VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------------
NGUYỄN THỊ MINH PHƢƠNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƢỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG
CHO HỌC VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN
DÂN I TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS.ĐẶNG THÁI GIÁP
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thái
Giáp.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
ANQG
An ninh quốc gia
TTATXH
Trật tự an toàn xã hội
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC NGƢỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG ...........................................................8
1.1. Một số khái niệm ................................................................................................8
1.2. Công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng ..................................21
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƢỜI
CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG ......26
CẢNH SÁT NHÂN DÂN I ...................................................................................26
2.1. Đặc điểm tình hình có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức của học viên
Trường Cao đẳng CSND I.......................................................................................26
2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng đối với học
viên Trường Cao đẳng CSND I hiện nay ...............................................................33
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƢỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO
HỌC VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN I GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY ................................................................................................58
đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục. Bên cạnh những
thành tựu về kinh tế thì về mặt xã hội, trong đó có đạo đức đang nảy sinh
ngày càng nhiều những vấn đề, những tình huống phức tạp, nhức nhối, những
mất mát giá trị truyền thống, những lệch lạc trong định hướng giá trị và lối
sống trong nhiều tầng lớp xã hội, trong đó có thanh niên, học viên. Một bộ
phận học viên suy thoái về đạo đức, lối sống, thiếu ước mơ và hoài bão, lập
thân, lập nghiệp. Trong thi cử, hiện tượng quay cóp, gian lận đang có xu
hướng gia tăng, ý thức tổ chức kỷ luật kém, tinh thần trách nhiệm, ý thức
1
cộng đồng thấp. Thêm vào đó, sự du nhập văn hóa phẩm đồi trụy phản nhân
văn thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng internet... làm
ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu, ảnh hưởng đến đạo
đức trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh hiện nay. Đây là nỗi lo chung
của toàn xã hội. Thực tế đó cho thấy, việc giáo dục đạo đức trong xã hội ta,
nhất là đối với thanh niên, học viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách.
Ở đây, nhấn mạnh đến việc giáo dục đạo đức cho học viên không chỉ xuất
phát từ tình huống suy thoái đạo đức hiện nay, cần phải cứu chữa mà còn
quan trọng hơn vì định hướng phát triển lâu dài trong tương lai với tầm nhìn
và hành động chiến lược. Bởi vì, sinh viên, học viên là tầng lớp xã hội đặc
thù, là bộ phân ưu tú, là nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai của
đất nước. Việc xây dựng đội ngũ tri thức tương lai đủ sức đủ tài đáp ứng sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt. Học
viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I cũng nằm trong vấn đề chung đó.
Mặt khác, đối với các trường công an nhân dân, việc đào tạo ra những
chiến sỹ công an có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cao, có khả năng tư duy sáng tạo trong công tác điều tra được là một đòi hỏi
khách quan. Đặc biệt, do đặc thù của công tác công an luôn phải trực tiếp tiếp
đảng viên nhằm thực hiện đường lối cách mạng Việt Nam.
+ Quyển sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải
pháp” do Nguyễn Duy Quý chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, 2006) tìm hiểu
vấn đề đạo đức xã hội dưới tác động, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị của
nước ta hiện nay và phân tích đạo đức của từng nhóm đối tượng, hoàn cảnh cụ
thể đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạo đức của sinh viên, đạo
đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình.
+ Quyển sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy (Nxb Chính trị quốc gia, 2009),
có nội dung khá đầy đủ và hệ thống lý luận, về thực trạng và một số phương
hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay. Tác giả cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức phải dựa
trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
và chỉ ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức đang được xây dựng ở nước ta
3
bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tập
thể, ý thức cộng đồng; tinh thần lao động tự giác, sáng tạo; tinh thần nhân đạo
và một số giá trị khác nhau như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên
nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng.
+ “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình
hình mới” của Phạm Đình Nghiệp (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000).
+ “Phát huy kết quả 65 năm CAND học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ
dạy, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự trong tình
hình mới”, GS - TS Trần Đại Quang, Tạp chí KHGD & AN 5/2013.
+ “Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên CAND theo tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Nguyễn Xuân Lý, Tạp chí KHGD & AN 5/2013.
Ngoài ra có rất nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề giáo dục
an cách mạng cho đối tượng này cần tiếp tục tìm hiểu, lý giải khoa học thêm
để có được phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức hiện nay trong trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I. Những
công trình trên là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa và tiếp tục đi sâu
nghiên cứu về vấn đề “Giáo dục đạo đức ngƣời Công an cách mạng cho
học viên Trƣờng Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện
nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích tầm quan trọng, thực trạng, nguyên nhân của giáo dục đạo
đức mới cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong thời gian
qua từ đó, đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho đối tượng này trong
giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích nội dung những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giáo
dục đạo đức người Công an cách mạng cho học viên trường Cao đẳng Cảnh
sát nhân dân I trong tình hình ở Việt Nam hiện nay.
