũng có những điểm
không đồng nhất. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy
giữa FDI và GDP có tác động qua lại với nhau, có một số nghiên
cứu cho rằng FDI không tác động đến GDP và đôi khi lấn át đầu tư
trong nước (Acar và ctg, 2012). Các nhà nghiên cứu có sự đồng
thuận cao về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (GDP) như:
Vốn, lao động, xuất - nhập khẩu, cơ sở hạ tầng, độ mở của nền kinh
tế, nguồn nhân lực, chính sách của chính phủ, đầu tư tư nhân, chi
tiêu công. Đặc biệt, lạm phát và chính sách thuế có tác động tiêu cực
đến FDI và GDP. Các nghiên cứu trước cũng đề xuất một số chính
sách dựa vào kết quả nghiên cứu, ví dụ như: Các quốc gia muốn thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế phải có chính sách phù hợp thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài; mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế (tăng độ mở
của nền kinh tế); có những chính sách ưu đãi đầu tư (cả đầu tư nước
ngoài và đầu tư trong nước), đầu tư cơ sở hạ tầng; đào tạo nguồn
nhân lực, ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào trong hoạt động sản
xuất kinh doanh; nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đặc biệt là: Hệ
thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mở rộng qui mô
thị trường, hệ thống tài chính,…đặc biệt là những chính sách, thể chế
của nhà nước liên quan đến sự ổn định kinh tế – chính trị.
Nghiên cứu về FDI và GDP ở Việt Nam có nhiều tác giả
thực hiện, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào tập trung vào
nghiên cứu ở vùng ĐBSCL. Điều này có thể do dữ liệu thống kê về
FDI trước đây chưa có (trước 2004, số liệu về vốn FDI nhiều
Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để xác định các
yếu tố tác động đến GDP và FDI của các tỉnh/thành thuộc vùng
ĐBSCL, đồng thời so sánh một số chỉ tiêu KTXH của các tỉnh/thành
vùng ĐBSCL với các vùng khác để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
Bên cạnh đó, luận án còn đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế
các tỉnh/thành vùng ĐBSCL qua chỉ tiêu TFP.
1.3.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến GDP và
FDI ở vùng ĐBSCL, mối quan hệ giữa GDP và FDI ở các tỉnh/thành
ĐBSCL theo hướng chú trọng vào đặc điểm mang tính đặc thù của
địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình thu
hút vốn FDI cũng như góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo
hướng khai thác lợi thế của vùng ĐBSCL.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến GDP của các tỉnh/thành
ĐBSCL.
(2) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vốn FDI vào các
tỉnh/thành ĐBSCL.
(3) Phân tích mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế
(GDP) của các tỉnh/thành ĐBSCL.
9
(4) Đánh giá tăng trưởng kinh tế của các tỉnh/thành ĐBSCL qua
phân tích năng suất tổng hợp (TFP).
(5) Đưa ra được những khuyến nghị đến cơ quan quản lý có liên
quan nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn FDI vào các
tỉnh/thành ĐBSCL.
1.3.3. Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
Đặc điểm của
địa phương
H6
H10
GDP
H11
H12
Kinh tế bên
ngoài
H14
10
1.4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
và tăng trưởng kinh tế (GDP) hàng năm trên địa bàn các tỉnh/thành
vùng ĐBSCL. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tất cả 13 tỉnh/thành
vùng ĐBSCL trong phạm vi 10 năm (2005 -2014).
Tăng trưởng kinh tế gồm có tăng trưởng theo chiều rộng và
theo chiều sâu hoặc kết hợp chiều rộng với chiều sâu (CIEM, 2012).
