ĐỀ TÀI: QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO
HƯỚNG ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN
-----*****-----
MỞ ĐẦU
Hiện nay, các khái niệm như dạy học tích hợp, đổi mới sách giáo khoa, đổi
mới chương trình dạy học, nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh,… có mặt
trên các báo giấy, báo mạng, các kênh thông tin đại chúng là nhiều không kể xiết.
Thực chất, những công việc đó là sự chuẩn bị từng bước một cho lộ trình đổi mới
căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam – một nền giáo dục mà không chỉ các
nhà chuyên môn làm giáo dục mà cả giáo viên, học sinh và phụ huynh đều thấy rất
nhiều những nghịch lí, rất nhiều những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tụt hậu.
Trong đó, sự đổi mới của các bộ môn thuộc chuyên ngành khoa học xã hội – nhân
văn là được mọi người quan tâm nhiều hơn cả, đặc biệt là môn Ngữ văn.
Môn Ngữ văn là tên gọi môn học hiện hành của Việt Nam (từ cấp THCS đến
cấp THPT) và Trung Quốc (cả ba cấp). Chúng tôi sử dụng thuật ngữ là Ngữ văn vì
đây là tên gọi mà sách giáo khoa hiện hành đang dùng nhưng trên thực tế thì tên gọi
của bộ môn này cũng lắm phức tạp với nhiều cách gọi khác nhau. Trước đây, chúng
ta không gọi là Ngữ văn mà gọi là Văn học, Tiếng Việt,… Nhưng nhóm chúng tôi
nghĩ rằng dù gọi thế nào thì cũng quan trọng bằng nội hàm bên trong của thuật ngữ
vì nó vẫn thường được gọi là môn Văn với ba phần rõ ràng: Văn học, Tiếng Việt và
Làm văn. Trong đó,Văn học là phần lớn nhất, gồm những văn bản được chọn trong
kho tàng văn học dân tộc. Tiếng Việt là phần cung cấp những kiến thức, công cụ nền
tảng để hình thành và phát triển năng lực đọc văn và làm văn. Còn Làm văn ở đây
mang nghĩa rộng hơn là nhằm rèn luyện kĩ năng nói, viết cho học sinh. Thế nhưng
hiện tại, chương trình của môn học này nói riêng và cả nền giáo dục Việt Nam nói
chung đang bộc lộ những vấn đề, những bất cập không còn phù hợp để đáp ứng nhu
cầu phát triển chung của xã hội. Vậy nên đổi mới là cần thiết. Nhưng lại có một điều
nữa đặt ra là chúng ta phải đổi mới như thế nào trong bối cảnh của nền giáo dục
hiện nay? Liệu những con người mà chúng ta đang có có đủ trí tuệ, đủ bản lĩnh và
tầm nhìn để hoạch định một lộ trình, một chiến lược lâu dài cho nền giáo dục đang
2.2.
2.3.
2.4.
Mục tiêu của môn học
Kết cấu nội dung chương trình môn Ngữ Văn
Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Ngữ Văn
Cách thức tổ chức kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ Văn
Chương 3: Quy trình tổ chức dạy học Ngữ Văn theo hướng đổi mới căn bản
và toàn diện nền giáo dục
3.1.
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.
Mục tiêu của môn học
Kết cấu nội dung chương trình môn Ngữ Văn hiện nay
Tổ chức thực hiện dạy học Ngữ Văn
Cách thức tổ chức kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ Văn
So sánh các chương trình dạy học và cách tổ chức dạy học Ngữ
Văn hiện hành và đổi mới
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔN VĂN TRONG NHÀ
TRƯỜNG VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ VĂN
3
niệm khoa học. Tất cả các năng lực và phẩm chất trên đây đều được phát triển thông
qua các hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản: đọc, viết, nói
và nghe. Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịch sử văn học, lí luận văn học và tập
làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiện tiến hành các hoạt động dạy học đó.
1.2. Quy trình tổ chức dạy học Ngữ Văn theo hướng đổi mới căn bản và
toàn diện
1.2.1.Quy trình tổ chức dạy học
1.1.