5
- Đánh giá thực trạng, rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho học viên trường Cao đẳng
Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác giáo dục đạo đức cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
trong tình hình hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các công
trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào công tác giảng dạy và giáo dục đạo
đức người Công an cách mạng nói chung và giáo dục đạo đức cho học viên
Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và các trường Công an nhân dân trong
cả nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài bao gồm 3 chương, 6 tiết.
7
Chƣơng 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGƢỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Đạo đức và đạo đức người Công an cách mạng
1.1.1.1. Đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm
trong lịch sử, nó phản ánh khả năng tự chủ của con người. Do lịch sử hình
thành và phát triển của mỗi cộng đồng khác nhau. Do vậy, mỗi cộng đồng,
mỗi dân tộc có nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức.
* Quan niệm Nho giáo
Người đặt nền móng, xây dựng nên học thuyết Nho giáo là Khổng Tử
(551- 479 tr.CN) , với việc đề ra học thuyết Nhân - Lễ - Chính danh.
Nhân theo Khổng Tử gồm: trung, hiếu, kính, khoan, hòa, cần mẫn, thật
thà, khiêm tốn, dũng cảm, học gắn với hành, tự trách mình hơn trách người,
thận trọng, biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét… Nhân là nguyên
lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những mối quan hệ giữa
“mình cong queo không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”.
Nho giáo coi tu thân là gốc, là nền tảng để củng cố các mối quan hệ
trong gia đình và ngoài xã hội. Nho giáo cho rằng bản thân mình có tốt, có
thiện, có hiểu biết, sống có nhân nghĩa, nói có tín thực và giao tiếp đúng lễ thì
mới làm gương cho người khác noi theo, mới có khả năng “tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ”. Nho giáo coi trọng đạo tu thân, tu dưỡng đạo đức theo “lễ”,
ứng xử đúng với danh phận, tích cực rèn luyện bản thân bằng học tập đi đôi
với thực hành đạo đức và phải hàng ngày tự kiểm điểm bản thân. Như vậy,
Nho giáo có cả mặt tích cực và tiêu cực, nó hướng cá nhân mỗi người cũng
như mọi người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín, tích cực học tập để tiến bộ giúp ích cho nước, cho dân, nhưng nó cũng
kích thích tính gia trưởng độc đoán, không khuyến khích phát triển các ngành
9
khoa học tự nhiên. Do đó đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất, kìm hãm sự
phát triển xã hội.
* Quan điểm của Đạo giáo
Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr.CN) là ông tổ của Đạo giáo, với việc đề
ra: học thuyết về “đạo”; tư tưởng về phép biện chứng và học thuyết “vô vi”
hay những vấn đề về đạo đức nhân sinh, chính trị - xã hội. Ông cho rằng
“Đạo” vừa là duy nhất, vừa thiên bình, vạn trạng, biến hóa vô cùng và mang
tính bất biến, vừa là “hữu”, vừa là “vô”. “Đạo” sinh ra vạn vật, không có ý chí
dục vọng và không có mục đích định trước, nó không làm chúa tể để chi phối
vạn vật mà thuộc theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật. Mở rộng quan điểm
về “đạo” trong đời sống xã hội, Lão Tử chủ trương thuyết “vô vi”, nghĩa là
sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động có tính giả tạo,
gò ép, trái bản tính tự nhiên của mình, không can thiệp vào guồng máy của tự
nhiên. “Vô vi” là “không làm gì”, mà chỉ bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của
đế, Diệt đế, Đạo đế.
Theo con đường “bát chính đạo”, “tiêu diệt vô minh” con người có thể
diệt trừ được vô minh, giải thoát và lên cõi Niết bàn, là trạng thái hoàn toàn
yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi. Phật giáo khuyên con
người ta tự giác tu luyện, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kiên trì hành vi
hướng thiện thì sẽ chuyển ác thành hiện, sửa tà thành chính để đạt tới sự giải
thoát. Phật giáo không thừa nhận có thần thánh, đồng thời “còn tích cực
chống chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và
bình đẳng xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch
của cuộc đời, kêu gọi lòng từ bi, hỉ xả, nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái
hướng con người “vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức”.
