Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ
THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan

Hà Nội, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính với đề tài “Quản lý
nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu của
cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai. Nếu có sự thiếu trung thực, tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Ban Giám đốc
Học viện Khoa học xã hội.
Tác giả

Đoàn Thị Thu Thủy

đến mọi tầng lớp dân cư, việc thiết lập hệ thống quản lý dân cư, quản lý hộ tịch
luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia.
Ở Việt Nam, hệ thống quản lý hộ tịch đến nay đã trải qua nhiều mô hình
quản lý khác nhau, được điều chỉnh bởi các chế độ quản lý khác nhau trong thời kỳ
phong kiến, thực dân, thời kỳ chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam,… Trải qua
các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, từ mô hình quản lý tập trung bao
cấp sang nền kinh tế thị trường, mô hình hệ thống cơ quan quản lý hộ tịch cũng trải
qua những biến đổi căn bản nhưng tựu chung cho thấy, công tác hộ tịch đóng vai
trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Trong thời gian qua, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có
những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng. Công tác xây
dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày
càng được coi trọng. Hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch được củng cố; đội
ngũ công chức làm công tác hộ tịch được tăng cường, kiện toàn. Trình tự, thủ tục
đăng ký hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân. Dữ liệu hộ tịch được lưu trữ và sử dụng lâu dài, khẳng định vai trò trong
quản lý nhà nước và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch đạt được những thành tựu bước
đầu. Công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích

1


cực, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như đăng ký các việc phát sinh
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng,
việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con
người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn
thì công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều hạn chế như: Thủ tục quản

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề
cập đến vấn đề hộ tịch và các chính sách thực hiện pháp luật về hộ tịch trong thời
gian qua. Có thể nêu một số công trình:
- Bộ Tư pháp (2006), “Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch”,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội;
- Bộ Tư pháp (2006), “Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch”, Nxb.
Chính trị quốc gia;
- Bộ Tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội;
- Bộ Tư pháp (2010), “Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường,
thị trấn”, Nxb. Tư pháp;
- Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý - Bộ Tư pháp (1995), “Chuyên đề
thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch”;
- Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý - Bộ Tư pháp (2000), “Bảo vệ quyền
trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
- Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở (2010), “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp” của Sở
Tư pháp tỉnh Hòa Bình, tác giả Trần Việt Hưng chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học
Pháp lý - Bộ Tư pháp;
- ThS. Phạm Trọng Cường (2004), “Về quản lý hộ tịch”, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
- ThS. Phạm Trọng Cường (2007), “Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch”,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội;
3


- Phạm Hồng Hoàn (2011), “Quản lý nhà nước về hộ tịch cấp xã, huyện
Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Quản lý Hành chính
công, Học viện hành chính quốc gia Hà Nội;

về quản lý hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương. Những tài liệu trên là những gợi ý
quý báu có giá trị tham khảo, kế thừa giúp tác giả tiến hành nghiên cứu trực tiếp
hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch và đánh giá thực
trạng công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận văn
đưa ra những giải pháp thiết thực, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện
pháp luật về quản lý nhà nước về hộ tịch hiện hành.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cụ
thể sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch, quản lý hộ tịch.
+ Đánh giá thực trạng để làm rõ những ưu điểm và hạn chế; nguyên nhân
của những ưu điểm, hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn
tỉnh Hải Dương.
+ Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hộ
tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu như sau:
+ Luận văn nghiên cứu lý luận và các quy định của pháp luật trong hoạt
động quản lý nhà nước ở Việt Nam về hộ tịch.
+ Việc áp dụng các quy định của pháp luật về hộ tịch và thực tiễn hoạt động
quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết
Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch.

5



“Hộ tịch” là một từ ngoại lai được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt nhưng
rất khó xác định được thời điểm xuất hiện. Khảo cứu qua các bộ sử liệu như “Đại
Việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Việt sử thông giám cương
mục”… có thể thấy thuật ngữ “hộ tịch” đã xuất hiện từ rất sớm, bên cạnh nó còn
các từ cổ có liên quan và cùng nằm trong phạm trù quản lý dân cư như “trướng
tịch”, “hộ khẩu”, “sổ dân bạ”, “tiểu điển”, “phụ tịch”, “chính hộ”, “khách hộ”…
Tuy nhiên, theo “Đại Nam Quốc âm tự vị”, cuốn từ điển của tác giả Huỳnh Tịnh
Paulus Của được biên soạn từ năm 1895 với phương pháp “tham dụng chữ Nho và
lấy 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ” thì trong bộ chữ “hộ”chưa có từ “hộ
tịch”[15, tr.425].
Xét về khía cạnh ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ,
được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính. Xét
về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng
[13, tr.211]. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển tiếng Việt
hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này. Theo đó, từ “hộ” - khi sử
dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là
“dân cư” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người
cùng ăn ở với nhau”. Với từ “tịch”, có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký
quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên, việc tổ hợp hai thành tố này thành danh từ “hộ tịch”
lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ, và được sử dụng với thuộc tính
kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ ngữ) [67, tr.9].