4
Quy trình tổ chức dạy học đó là quá trình phản ánh các bước thực hiện phục
vụ cho việc dạy học, trong đó phải kể đến xác định mục tiêu chiến lược, biên soạn
chuẩn bị SGK – các tài liệu có liên quan, xây dựng, định hướng nội dung khung
chương trình từ chương trình tổng thể đến chương trình cụ thể từng môn học,
phương pháp tổ chức thực hiện và tổ chức đánh giá kiểm tra. Quy trình tổ chức dạy
học luôn có sự đổi mới để phù hợp với thực tiễn giáo dục, chính sự đổi mới đó
quyết định đến hiệu quả giáo dục mà vai trò cốt lõi là hình thành nên những người
học có tri thức, có năng lực.
1.2.2.Định hướng đổi mới căn bản và toàn diện trong dạy học Ngữ Văn
Trong thời đại “bùng nổ thông tin” như hiện nay, đã đưa đến khó khăn sau
cho giáo dục nói chung và tổ chức dạy học nói riêng: số năm học không tăng mà
kiến thức nhân loại thì tăng lên vùn vụt. Do vậy, phải tìm ra được cái “bất biến” để
ứng với cái “vạn biến” của kiến thức. Có lẽ thế mà tổ chức dạy học theo hướng đổi
mới căn bản và toàn diện là vấn đề thiết yếu được đặt ra với nền giáo dục Việt Nam
hiện nay. Và phương pháp mang quy luật thời đại: “Học là học cách học, dạy là dạy
cách học” có phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam và tổ chức dạy học Ngữ Văn
hay không?
Hướng đổi mới căn bản và toàn diện thông qua nghị quyết số 88/2014/QH13,
Đổi mới sách giáo khoa, khung chương trình và tiếp cận các phương pháp
dạy học hiện đại, có lẽ giáo dục Việt Nam hướng đến “Tự do sư phạm” và môn Ngữ
Văn hướng đến “Tự do lựa chọn tác phẩm là nhu cầu cơ bản cho việc dạy học văn
chương nhà trường”. Chương trình đổi mới, định hướng nội dung môn Ngữ Văn
phân thành hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định
hướng nghề nghiệp. Tất cả hướng đến nhằm khơi gợi niềm hứng thú, lòng say mê
với nghề của giáo viên, đồng thời học sinh cũng trở thành những chủ thể đầy chủ
động, tự tin và sáng tạo.
1.3. Nhận xét tổng quan về môn Văn trong nhà trường và quy trình tổ
chức dạy học Ngữ Văn
Bên cạnh mục đích mở rộng vốn từ, thì kích thích để cái đẹp trong văn học
nghệ thuật được phát triển và sinh sôi nảy nở trong tâm hồn học sinh, để đi đến “sự
nổ vỡ lặng im” trong tâm hồn các em theo xu hướng của một nền giáo dục đó là
mục đích chính của dạy – học văn. Nhưng hướng dạy học Ngữ Văn hiện nay chưa
khơi được cảm xúc ở người học, có thể vì thế mà thực sự không có nhiều học sinh
yêu thích Ngữ Văn. Với tư cách một môn giàu nghệ thuật thì tổ chức dạy học Ngữ
Văn phải có cảm xúc, vì theo Lenin: “Không có cảm xúc thì không và không bao
giờ con người có khát vọng đi tìm chân lý”.