* Quan điểm đạo đức trong xã hội Hy Lạp cổ đại
Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 tr. CN) quan niệm đối tượng nghiên cứu
của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi cá nhân. Hạt nhân
trung tâm trong đạo đức của ông là lương tâm trong sáng, là sự lành mạnh về
tinh thần của từng cá nhân. Ông yêu cầu “mỗi người phải sống đúng mực, ôn
hòa, không vô độ mà gây hại cho người khác”, ông chống lại sự giàu có quá
đáng và thu lợi bất lương. Ông cho rằng, hạnh phúc hay bất hạnh, giàu có hay
11
nghèo nàn, thành công hay thất bại đều do hoạt động kinh tế (thủ công và thương
mại) tạo ra, không do “Thượng đế” chi phối. Ông đề ra tiêu chuẩn đánh giá đạo
đức tốt hay xấu của từng cá nhân là để nhận ra người trung thực ra không trung
thực, phải căn cứ không chỉ vào việc làm của họ mà còn vào ý muốn của họ, gắn
động cơ, ý thức với hành động, đó là quan niệm tiến bộ của ông.
Platôn (427 - 347 tr.CN), là học trò của Xôcrát nên ông tiếp thu và phát
triển quan niệm đạo đức của Xôcrát theo hướng duy tâm khách quan. Nếu
Xôcrát thừa nhận đạo đức con người và tri thức thống nhất là một, cái thiện
Những quan niệm đạo đức trước Mác tuy có những hạn chế do hoàn
cảnh lịch sử, do địa vị giai cấp và nhận thức, nhưng cũng có những sự đóng
góp nhất định để hình thành một bộ môn khoa học mới - đạo đức học mác xít. Đạo đức học mác - xít đã khắc phục mặt hạn chế, kế thừa yếu tố tiến bộ
để đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về đạo đức.
Theo quan niệm Mác - xít, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
tập hợp những nguyên tắc, quy chuẩn, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và
đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với
xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận xã hội” [50, tr.8].
Định nghĩa trên cho thấy, triết học, chính trị, pháp quyền, nghệ thuật, tôn
giáo… đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện
thực đời sống xã hội dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Đời sống xã hội (xét
đến cùng là chế độ kinh tế - xã hội) là nguồn gốc nảy sinh các quan điểm về đạo
đức của con người - như Ph.Ăngghen đã khẳng định trong tác phẩm Chống
Đuyrinh: “Chung quy mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản
phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [68, tr.161].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin , đạo đức được sinh ra
trước hết từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất,
trong đấu tranh xã hội, quản lý xã hội, phân phối sản phẩm và trong quan hệ
giữa con người với con người để con người tồn tại và phát triển. Chính lao
động là giá trị đạo đức hàng đầu của mọi thang bậc giá trị, vì nó sáng tạo ra
giá trị cao nhất, sáng tạo ra con người, hoàn thiện phẩm cách con người để xã
13
hội tồn tại và phát triển vì: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ
đời sống loài người” [15, tr.641].
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, xã hội tư bản tất yếu sẽ bị diệt vong,
xã hội cộng sản chủ nghĩa nhất định sẽ thay thế xã hội tư bản, người thực hiện
công việc này không? Điều đó xác định đạo đức của mỗi con người. Trong
thư gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Sở Công an khu XII, Người viết: Tư
cách người Công an cách mạng là:
“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo” [35, tr.406].
Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức không phải chỉ là
những lý tưởng cao xa mà đó là những thái độ, hành vi, việc làm cụ thể của
mỗi người hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sinh hoạt, trong học tập,
trong lao động và trong chiến đấu. Mặt khác, Hồ Chí Minh còn chỉ ra đạo đức
cách mạng và đạo đức đời thường là hoàn toàn thống nhất với nhau, sẽ không
có đạo đức đời thường tách rời với đạo đức cách mạng và cũng không thể có
đạo đức cách mạng đứng ngoài với đạo đức đời thường. Vì vậy, không thể
bào chữa cho khuyết điểm của bản thân mình đó là việc riêng của mình không
liên quan gì với cái chung. Cái riêng phải phù hợp với cái chung, cái riêng mà
đi ngược với cái chung là chủ nghĩa cá nhân là vi phạm đạo đức.
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn
diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc
công, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày, từ gia đình tới xã hội, từ
giai cấp đến dân tộc và từ quốc gia đến quốc tế. Việc Hồ Chí Minh xem xét
vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn mang tính khách quan,
phù hợp với hoạt động của đời sống xã hội và mỗi con người. Đồng thời, Hồ
Chí Minh đã nêu những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ bản và có tính phổ
cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời Người cũng chỉ rõ những
chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công nhân, nông dân, thanh niên,
15
quan hệ với người khác và với cộng đồng.
16
1.1.2. Nội dung giáo dục đạo đức người Công an cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng
phẩm chất đạo đức cách mạng cho thanh niên nhằm đào tạo ra những người
công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt của nước nhà, những người
vừa “hồng”, vừa “chuyên”, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách
mạng cho họ để đào tạo họ thành lớp người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã
hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [39, tr.510]. Hồ Chí Minh coi đạo
đức là cái gốc của người cán bộ, đảng viên, của người đoàn viên thanh niên
cộng sản: có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không
có đức là người vô dụng.
