Bài 14. Viết bài tập làm văn số 3 - Văn thuyết minh (làm tại lớp) - Pdf 47

Bài thuyết minh
CHIẾC NÓN LÁ VIỆT NAM

Thực hiện: tổ 2- lớp 8A1


Phần I: Giới thiệu nhóm
• Nhóm chúng tôi gồm:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.

Trần Tú Oanh
Nguyễn Minh Ngọc
Phan Quỳnh Anh
Đào Chí Công
Lý Anh Vũ
Trần Quang Huy
Nguyễn Thu Trang
Lưu Việt Thắng
Phạm Hoàng Long
Nguyễn Hải Anh



diệp chuyên làm nón v.v. Có hoặc
không có dây đeo làm bằng vải
mềm hoặc lụa để giữ trên cổ.

Nón thường có hình chóp nhọn
hay hơi tù, tuy vẫn có một số loại
nón rộng bản và làm phẳng đỉnh.


3,Phân loại nón:

,. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại
khác nhau qua từng giai đoạn
lịch sử:
Nón dấu : nón có chóp nhọn của
lính thú thời xa xưa
Nón gò găng hay nón ngựa: sản
xuất ở Bình Định làm bằng lá
dứa đội khi cỡi ngựa
Nón rơm : Nón làm bằng cộng
rơm ép cứng
Nón quai thao : người miền Bắc
thường dùng trong lễ hội
Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre
ghép cho lính hồi xưa


3,Phân loại nón:

Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp

thành một phần trong đời sống vô
cùng đẹp và lãng mạn của người
mình.
Nhiều loại nón ngày xưa, nay không
còn được sử dụng và mai một.


Có loại nón được cách tân cho hạp
với thời đại và thị hiếu thẩm mỹ
của con người, làm cho chiếc nón
vượt lên khỏi chức năng “che mưa
che nắng”, trở thành đồ trang sức,
làm duyên cho người phụ nữ. Có
thể nói không sợ quá lời rằng:
không có dân tộc nào có chiếc
nón, như chiếc “nón lá” gắn bó,
gần gũi với con người như dân tộc
Việt Nam mình!


5, Cách sử dụng và bảo quản


5, Cách sử dụng và bảo quản
• Chiếc nón dùng để múc nước rửa mặt,
múc nước uống tạm bên sông, chiếc
nón của bà mẹ quê tạm dùng đựng mớ
rau tập tàng mới hái được đâu đó để
dành nấu canh cho chồng cho con ăn!
Sau khi sử dụng, các mẹ các chị thường

*Cuối cùng là hơ nón bằng hơi diêm( diêm sinh) để nón trắng và không
mốc.
Các loại nón:
-Nón ba tầng, nón dấu, nón Huế, nón quai thao,..
-Mỗi làng nghề có những bí quyết làm nón khác nhau.


Gíá trị của chiếc nón:
-Giá trị thực tiễn: phục vụ cuộc sống.
-Gíá trị kinh tế: đem lại nguồn thu nhập cho người dân làng nón và nguồn
hàng xuất khẩu có giá trị.
-Gíá trị thẩm mỹ: tạo nét duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam, trở thành
vật trang trí,..

3,Kết bài:
-ý nghĩa của chiếc nón trong đời sống người Việt.
-Triển vọng phát triển các làng nghề truyền thống của Việt Nam.


Phần IV: Bài viết
“Trời mưa thì mặc trời mưa
Em không có nón thì chừa em ra”
(Ca dao)
Cùng với chiếc áo bà ba, chiếc “nón lá” đã theo chân người
phụ nữ miệt quê miệt vườn, cùng với chiếc xuồng ba lá,
bồng bềnh theo con nước lớn nước ròng, dầm dãi nắng
mưa sớm chiều... Từ lâu chiếc nón lá đã trở thành một bộ
phận không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ
miền Nam nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung.
Ngày nay chiếc nón là hình ảnh quen thuộc và gần gũi với

Nón cũng được các bà mẹ sụt sùi nước mắt đặt nhẹ lên đầu
người con gái thương yêu trước khi lên xe hoa về nhà chồng...
Chiếc nón còn có mặt trong sách vở thi ca, qua câu hò tiếng
hát của người bình dân để ngợi ca tình yêu trai gái... và chiếc
nón thực sự trở thành một phần trong đời sống vô cùng đẹp và
lãng mạn của người mình.
Nhiều loại nón ngày xưa, nay không còn được sử dụng và mai
một.