Đổi mới trong quy trình tổ chức dạy học nói chung và tổ chức dạy học Ngữ
Văn là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay. Vì thế
giới đã chuyển sang thời kì kinh tế tri thức, cho nên đầu tư vào chất xám sẽ là cách
đầu tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Điều đó với Việt Nam
càng quan trọng hơn, bởi sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó
khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, nước ta đã thoát ra khỏi tình
trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
6
Vấn đề cốt lõi đặt ra ở đây là: Làm thế nào để chúng ta phát triển, tiếp tục phát triển
nhưng vẫn giữ được những giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc? Thế hệ trẻ có
triển của lứa tuổi, với yêu câu đào tạo nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước. Hai là hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng
tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập tư duy, đặc
biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những gì đã học vào thực tiễn. Ba là
bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình,
thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân,
tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa
của dân tộc và nhân loại. Từ ba mục tiêu này, ta có thể thấy được ba yêu cầu tiên
quyết khi hình thành cấu trúc chương trình môn Ngữ văn, đó là kiến thức, năng lực
và thái độ. “Đây chính là cấu trúc “kinh điển” của mục tiêu giáo dục trong nhà
trường phổ thông từ trước đến nay” (Đỗ Ngọc Thống). Nhưng đó chỉ là mục tiêu
chung của môn học. Cụ thể hơn ta sẽ thấy ở từng cấp học, từng phân môn, từng tiết
học và từng bài học sẽ có những mục tiêu dạy học được cụ thể hóa. Mục tiêu môn
Ngữ văn ở cấp Trung học cơ sở (THCS) sẽ khác với cấp Trung học phổ thông
(THPT). Mục tiêu của phân môn Văn học trung đại sẽ khác với phân môn Văn học
hiện đại. Dạy tiếng Việt sẽ khác với dạy làm văn và cũng một tác giả, chẳng hạn
như Xuân Diệu, nhưng mục tiêu bài học của “Vội vàng” sẽ khác với “Đây mùa thu
tới” và còn khác hơn nữa với “Thơ duyên”.
Tuy nhiên, quan điểm dạy học Ngữ văn thường không có sự thống nhất cao
giữa các thời kỳ, giữa các tác giả soạn sách giáo khoa, các cấp học, vùng miền, giữa
các cấp lãnh đạo chuyên môn và các giáo viên trực tiếp giảng dạy. Ngoài ra còn
phải tính đến sự khác nhau rất lớn giữa “nói” và “làm”, lý thuyết và thực tiễn. Nhìn
vào chương trình sách giáo khoa, giáo án và qua phát biểu chỉ đạo của các nhà làm
giáo dục, người ta thấy việc dạy và học Ngữ văn ngày nay có vẻ rất “đổi mới”, rất
“hiện đại” nhưng kỳ thực, lối dạy thì đã quá cũ và không còn đáp ứng được những
yêu cầu chung của thời đại.
2.2. Kết cấu nội dung chương trình môn Ngữ Văn
8
cao hơn so với vòng 1. Theo yêu cầu tích hợp ngang, chương trình sẽ lấy các kiểu
văn bản đọc làm trục chính để liên kết nội dung học tập ở cả ba phần là Tiếng Việt,
Văn học và Làm văn. Chẳng hạn như ta lấy “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao được
học trong chương trình Ngữ văn 8 làm ví dụ. Khi sử dụng văn bản “Lão Hạc”, giáo
viên sẽ có thể liên kết được nội dung của cả ba phần. Học sinh nắm được nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm là trọng tâm của phần Văn học, từ văn bản đó tìm các
9
tình thái từ chẳng hạn thì đó lại là kiến thức của phần Tiếng Việt và khi làm một bài
viết với đề bài “Em hãy tưởng tượng cuộc sống của anh con trai lão Hạc sau khi từ
đồn điền cao su trở về” thì đó lại là kiến thức của phần Làm văn.
Ở cấp THPT, chương trình chủ yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực đọc
hiểu văn bản và làm văn, cung cấp một số tri thức phổ thông về lí luận và lịch sử
văn học; trang bị một số kiến thức về nguồn gốc và loại hình tiếng Việt, về giao tiếp
và phong cách học. Chương trình môn Ngữ văn ở cấp này được xây dựng dựa theo
nguyên tắc tích hợp trên hai trục đọc văn và làm văn. Trong trục đọc văn có sự tích
hợp giữa tri thức lí luận văn học với tri thức lịch sử văn học và văn hóa dân tộc.