Vốn FDI cũng tác động đến tăng trưởng kinh tế theo hai khía cạnh
thực tiễn cao, phù hợp với tình hình nghiên cứu hiện tại và đúng với
đặc thù của vùng nghiên cứu (phạm vi nghiên cứu). Trên cơ sở mô
hình nghiên cứu được xác định và các biến quan sát, luận án tiến
hành thu thập dữ liệu sử dụng dùng trong nghiên cứu (dữ liệu thứ
cấp) từ các cơ quan quản lý nhà nước công bố chính thức. Luận án
sử dụng phương pháp hồi qui dữ liệu bảng (Pooled OLS, REM,
FEM và GMM) và kiểm định mối quan hệ nhân quả (phương pháp
kiểm định nhân quả Granger) để xác định các yếu tố chính tác động
đến GDP và FDI của Việt Nam và vùng ĐBSCL và mối quan hệ
giữa hai yếu tố này. Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của các
tỉnh/thành ĐBSCL qua phân tích năng suất tổng hợp (TFP) theo hàm
sản xuất của (Solow, 1956). Dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập, luận án
tiến hành phân tích bằng các công cụ phân tích định lượng, thông
qua các phần mềm ứng dụng như Stata 13.0 và SPSS 22.0. Trong mô
hình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp AIC để xác định độ
trễ của biến phụ thuộc, xác định biến nội sinh và biến công cụ qua
phương pháp GDM với các kiểm định (AR2 và kiểm định Sargan)
Đồng thời, đề tài cũng sử dụng các phương pháp khác như:
Thống kê mô tả, phân tích, diễn dịch, tổng hợp… để làm sáng tỏ vấn
đề cần nghiên cứu nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
Sau khi có kết quả phù hợp nhất, đảm bảo điều kiện của hồi
quy, luận án rút ra kết luận và đánh giá kết quả dựa theo mục tiêu
nghiên cứu. Đồng thời, luận án cũng đưa ra những hướng thảo luận,
khuyến nghị đến chính quyền các cấp, các địa phương để đóng góp
cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hoạch định chính sách về
thu hút FDI ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
1.6. Khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu về FDI và GDP
Vùng ĐBSCL chưa có đề tài nào gần đây nhất thực hiện
giữa FDI và GDP theo trình tự thời gian.
(ii) Thực hiện tại một vùng kinh tế của Việt Nam – Vùng
ĐBSCL. Đây là vùng nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa
thực hiện vì lý do không đủ dữ liệu và vốn FDI vào vùng này từ
trước 2004 rất nhỏ, một số tỉnh không thu hút được vốn FDI cho đến
năm 2008 (bảng 4.7).
(iii) Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước phần lớn chỉ nghiên
cứu về các yếu tố tác động đến FDI hoặc GDP, nhưng chưa có
nghiên cứu về tác động qua lại giữa GDP và FDI. Tác giả thực hiện
nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời, nghiên cứu này sẽ thực hiện kiểm chứng mối quan hệ
bằng phương pháp Granger để chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa
FDI, tăng trưởng kinh tế (GDP) và các yếu tố khác, đặc biệt là yếu tố
mang tính địa phương. Nghiên cứu này còn thực hiện xem xét mối
quan hệ giữa FDI, GDP và TFP. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu
nào thực hiện xem xét ba vấn đề này đồng thời trong cùng một
nghiên cứu.
(iv) Nghiên cứu này, bổ sung thêm các biến mang tính chất
đặc thù của địa phương để xem xét những yếu tố mang tính chất
13
riêng biệt của từng địa phương có tác động đến FDI và GDP của các
địa phương. Nghiên cứu đưa vào một số biến mới, khác với các
nghiên cứu trước đây, cụ thể là, biến cơ sở hạ tầng trong hầu hết các
nghiên cứu trước đây đều sử dụng số đường dây điện thoại là biến
đại diện. Trong nghiên cứu này, biến cơ sở hạ tầng được đại diện là
khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy và đường bộ. Đây
là biến đại diện tốt cho cơ sở hạ tầng phù hợp với thực tế của vùng
ĐBSCL.
vốn FDI vùng ĐBSCL nhiều năm qua gặp không ít khó khăn, lượng
vốn FDI không ổn định, còn thấp, có sự chênh lệch khá lớn với vùng
kinh tế khác ở Việt Nam. Xác định có hay không tác động của vốn
FDI đến GDP của vùng và ngược lại nhằm có những chính sách phát
triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn đầu tư hợp
lý của các vùng kinh tế trong cả nước.
Vùng ĐBSCL được chính phủ phê duyệt và quy hoạch phát
triển với tầm quan trọng về các mặt kinh tế - chính trị - xã hội trong
giai đoạn sắp tới. Để đạt được mục tiêu đặt ra, chính quyền các cấp
từ trung ương đến địa phương cần phải nổ lực không ngừng. Một
trong những yếu tố cần thiết để đạt mục tiêu chiến lược này là vốn.
Trong hoàn cảnh vốn đầu tư trong nước còn hạn chế, vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến
sự thành công, đạt mục tiêu chiến lược của Chính phủ.