7


Chính vì vậy, qua khảo cứu các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa
từ “hộ tịch” rất khác nhau:
“Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch
quán của từng người” [1, tr.384]. “Hộ tịch: Sổ biên dân số ghi rõ tên họ, quê quán
và chức nghiệp của từng người” [38, tr.404]. “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa

liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu
cầu của pháp luật mỗi quốc gia”.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo
trình giảng dạy của Trường Đại học Sài Gòn - khoa Luật dưới chế độ Việt Nam
Cộng hòa, trong đó nổi bật lên một số quan điểm như: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế
bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch
căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” [59,
tr.7]. “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm
ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử” [49, tr.111]. Tác giả Trần
Thúc Linh, tác giả cuốn “Danh từ pháp luật lược giải” - vốn được đánh giá là một
trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đưa ra định nghĩa về khái
niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm “chứng thư hộ tịch”: “Chứng thư hộ tịch
là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng
người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức
hay con tư sanh, tư cách vợ chồng… tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc
sinh ra đến khi chết. Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc
thay đổi về thân trạng người ta nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hóa con tư sinh,
khước từ phụ hệ, ly thân…” [45, tr.42].
Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống pháp lý
tiếng Việt. Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ dàng định nghĩa một cách
minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên
tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do
khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông
ăn sâu trong nhận thức của người dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay
thế không được lựa chọn mà thay vào đó các nhà làm luật đã dung hòa bằng cách
sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa
9


trong văn bản. Theo đó, khoản 1 Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014


cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly
hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ;
tuyên bố hoặc huỷ tuyên một người mất tích, đã chết; bị mất hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải
quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bao gồm: khai sinh; kết hôn, ly
hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi
con nuôi, thay đổi hộ tịch; khai tử...
- Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch
Dưới góc độ khoa học, khái niệm về “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác
nhau. Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác
động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng
quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định
đã đề ra. Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có
mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Quản lý xuất hiện
ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người.
Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nước
quản lý. Theo nghĩa rộng, khái niệm quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều
hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền
lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu
này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân lao động làm chủ”. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá
trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được
những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà
nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính
chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công
tác nội bộ của mình.


có phương tiện cơ bản và quan trọng nhất được sử dụng đó là hệ thống các văn bản
quản lý về hộ tịch. Bằng việc ban hành các văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện
12


ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật nhằm đưa các quy định về
hộ tịch được áp dụng vào thực tiễn thông qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch
của Nhà nước. Bên cạnh đó, chủ thể quản lý hộ tịch có thẩm quyền chịu trách nhiệm
bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện một cách triệt để,
chính xác nhằm bảo đảm thực hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước thông qua các
biện pháp như: các biện pháp về tổ chức, giáo dục, thuyết phục, hòa giải… Chính
những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét nhất của sức mạnh nhà nước,
nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện.
Thứ hai, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và điều
hành. Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch luôn
đan xen, song song tồn tại, được thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến
hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt
động chủ động, sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn
khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những
hoạt động thực tiễn trên cơ sở các quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản lý hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm
quyền tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch trong đời sống xã hội. Trong quá trình
đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật về hộ tịch mà còn đảm
nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan đơn vị trực
thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực
hiện pháp luật về hộ tịch nhằm thực hiện hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên
trong quan hệ quản lý hộ tịch.
Thứ ba, quản lý nhà nước hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ
thể có quyền năng hành pháp là các cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch trong
bộ máy nhà nước. Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch là các cơ

động của mình.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người
từ khi sinh ra đến khi chết. Do vậy, đăng ký và quản lý hộ tịch là một vấn đề quan
trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội. Quản lý nhà nước về hộ tịch là nhiệm vụ
thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động
14


về hộ tịch. Mọi sự kiện hộ tịch đều được đăng ký kịp thời, chính xác, đúng quy định.
Trên cơ sở đó, bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình khi
tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được khai sinh, quyền được kết hôn,
quyền được giám hộ, quyền được thừa kế… Đồng thời, góp phần xây dựng chính
sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện chức năng xã hội của nhà nước; là hoạt
động gắn bó mật thiết đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân, được Đảng
và Nhà nước đặc biệt chú trọng, là lĩnh vực có mối liên hệ mật thiết với hiệu quả
của việc quản lý dân cư nói chung. Do vậy, vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch
được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò quan trọng trong việc ghi
nhận và bảo đảm việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân được
ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2015 như: quyền có họ
tên; quyền được thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh,
khai tử, kết hôn; quyền đối với quốc tịch; quyền xác định lại giới tính… Các dữ
liệu về tình trạng thân nhân của mỗi cá nhân thể hiện trên các giấy tờ hộ tịch là sự
khẳng định địa vị pháp lý của mỗi cá nhân, qua đó, các cơ quan, tổ chức và cá nhân
khác có thể đánh giá, xem xét người đó có khả năng, điều kiện tham gia vào các
quan hệ pháp luật nhất định hay không. Ví dụ: Một đứa trẻ khi sinh ra, được cơ
quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh, thể hiện bằng Giấy khai sinh. Kể từ thời
điểm đó, đứa trẻ chính thức trở thành một chủ thể pháp luật độc lập, được pháp luật