Trong trục làm văn có sự tích hợp kĩ năng tạo lập văn bản với kĩ năng tư duy (quan
sát, phân tích, liên tưởng, so sánh, tổng hợp,…) và các tri thức đời sống. Trong phần
Văn học, các văn bản dùng để đọc văn sẽ được sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn
học. Trong từng giai đoạn, các văn bản này lại được sắp xếp theo cụm thể loại như
truyện, thơ, kí, phú, ngâm khúc, văn tế, kịch, nghị luận,… . Phần Tiếng Việt được
bố trí thành cụm ba nội dung: các phong cách ngôn ngữ, hoạt động giao tiếp và
những vấn đề chung về tiếng Việt. Ở phần Làm văn, kiến thức về kiểu văn bản và
phương thức biểu đạt ở cấp THCS sẽ không lặp lại nữa mà các kiến thức sẽ tạp
trung vào việc tìm ý, lập dàn ý, phép suy luận, cách tạp lập đoạn văn và văn bản. Về
kĩ năng tạo lập văn bản thì chương trình ở cấp THPT chú trọng kiểu viết bài nghị
luận (gồm cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học).
Nhìn chung, cấu trúc của chương trình và nhất là sách giáo khoa Ngữ văn
giá trị trong xã hội, đánh giá con người, cách phản ứng với các hiện tượng xã hội,…
Những trở ngại trên chỉ được hóa giải khi và chỉ khi các em tìm thấy trong tác phẩm
mối liên hệ gần gũi với những vấn đề của chính bản thân và với thế giới mà các em
đang sống. Vậy nên trong quá trình đọc, người học phải kết nối một cách tích cực
giữa thế giới trong tác phẩm với những kinh nghiệm của cá nhân.
Thế thì trong quá trình này, người giáo viên sẽ có vai trò như thế nào ? Dù
hiện tại cũng đã có người áp dụng những phương pháp dạy học tích cực vào giảng
dạy môn Ngữ văn như phương pháp khăn trải bàn, phương pháp hoạt động nhóm,
phương pháp động não,…(số đó rất ít) nhưng hầu hết những giáo viên giảng dạy đã
lành nghề thì họ vẫn dùng phương pháp dạy học truyền thống để dạy, nghĩa là người
thầy vẫn là người rao giảng, truyền đạt kiến thức. Những khó khăn mà các em học
sinh gặp đây chúng tôi tin rằng trong tương lai vẫn vướng phải, chỉ là tăng hay giảm
bớt mà thôi. Một mình học sinh không thể tiếp nhận văn bản tác phẩm thành công
được mà chúng cần có sự giúp đỡ từ phía thầy cô của mình. Trong chương trình
hiện hành, người giáo viên sẽ giải quyết khó khăn của học trò bằng cách cung cấp
những thông tin cơ bản về tác giả hoặc những sự kiện lịch sử xã hội liên quan đến
tác phẩm, hoàn cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời, những đặc điểm tư tưởng, quan
điểm của tác giả khi viết tác phẩm. Họ còn giải nghĩa từ cổ, từ khó hoặc hướng dẫn
HS suy luận ý nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh cụ thể, rút ra chủ đề của tác phẩm dựa
vào các chi tiết được miêu tả, thái độ tác giả khi tường thuật lại sự kiện, giọng điệu
tác phẩm bằng cách xây dựng câu hỏi, giải nghĩa từ, phân tích cấu trúc ngữ pháp
11
của câu, các thủ thuật đảo ngữ, điệp ngữ...và còn có thể giúp học sinh liên tưởng,
tưởng tượng để hiểu rõ hơn cảnh vật, tính cách nhân vật được miêu tả bằng cách:
đọc diễn cảm tác phẩm, mô tả lại ngôn ngữ, hành động của từng nhân vật bằng
giọng đọc ( phân tích bằng giọng đọc), yêu cầu HS đặt mình vào vị trí của nhân vật
và hình dung thái độ, cách phản ứng trước các sự kiện, gắn kinh nghiệm cá nhân HS
với nội dung tác phẩm. Có thể thấy, với chương trình Ngữ văn hiện nay thì vai trò
sẽ tiếp thu những kiến thức đó và sau đó tái hiện lại chúng. Phương pháp từ xưa đến
giờ nên giáo dục của ta vẫn làm, không chỉ riêng môn Ngữ văn mà còn dùng cho
12
những môn khác. Ưu điểm của nó là giúp học sinh nhanh chóng nắm bắt hay có
được tri thức vì người giáo viên sẽ làm nhiệm vụ là nghiệm thu kiến thức và giảng
giải lại cho các em.Tuy nhiên, những ưu điểm của phương pháp này chỉ có lợi cho
giáo viên, người trực tiếp tham gia giảng dạy, còn đối với học sinh thì lại là bất lợi
và đó cũng là nhược điểm của phương pháp này. Học sinh sẽ thụ động, không phát
huy được tính tích cực trong học tập. Trong tiến trình đó, học sinh dễ trở thành
những người đến lớp để “dự giờ” vì có nhiều em chỉ ngồi để nghe và não thì không
vận động để tư duy. Các em có thể hiểu bài nhưng chắc chắn là không thể nhớ lâu,
nhớ kĩ kiến thức.