Tuy nhiên trong thời gian qua, các tỉnh/thành trong vùng
ĐBSCL chưa thu hút được nhiều vốn FDI, kinh tế vẫn còn nặng về
nông nghiệp, địa phương vẫn còn cần các giải pháp mang tính khoa
học để thúc đẩy tăng trưởng GDP và thu hút vốn đầu tư nói chung và
vốn FDI nói riêng vào vùng ĐBSCL (GIZ, 2016). Mặc dù chính
quyền địa phương đã và đang có nhiều cố gắng, nỗ lực kêu gọi đầu
tư. Tuy nhiên, có thể do tác động của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố
khủng hoảng tài chính toàn cầu và những yếu tố mang tính chất địa
phương như: Cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính, tăng trưởng kinh tế
địa phương,… mà lượng vốn FDI vào khu vực này còn rất ít.
Nghiên cứu này nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến GDP
và FDI của vùng ĐBSCL nhằm gợi ý các chính sách thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế hiệu quả hơn và thu hút vốn FDI khả thi dựa vào dữ
liệu thực tế, tình hình thu hút vốn FDI các địa phương khác,… để
Độ mở nền kinh tế không phải lúc nào cũng tác động đến
tăng trưởng kinh tế ở các vùng kinh tế, tùy thuộc vào đặc điểm từng
vùng mà độ mở nền kinh tế có thể có tác động hoặc không, cụ thể là
ở vùng ĐBSCL, độ mở nền kinh tế không có tác động đến tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, độ mở nền kinh tế có tác động mạnh đến
dòng vốn FDI vào các tỉnh/thành vùng ĐBSCL.
Những điều nêu trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế của:
Keynes (1936), Solow (1956), Dunning (1981), định luật Wagner
(1983) đúng trong nghiên cứu này, đó là “Các yếu tố về vốn đầu tư
trong nước, lực lượng lao động” đều quan trọng với tăng trưởng kinh
tế các địa phương và với thu hút vốn FDI. Bên cạnh 2 yếu tố chính
đó, tùy theo đặc thù của các địa phương có thể có thêm các yếu tố
khác, thông thường những yếu tố đặc thù khác đó đều là những yếu
tố lợi thế của địa phương.
1.9. Quy trình thực hiện nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo một quy trình khoa học
(hình 1.2) như sau: (i) Từ vấn đề nghiên cứu, luận án xác định các
mục tiêu nghiên cứu; (ii) Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có
liên quan về GDP, FDI và TFP được lược khảo để làm nền tảng
16
khoa học và tìm ra khoảng trống trong các nghiên cứu trước; (iii)
Đề xuất mô hình và phương pháp nghiên cứu dựa trên nền tảng khoa
học và các nghiên cứu trước, tham khảo ý kiến của các chuyên gia
để bổ sung các biến theo hướng chú ý đến đặc điểm của địa phương
(iv) thu thập và phân tích dữ liệu để giải quyết các mục tiêu nghiên
cứu đã đề ra; (iv) Kết luận và đề xuất giải pháp thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và thu hút vốn FDI vào vùng ĐBSCL trong tương lai.
1.10. Kết cấu nội dung của luận án
quyết mục tiêu nghiên cứu 1, 2 và 3 đã nêu ra. Đồng thời, nội dung
chương này cũng trình bày kết quả đánh giá chất lượng tăng trưởng
kinh tế các tỉnh/thành ĐBSCL qua việc tính toán các yếu tố đóng
góp trong tăng trưởng kinh tế (Tính toán TFP) để giải quyết mục tiêu
nghiên cứu 4 đã nêu ra.
Chương 5: Kết luận và đề xuất các giải pháp. Nội dung của
chương cuối trình bày 2 phần chính: (i) Kết luận – nêu những kết
quả nghiên cứu của đề tài một cách khái quát theo mục tiêu nghiên
cứu; (ii) Các giải pháp – nêu những giải pháp cần thực hiện để thu
hút vốn FDI và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước và các
tỉnh/thành ĐBSCL. Phần giải pháp tập trung trình bày các giải pháp
thu hút vốn FDI và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các vùng kinh tế của
Việt Nam.
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Nội dung chương 2 gồm hai nội dung chính: (1) Các lý
thuyết nền tảng liên quan đến FDI, GDP và mối quan hệ giữa GDP,
TFP và FDI; (2) Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận
án (trong và ngoài nước). Phần nội dung trình bày về những lý
thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến GDP và FDI như: lý
thuyết về đầu tư và đầu tư nước ngoài, các nghiên cứu trước về đầu
tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, tăng trưởng kinh tế (GDP),
năng suất tổng hợp (TFP).