Có loại nón được cách tân cho hạp với thời đại và thị hiếu thẩm
mỹ của con người, làm cho chiếc nón vượt lên khỏi chức năng
“che mưa che nắng”, trở thành đồ trang sức, làm duyên cho
người phụ nữ. Có thể nói không sợ quá lời rằng: không có dân
tộc nào có chiếc nón, như chiếc “nón lá” gắn bó, gần gũi với con
người như dân tộc Việt Nam mình!
Nói về tên gọi chiếc nón thì ở nước mình phong phú lắm.
Theo thông thường, chiếc nón khi ra đời được đặt tên theo vật
liệu làm nên nó. Như nón lá, nón rơm, nón đệm, nón lá buông,
nón dứa, nón gõ, nón quai thao, nón móp, nón bài thơ... Chiếc
nón cũng được đặt tên theo hình dạng, như nón chóp, nón dấu,
nón mê, nón mẻ, nón thúng, nón chân tượng giống chân voi...
“Tiếc vì nón lá quai mây,
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm”.
“ Ông già ông đội nón còi,
Ông ve con nít ông Trời dánh ông.”
(Ca dao)




những sợi tre chuốt nhỏ, to và nặng, có đôi quai thao dài 1m50
làm bằng 8 sợi tơ, hai đầu có một quả găng... Quai thao xưa nổi
tiếng thời thế kỷ 17, được làm ra ở làng Triều Khúc, Thanh Trì,
còn gọi là làng Ðơ Thao. Làng Ðơ Thao là làng nghề làm quai nón
nổi tiếng ngày xưa, có thờ tượng tổ sư của nghề dệt quai thao, tới
nay còn được dân làng tự hào.
Cái nón từ lúc xuất hiện, đi liền với đôi quai được làm bằng
dây, mây, vải,... vừa để giữ chiếc nón, vừa để điểm tô cho người
đội thêm duyên, thêm dáng, thêm sang trọng và quí phái theo cái
nhìn thẩm mỹ bấy giờ.


• -“Nón em nón bạc quai thao,
Thì em mới dám trao chàng cầm tay.”
-“Tròng trành như nón không quai,
Như thuyền không lái như ai không chồng!”
(Ca dao)

Theo bước chân Nam tiến, chiếc nón vào xứ đàng Trong với tên
gọi như nón Huế, nón bài thơ, nón Bình Ðịnh...
Chiếc nón giờ đây có dáng vẻ nhẹ nhàng, mang theo trong nó cái
“duyên ngầm” của người con gái Huế đội “nón nghiêng che”
lãng mạn.
Chiếc nón Triều Sơn huyện Hương Trà, nón Gò Găng, nón bài
thơ... lồng bên trong bài thơ, hình ảnh cầu Tràng Tiền, chùa
Linh Mụ, núi Ngự, sông Hương:
“Con sông dùng dằng, con sông không chảy,
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.”
(Câu hò Huế)


cho lá còn giữ màu trắng tự nhiên vẫn xanh-trắng mịn màng, không bị ngả
màu đen hay vàng. Lá phải cán hay vuốt thẳng, sao cho sau khi lợp, sau khi
chằm không bị co bị dúm lại.
Giai đoạn cuối cùng là chằm nón bằng những sợi chỉ trong suốt dọc theo
nan tre. Chính giữa hai lớp lá được đặt vào các hoa văn, hoặc câu thơ cắt bằng
giấy, có khi là hình cầu Tràng Tiền, núi Ngự, Sông Hương...
Người thợ nón Tây Ninh mỗi ngày làm ra từ 2 đến 4 cái nón tùy theo hàng.
Những chiếc nón ra lò ở đây trông “rất Huế” nhưng không phải Huế, do bàn
tay những nghệ nhân Tây Ninh khéo léo, bằng những đường kim mũi chỉ sắc
sảo. Ðó là những người thợ nón bước vào nghề từ lúc còn bé 5, 6 tuổi đến già,
yêu cái nghề làm nón và cả đời làm nón Huế dầu chưa có một lần bước chân
đến Huế! Nên có hai câu hát “Nón rất Huế nhưng đời không phải Huế/Mà chỉ
để làm đẹp nón ai nghiêng...”


• Chiếc nón từ khi có mặt, đã phục vụ cho người thường, cho quan
chức, cho cả người chết. Nón còn được làm để dâng cho thần linh
trong đình chùa đền miếu miễu... phục vụ cho tín ngưỡng con
người.
Kể sao xiết những chiếc nón của người Việt mình xưa nay. Bởi:
Còn những chiếc nón xuất hiện nơi thị thành đèn hoa đô hội:
ngoài chiếc nón của thầy thông thầy ký mắc tiền đội hờ cho có,
còn chiếc nón của bác xích lô, người phu quét đường, người “cu
li” bốc vác... dùng để đội, để chắn gió mồi thuốc, để che mặt ngủ
trưa hay chờ khách!
Còn những chiếc nón ra đồng, chiếc nón dùng để múc nước rửa
mặt, múc nước uống tạm bên sông, chiếc nón của bà mẹ quê tạm
dùng đựng mớ rau tập tàng mới hái được đâu đó để dành nấu
canh cho chồng cho con ăn!
Ðó là những chiếc nón của những mảnh đời tăm tối nhưng đáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status