Phương pháp đàm thoại (vấn đáp).
Đàm thoại là phương pháp mà giáo viên sẽ xây dựng hệ thống những câu hỏi
cho học sinh trả lời, trao đổi và ở mức cao hơn là sẽ tranh luận với nhau dưới sự chỉ
đạo, hướng dẫn của giáo viên, qua đó tiếp nhận tri thức. Phương pháp này rất thích
hợp sử dụng, nhất là trọng những điều kiện như thiếu phương tiện, đồ dùng dạy học.
Câu hỏi thảo luận vào lúc này là cách tiện lợi nhất để kích thích học tập một cách
tích cực.
Đặc điểm của hình tượng văn học là có tính biểu tượng, ngôn ngữ mang tính
hàm ẩn cho nên việc cảm thụ tác phẩm là không hề dễ dàng. Vì thế, câu hỏi của giáo
viên phải hướng được sự chú ý của học sinh vào những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ
tiêu biểu, từ đó giúp các em nắm được nội dung tác phẩm. Có ba loại hình câu hỏi
hay được các giáo viên sử dụng: (1) Câu hỏi tái hiện, (2) Câu hỏi yêu cầu giải
thích/phân tích/suy luận và (3) Câu hỏi khái quát.
2.4. Cách thức tổ chức kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ Văn
Với chương trình Ngữ văn hiện hành, công tác kiểm tra, đánh giá đã có nhiều
chuyển biến tích cực, chẳng hạn như định hướng ra đề mở, tăng cường nghị luận xã
hạn chế sáng tạo rồi. Những sự đổi mới chỉ có thể trông chờ vào tương lai. Cần phải
khuyến khích hơn nữa khả năng sáng tạo của học sinh bởi với lứa tuổi này thì nó là
vô hạn, đôi lúc còn khiến ta bất ngờ, phát triển cho các em khả năng vận dụng kiến
thức đã học, cả nội dung lẫn phương pháp để giải quyết một nhiệm vụ tương tự,
trong một tình huống mới.
CHƯƠNG 3: VỀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ VĂN ĐỔI MỚI
CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN
3.1. Mục tiêu của môn học:
Cải cách căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà bao gồm khẳng định lại
triết lí giáo dục, để từ đó, xây dựng một khung chương trình cho từng môn học hầu
đáp ứng nhu cầu người học trong khung cảnh mới của đời sống đất nước từng bước
hội nhập quốc tế. Theo như trên đã trình bày, chương trình Ngữ văn hiện hành coi
trọng và đặt chuẩn kiến thức lên hàng đầu. Trong Chương trình giáo dục phổ thông
cấp Trung học phổ thông, môn Ngữ văn (2006) nêu rõ một trong ba mục tiêu của
môn Ngữ văn là “nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn
với yêu cầu cao hơn cấp Trung học cơ sở, bao gồm: năng lực sử dụng tiếng Việt thể
14
hiện ở bốn kĩ năng cơ bản (đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm
thụ thẩm mĩ; năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng” (BGD&ĐT, 2006).
So với mục tiêu trên của chương trình hiện hành, vấn đề năng lực người học ngữ
văn và phát triển chương trình theo quan điểm định hướng năng lực người học ngữ
văn trong những năm tới nên có cách hiểu rộng hơn.