2.1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài
2.1.1. Đầu tư
2.1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
2.1.3. Tăng trưởng kinh tế
2.2.1. Các lý thuyết theo cấp độ vi mô
2.2.2. Các lý thuyết theo cấp độ vĩ mô
2.2.3. Các yếu tố tác động đến FDI
Các yếu tố tác động đến vốn FDI bao gồm từ 2 phía: Từ nước
chủ nhà (quốc gia đi đầu tư) và từ nước tiếp nhận đầu tư hay nói
cách khác là từ nước có đầu tư ra nước ngoài và các nước muốn thu
hút đầu tư vào trong nước.
Các yếu tố thúc đẩy nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư ra
nước ngoài thường tập trung vào các vấn đến như sau: Chênh lệch
năng suất cận biên của vốn giữa các quốc gia, chu kỳ hay vòng đời
sản phẩm, lợi thế của các công ty đa quốc gia, khai thác lợi thế của
nước nhận đầu tư, khai thác các ưu đãi đầu tư của nước nhận đầu tư,
né tránh cạnh tranh và các rào cản khác.
Các yếu tố thu hút vốn FDI vào trong nước tập trung vào các
khía cạnh như: Yếu tố về môi trường vĩ mô và vi mô, các chính sách
thu hút vốn FDI và các yếu tố khác.
2.2.3.1. Các yếu tố thúc đẩy sự dịch chuyển vốn đầu tư của
các nhà đầu tư nước ngoài
19
2.2.3.2. Các yếu tố thu hút vốn FDI vào trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Nhã (2005), môi trường đầu tư bao
gồm rất nhiều yếu tố như: môi trường kinh doanh, môi trường pháp
lý, thủ tục hành chính, các hoạt động xúc tiến đầu tư, chính sách ưu
đãi đầu tư, vốn tín dụng, thuế, lao động,…
Yếu tố về môi trường vĩ mô
Yếu tố về chính sách thu hút vốn FDI
Yếu tố về môi trường vi mô:
Các yếu tố khác như môi trường kinh tế thế giới, thủ tục
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ giữa FDI và
tăng trưởng kinh tế, FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế qua
hình thức tác động trực tiếp (Nowbutsing, 2009). Ngoài ra, FDI còn
có tác động gián tiếp đến các yếu tố khác và FDI còn chịu sự tác
động trở lại (tác động phản hồi) từ tăng trưởng kinh tế (GDP).
Nowbutsing (2009) cho rằng, FDI và GDP có mối quan hệ qua
những tác động: trực tiếp, gián tiếp (lan tỏa) và phản hồi.
Tác động trực tiếp (
): FDI tác động trực tiếp đến GDP.
Theo hàm sản xuất Q = f (L,K), FDI tác động trực tiếp tạo nên sản
lượng thông qua việc tích lũy tài sản hoặc tăng vốn (K).
Tác động gián tiếp hay tác động lan tỏa của FDI đến GDP
thông qua gia tăng năng lực cạnh tranh, gắn kết doanh nghiệp, kỹ
năng lao động, khả năng tiếp thu học hỏi của doanh nghiệp trong
nước tạo hiệu ứng lan tỏa gia tăng đầu tư trong nước.
FDI chịu tác động phản hồi từ tăng trưởng kinh tế ( ), kinh
tế tăng trưởng sẽ tác động gia tăng vốn FDI do lực hấp dẫn của lợi
nhuận, kênh phân phối, khả năng tiêu thụ,… của nền kinh tế giúp
cho dòng vốn FDI đổ vào nhiều hơn.
2.4.2.2. Mối quan hệ giữa TFP, GDP và FDI
Theo Nowbutsing (2009), FDI tác động trực tiếp tạo nên sản
lượng thông qua việc tích lũy tài sản hoặc tăng vốn (K) thể hiện
trong hàm sản xuất Q = f (L,K). Bên cạnh đó, TFP được tính theo
phương pháp hạch toán tăng trưởng (Solow, 1956), cụ thể là: ITFP =
IGDP – (αIK + β IL); Trong đó: ITFP, IGDP, IK, IL là tốc độ tăng TFP,
GDP, vốn và lao động; β là hệ số đóng góp của lao động tính bằng
chi phí lao động/GDP và α = 1 – β là hệ số đóng góp của vốn. Như
vậy, giữa GDP, TFP và FDI có mối quan hệ nhân quả với nhau.