trật tự an toàn xã hội. Hệ thống sổ sách hộ tịch có thể giúp các cơ quan, tổ chức
trong việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng. Các giấy tờ hộ
tịch được cơ quan có thẩm quyền xác lập và cấp theo trình tự, thủ tục chặt chẽ. Đây
là cơ sở khẳng định về giá trị pháp lý để mỗi cá nhân tham gia vào các quan hệ
trong gia đình và xã hội.
Trong hoạt động tư pháp, khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá nhân,
các cơ quan tố tụng luôn cần đến các thông tin về ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh,
dân tộc, quốc tịch, quê quán, họ tên cha mẹ… Do đó, các thông tin trên Giấy khai
sinh là cơ sở để giúp các cơ quan tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án
hình sự, dân sự, hành chính… Ví dụ: Một cá nhân tham gia giao thông, có vi phạm
16


hành chính trong lĩnh vực này, cơ quan Công an cần nắm được các thông tin cá
nhân của người vi phạm như họ và tên người vi phạm, ngày, tháng, năm sinh, quê
quán,…để làm dữ liệu tiến hành xử phạt.
Chính vì ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc
gia, vấn đề xây dựng và khai thác có hiệu quả hệ thống quản lý hộ tịch luôn được
các quốc gia quan tâm, chú trọng.
1.2. Nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch
Quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà
nước, thông qua việc quản lý về hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biến động
dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng
kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
Là một hoạt động quản lý con người, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch hướng
đến đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân
được hình thành từ rất nhiều đặc điểm nhân thân gắn liền với cá nhân đó như: họ
tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú, nơi sinh, các mối quan hệ gia đình…Tất cả
những dấu hiệu đặc trưng đó bảo đảm cho việc phân biệt chính xác một cá nhân

Giám hộ: Là việc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử để
thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Một người có thể giám hộ cho nhiều
người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ.
Nhận cha, mẹ, con: Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện, nếu bên nhận,
bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con
và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.
Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch:
đây là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi; cập nhật thông tin
hay sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy
định của pháp luật dân sự hoặc những thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung
khai sinh đã đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

18


Khai tử: Đăng ký khai tử là việc khai báo cho người mới chết; là một trong
những lĩnh vực quản lý của nhà nước nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số.
Đây là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người
và ghi vào Sổ đăng ký khai tử. Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với
gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết.
+ Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định
lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn
trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên
bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
+ Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh, kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch;
khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài.

điện tử theo quy định.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý
nhà nước về hộ tịch tại địa phương mình. Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương mình. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương mình và thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban
nhân dân cấp xã theo quy định. Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, trừ
trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc quản lý
nhà nước về hộ tịch, đăng ký cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy
định của pháp luật. Viên chức Lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp Cơ
20


quan ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định, trừ trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo.
So sánh nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch của nhà nước ta hiện nay (tính
từ năm 1998 khi Chính phủ ban hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP đến nay) với
thời kỳ trước đây (thời kỳ thực hiện Điều lệ hộ tịch năm 1961), có thể thấy nội
dung quản lý hộ tịch ngày càng được mở rộng hơn. Đây là một bước tiến quan
trọng cho thấy hoạt động quản lý hộ tịch ngày càng được quan tâm một cách toàn
diện. Tuy nhiên, sự mở rộng nội dung quản lý cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp
đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch phải được nâng lên một trình độ cao
hơn, toàn diện hơn.

lý hành chính nhà nước nói chung. Các phương pháp quản lý cơ bản gồm: phương
pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính và phương
pháp kinh tế.
- Phương pháp thuyết phục là phương pháp làm cho công dân, tổ chức thuộc
đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định
hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định; nhận thức đúng đắn về quy tắc sử xự
khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính. Phương pháp thuyết phục được
thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh,
tuyên truyền... làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của cơ
quan quản lý. Trong quản lý nhà nước về hộ tịch, phương pháp thuyết phục mang
lại hiệu quả cao. Thông qua thuyết phục, các cơ quan quản lý giáo dục cho mọi
công dân nhận thức đúng đắn về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước về hộ tịch góp phần nâng cao ý thức pháp luật của công dân. Việc tự giác
chấp hành các quy định của pháp luật của công dân bao giờ cũng tốt hơn sự cưỡng
chế, ép buộc phải thực hiện.
- Phương pháp cưỡng chế là phương pháp bắt buộc bằng sức mạnh của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong
những trường hợp pháp luật quy định nhằm buộc cá nhân hay tổ chức đó phải thực
hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn
chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể. Có bốn

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status