Theo nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt
Nam : “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội Nghị Trung Ương tháng 8 (khóa XI) thông
qua thì mục tiêu giáo dục theo hướng đổi mới sẽ hoàn toàn khác với mục tiêu dạy
học hiện hành, khi mà mục tiêu giáo dục – đầu ra – năng lực người học được xác
chính bản thân mình. Ngữ văn giúp người học trải nghiệm cuộc sống, giúp họ
trưởng thành hơn mà không phải trải qua trường đời. Qua thế giới tác phẩm, giáo
viên gợi được cho học sinh những dư vị của cuộc đời, giúp HS biết được thiện ác,
đẹp xấu. Môn Ngữ Văn còn hướng đến phân hóa sâu sắc cá tính người học, HS biết
đưa ra cách hiểu về điều mình nhận thức được, để rồi có thể dùng lý lẽ để bảo vệ ý
kiến. HS trở thành những chủ thể đầy chủ động. Theo đó, môn ngữ văn theo định
hướng mới không chỉ là vừa dạy chữ (ngôn ngữ) mà còn dạy làm người (văn
chương), không chỉ cung cấp những kiến thức nhân loại nó còn là một “công cụ”
đắc lực để học sinh có thể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học ứng dụng
vào trong cuộc sống và công việc. Và mục tiêu dạy học ngữ văn của các nhà giáo
dục tương lai vạch ra chỉ đạt được hiệu quả, thành công khi mà người học hứng thú
và thấy được lợi ích thiết thực của môn học này.
3.2. Kết cấu chương trình Ngữ văn trong tương lai:
Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay mới chỉ đưa ra chương trình tổng thể giáo
dục phổ thông vào tháng 7 vừa rồi, còn chương trình cụ thể của từng môn học
trong lộ trình đổi mới sắp tới thì vẫn chưa có. Môn Ngữ văn hiện tại cũng chưa có
nội dung chương trình theo định định hướng đổi mới. Tuy nhiên theo mục tiêu đổi
mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định thì nội dung chương
trình sắp tới: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo
chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết
hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo
dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về
phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng
của mỗi học sinh”. Đổi mới mục tiêu là tiền đề để xây dựng chương trình mới, và
cũng vì thế mà định hướng nội dung dạy học trong tương lai đều hướng đến thực
hiện mục tiêu giáo dục là hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học
sinh. Thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục toán học,
giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo
16
Ở giai đoạn này, chương trình môn học củng cố các mạch nội dung của giai
đoạn giáo dục cơ bản, giúp học sinh nâng cao năng lực giao tiếp, tăng cường năng
lực tiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức
tạp hơn về chủ đề và kỹ thuật viết, qua đó phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả
17
năng lập luận; đồng thời giúp học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm văn học, trang bị
một số kiến thức lịch sử văn học, lý luận văn học có tác dụng thiết thực đối với
việc đọc và viết về văn học
Bên cạnh đó Bộ Giáo dục còn đang muốn triển khai trong tương lai một
chương trình dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực người học. Và chúng tôi
cũng xin đề cập khái quát sơ qua về cách thiết kế khung chương trình môn ngữ văn
theo định hướng năng lực người học như sau:
Về quan điểm biên soạn, chuẩn kiến thức và kĩ năng sẽ dừng lại ở mức chủ
đề, chủ điểm hoặc đường nét lớn về tác giả, tác phẩm. Ngoài ra, dựa trên khung
chương trình với các chuẩn rõ ràng, các tác giả viết sách giáo khoa tùy chọn ngữ
liệu để thể hiện, đáp ứng yêu cầu của chương trình.
Về chương trình môn Ngữ văn THPT, các yêu cầu về phẩm chất và năng lực người
học cần hướng đến và đạt được đòi hỏi rất gắt gao. Chương trình muốn hướng cho
các em học sinh có trong mình những phẩm chất như yêu gia đình, yêu quê hương,
yêu đất nước; nhân ái, khoan dung; tự trọng, trung thực, công tư phân minh; tự lập,
bản lĩnh; có ý thức trách nhiệm công dân. Bên cạnh đó, các năng lực mà các em cần
hình thành chính là năng lực cảm thụ tác phẩm văn học, năng lực sử dụng tiếng mẹ
đẻ, năng lực nhân văn.