2.5. Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Hồi qui GMM
Vu (2008)
Việt Nam
1990 –
2002
OLS, GLS và
Granger
Hồ Đắc Nghĩa
(2014)
Việt Nam
1990 –
2012
Mô hình
VAR, FEM và
phương pháp
bán tham số
Levinsohn –
Petrin
Acar và cộng sự
(2008)
Hồi qui GMM
Iftikhar (2012)
Bangladesh
1975 2009
Nhân quả
Granger
Shaari và cộng
sự (2012)
Malaysia
1971 2010
Bende-Nabende
Đài Loan
1959 –
Hàm Cobb Douglas và
TFP
Hàm sản xuất
Cobb Douglas và
TFP
TFP
FDI tác động
tích cực đầu tư
trong nước (DI);
GDP và FDI có
mối quan hệ 2
chiều
FDI tác động
tích cực đến
GDP
FDI tác động
tích cực đến
GDP
FDI tác động
22
và Ford (1998)
1995
3SLS
De Mello
(1999)
32 quốc gia
(trong và ngoài
OECD)
Chiến và cộng
sự (2012)
Bắc Trung Bộ
và Duyên Hải
Miền Trung
Việt Nam
2000 –
2010
OLS và kiểm
định nhân quả
Lan (2006)
61 tỉnh/thành
của Việt Nam
1996 2003
Uớc lượng
GMM và OLS
Azam (2010)
Armenia,
Cộng hoà
Kyrgyz và
mối quan hệ 2
chiều
FDI và GDP có
mối quan hệ 2
chiều
FDI và GDP có
mối quan hệ 2
chiều,
tỉnh/thành có
PCI càng cao
thì thu hút FDI
càng thấp, Sau
khi Việt Nam
gia nhập WTO
thì lượng vốn
FDI tăng lên
GDP, xuất khẩu
và FDI có mối
quan hệ 2 chiều
Hiệu ứng tích
cực của thị
trường kích
23
Turkmenistan
thước, hỗ trợ
phát triển chính
phát triển
2000 2004
hồi qui OLS
và kiểm định
nhân quả
Nguyễn Minh
Tiến (2014)
43 tỉnh/thành ở
Việt Nam (trừ
ĐBSCL)
1997 2013
GMM sai
phân và PMG
Khachoo và
Khan (2012)
32 nước đang
phát triển
1982 2008
Uớc lượng
GMM
tư nhân và xuất
nhập khẩu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Tổng kết lại cả lý thuyết nền tảng và các kết quả nghiên cứu
thực nghiệm được công bố trong khoảng thời gian từ những năm
24
1998 đến năm 2014 trên phạm vi thế giới và Việt Nam. Về cơ bản,
các nghiên cứu được các tác giả thực hiện ở những phạm vi khác
nhau với bộ dữ liệu không trùng khớp với nhau, có những ứng dụng
lý thuyết nền tảng khác nhau nên kết quả cũng có những điểm không
giống nhau. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy giữa
FDI và GDP có tác động qua lại với nhau, có một số nghiên cứu cho
rằng FDI không tác động đến GDP và đôi khi lấn át đầu tư trong
nước (Acar và ctg, 2012). Các nhà nghiên cứu có sự đồng thuận cao
về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (GDP) như: Vốn, lao
động, xuất - nhập khẩu, cơ sở hạ tầng, độ mở của nền kinh tế, nguồn
nhân lực, chính sách của chính phủ, đầu tư tư nhân, chi tiêu công,…
Đặc biệt, lạm phát và chính sách thuế có tác động tiêu cực đến FDI
và GDP. Các nghiên cứu trước cũng đề xuất một số chính sách dựa
vào kết quả nghiên cứu, ví dụ như: Các quốc gia muốn thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế phải có chính sách phù hợp thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài; Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế (tăng độ mở của nền
kinh tế); Có những chính sách ưu đãi đầu tư (cả đầu tư nước ngoài
và đầu tư trong nước); Đầu tư cơ sở hạ tầng; Đào tạo nguồn nhân
lực, ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào trong hoạt động sản xuất
kinh doanh; Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đặc biệt là đường
giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống internet; mở rộng