Từ cuộc sống thực của nhân dân, cuộc đời thực của con người và xã hội
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát những phẩm chất cơ bản của con người
Việt Nam, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà mỗi chúng ta cần học tập.
1. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự
do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Đây là phẩm chất bao trùm nhất, quan
trọng nhất chi phối các phẩm chất khác, là điểm xuất phát mang tính cách
mạng trong quan niệm về đạo đức, “là chuẩn mực đạo đức bao trùm của con
người Việt Nam, là định hướng chính trị - đạo đức lớn nhất cho mỗi người, là
khát vọng vươn lên tự hoàn thiện mình của tất cả chúng ta theo ngọn cờ, tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” [23, tr.53]. “Trung” và “hiếu” là hai khái niệm
cơ bản, đứng đầu trong “tam cương” và “ngũ luân” của đạo đức Nho giáo. Ở
đây, Hồ Chí Minh, trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước của người Việt
Nam, giữ lại ý nghĩa trách nhiệm, bổn phận của người dân, của người con
“Cần” tức là lao động siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có
năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng,
không ỷ lại, không dựa dẫm. Cần có nghĩa là “làm việc phải đến đúng giờ,
chớ đến trễ về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào nên làm
xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai” [35, tr.104]. Người dạy thế hệ trẻ phải
học tập tốt, lao động tốt. Rèn luyện đức “cần”, thanh niên phải chống tâm lý
ham sung sướng và tránh khó nhọc.
18
“Kiệm” tức là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”
[35, tr.636]. Tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ, tiết kiệm tiền của của
dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều
cái nhỏ cộng lại thành cái to, mọi người đều phải tiết kiệm. Theo Người, tiết
kiệm là: Khi không cần tiêu thì một đồng xu cũng không tiêu. Khi có việc
đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn
bao nhiêu của, cũng vui lòng.
“Liêm” tức là “trong sạch, không tham lam” [35, tr.640], luôn tôn trọng gìn
giữ của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước,
của nhân dân, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng.
“Chính”, “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì
không đứng đắn, thẳng thắn tức là tà” [35, tr.643]. Đối với mình, người chính
tức là không tự cao tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm
điểm những lời mình đã nói, những việc mình đã làm để phát triển điều hay,
sửa chữa điều dở của bản thân mình, không nịnh hót người trên, xem thường
người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, không
dối trá, lừa lọc, phải học người và giúp người tiến bộ.
Về “chí công, vô tư”, chí công là công bằng, công tâm, vô tư là không
thiên tư, thiên vị. Người nói: “Đem lòng chí công mà đối với người, với việc”,
là yêu cầu cao về đạo đức cách mạng ở tầm quan hệ rộng lớn, vượt ra ngoài
khuôn khổ quốc gia, dân tộc vì phẩm chất này được hình thành trên cơ sở bản
chất quốc tế của giai cấp vô sản và được hun đúc lên bởi chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất của mọi thời đại.
Theo Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước phải gắn liền với tinh thần quốc
tế trong sáng, chân chính. Nếu chỉ có tinh thần yêu nước mà không có tinh
thần quốc tế trong sáng, chân chính thì sẽ dẫn đến hoặc là kỳ thị dân tộc,
chủng tộc sôvanh nước lớn hoặc là dân tộc hẹp hòi. Tinh thần quốc tế trong
sáng, chân chính là tinh thần quốc tế vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức và
giai cấp vô sản toàn thế giới trong cuộc đấu tranh cho tiến bộ, hòa bình, độc
lập dân tộc, hữu nghị và công lý, vì CNXH và chủ nghĩa cộng sản.
Đây là phẩm chất đạo đức hoàn toàn mới nên đòi hỏi phải có sự quyết
tâm cao của mỗi người, mỗi dân tộc và loài người tiến bộ trong cuộc đấu
20
tranh chung lâu dài, gian khổ trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin chân
chính, sự tiến bộ văn minh của nhân loại, sự giác ngộ giai cấp và sự phát triển
cao của nền sản xuất xã hội.
1.2. Công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng
Trong giai đoạn hiện nay, công tác giáo dục đạo đức cho cán bộ chiến
sĩ công an cần tập trung vào một số nội dung lớn, gắn liền với sự hình thành
lối sống, nhân cách văn hóa thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chủ động hội nhập quốc tế.
Thực hiện Chỉ thị 23-CTTW, ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa IX, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã tổ chức nhiều đợt
học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Đối với CBCS công an, việc học tập
và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có tầm
quan trọng đặc biệt. Điều đó được thể hiện ở tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính
trị tại Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011, Kế hoạch số 03/KH-TW ngày