3.3. Cách tổ chức thực hiện dạy học môn Ngữ văn:
Một vấn đề trọng tâm nữa luôn được mọi người quan tâm, đó là trong quá
trình dạy và học Ngữ văn, ai sẽ là nhân tố trung tâm: thầy hay trò? Với các nước có
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thì phương châm “lấy người học làm trung tâm”
đã có từ lâu nhưng ở Việt Nam, khoảng 10 năm trở lại đây mới có vài người chủ
Để tổ chức được giờ dạy học như vậy, thì việc lựa chọn các phương pháp dạy
học thích hợp là vô cùng quan trọng. Và trong các giờ hoạt động dạy học nói chung
và môn Ngữ văn trong thời gian sắp tới, các nhà giáo dục sẽ áp dụng các phương
pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức,
hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo ra môi trường học tập thân thiện và những
tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động
học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và
khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được
để phát triển. Các hoạt động học tập lý thuyết đi đôi với thực thành sẽ được triển
khai tối đa, hết mức nhất và cả các hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập
cũng sẽ được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học tối thiểu, đồ dùng học tập
và công cụ khác. Đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ
trợ đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận các nguồn tài
liệu mở, khai thác thế giới thông tin phong phú để xây dựng các chủ đề học tập theo
sở thích và phát triển năng lực tự học theo tốc độ, cách học cá nhân.
Một phương pháp dạy học nữa mà hiện nay với thế giới, nó là một trào lưu sư
phạm hiện đại – phương pháp tích hợp. Trào lưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan
niệm về quá trình học tập, trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình
19
thành ở học sinh những năng lực rõ ràng có dự tính những hoạt động tích hợp nhằm
giúp học sinh học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng đã được lĩnh hội.
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng
những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các
phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu
biết lịch sử xã hội văn hoá nghệ thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần
phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín tách biệt thế giới nhà trường và
thế giới cuộc sống cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ bổ sung cho
nhau tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa những tình huống cụ thể mà HS
tức kết quả học tập theo mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các
năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát,đánh
giá được. Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương
trình.Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo việc quản lí chất lượng
giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra.
Và để đánh giá đúng năng lực học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học cần phải
thực hiện đa dạng các phương pháp đánh giá như quan sát, vấn đáp, kiểm tra trên
giấy, trình diễn, dự án học tập, hồ sơ học sinh,...; phối hợp chặt chẽ nhiều hình thức
như đánh giá, chẩn đoán. Sử dụng đa dạng các công cụ đánh giá như câu hỏi phát
vấn, đề kiểm tra, bài luận, bài tập lớn, báo cáo thực hành, dự án học tập, tự đánh
giá,... Và việc tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học
sinh không chỉ trong khoảng hẹp là lớp học (các bài kiểm tra của giáo viên), nhà
trường (kì kiểm tra cuối kì) mà còn phải mở rộng ra ở kì thi chung của quốc gia –
thi Đại học. Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng đánh giá cả
kết quả môn học và kết quả thi, kết quả đánh giá quá trình với đánh giá tổng kết là
công việc cần được tiến hành càng sớm càng tốt.
Tóm lại, để đánh giá được các năng lực Ngữ văn của học sinh, giáo viên cần
có những bộ công cụ phù hợp với mục đích và tính chất của từng bài kiểm tra, kì
thi. Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì phải mang tính chất rèn luyện
và thực hành.
3.5. So sánh các chương trình dạy học và cách tổ chức dạy học Ngữ Văn
hiện hành và đổi mới
QUY TRÌNH TỔ CHỨC
DẠY HỌC NGỮ VĂN
HIỆN HÀNH
1. Mục tiêu
dạy học
Chương trình Ngữ văn hiện
hành nêu lên ba mục tiêu và
trình
Chương trình môn Ngữ văn
hiện hành tiếp cận theo
hướng nội dung. Chương
trình đó chú trọng chạy theo
số lượng tác giả, tác phẩm,
các đơn vị ngôn ngữ tiếng
việt, các kiểu văn bản cần tạo
lập,…
phát triển năng lực Ngữ văn
mà trước hết là năng lực giao
tiếp với việc sử dụng thành
bốn kĩ năng cơ bản: đọc –
viết – nghe – nói. Sau đó mới
là đến các kĩ năng và năng
lực khác.
Việc lựa chọn các kiến thức
tất nhiên là phải đáp ứng yêu
câu cơ bản và hiện đại nhưng
phải hướng tới phục vụ cho
yêu cầu phát triển năng lực,
tránh những thứ không thiết
thực và không quá chú trọng
tính hệ thống (hệ thống lịch
sử văn học, hệ thống ngôn
ngữ,…).
Chương trình mới đặt mục
tiêu là vừa chú ý mục tiêu
định một tác phẩm cụ thể của
một tác giả cụ thể, ngoài ra
nếu đó là tác giả quan trọng
thì sẽ đề cập thêm một số bài
đọc thêm. Chẳng hạn như với
tác gia Xuân Diệu (có sáng
tác trước và sau CMT8 nhưng
người ta vẫn nhớ đến một
Xuân Diệu nồng nhiệt và lo
âu trước CM nhiều hơn),
SGK hiện hành cho học duy
nhất bài “Vội vàng” để làm
nổi bật nỗi sợ hãi trước sự
chảy trôi của thời gian của
Xuân Diệu. Ngoài ra còn cho
đọc thêm “Đây mùa thu tới”
và “Thơ duyên”.
3. Phương
lực yêu cầu không chỉ biết
nội dung và ý nghĩa cụ thể
của tác phẩm được học mà
còn phải biết cách khám phá
ra vẻ đẹp nội dung và ý nghĩa
đó nữa. Không dừng lại ở đó,
từ việc biết cách khám phá,
HS sẽ biết vận dụng cách tự
khám phá ra những vẻ đẹp
nội dung và ý nghĩa của
23
pháp dạy học
4. Cách kiểm
tra đánh giá
kết quả học
tập của học
sinh
tại có tư tưởng đã được thống
nhất từ sau năm 2000 là
chuyển từ phương pháp giảng
văn sang phương pháp đọc
hiểu văn bản. Đó là một bước
tiến trong phương pháp dạy
học ở nhà trường phổ thông.
Tuy nhiên phương pháp đọc
hiểu nhìn chung mới chỉ dừng
lại ở mặt nhận thức. trong
thực tế dạy học, phương pháp
trên chưa được thực hiện toàn
diện, đồng bộ và hiệu
quả.
việc hình thành và phát triển
năng lực. Với môn Ngữ văn
trước hết tập trung vào năng
lực giao tiếp, sau đó mới đến
hiện trong suốt quá trình học
nhưng đến những bài kiểm tra
cuối sẽ kiểm tra sự vận dụng
kiến thức ở nhiều bài, liên
môn và ở nhiều lĩnh vực.
24
KẾT LUẬN
Trên đây là phần trình bày của chúng tôi về quy trình tổ chức dạy học Ngữ
văn theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Có thể trong tương
lai, những nội dung trong từng quy trình sẽ thay đổi ít nhiều vì nói thế nào đi chăng
nữa thì lộ trình đổi mới này đối với riêng bộ môn Ngữ văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo
vẫn chưa ban hành những nội dung cụ thể. Cả giáo viên, học sinh lẫn phụ huynh cơ
hồ vẫn còn rất hoang mang. Nhưng dường như ai cũng mong sự cải tổ lần này sẽ
mang đến phong khí mới cho nền giáo dục nước nhà nói chung và môn Ngữ văn nói
riêng bởi lẽ chúng ta đã bị tụt lại khá xa so với thế giới, những gì còn lại không đủ
để đáp ứng những nhu cầu đổi thay, phát triển của xã hội, của người dạy và của
người học.
25