Vị trí, vai trò của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của tòa án từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh thanh hóa - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ THỊ MINH HẠNH

VÞ TRÝ, VAI TRß CñA HéI THÈM NH¢N D¢N
TRONG HO¹T §éNG XÐT Xö - Tõ THùC TIÔN TOµ ¸N NH¢N D¢N
TØNH THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ THỊ MINH HẠNH

VÞ TRÝ, VAI TRß CñA HéI THÈM NH¢N D¢N
TRONG HO¹T §éNG XÐT Xö - Tõ THùC TIÔN TOµ ¸N NH¢N D¢N
TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2017



1.1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân .............................................................. 7
1.1.2. Nguồn gốc, ý nghĩa của chế định Hội thẩm trong hoạt động xét xử
của Toà án nhân dân ở Việt Nam .......................................................... 9
1.2.

Pháp luật về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt
động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam từ trước tới nay ... 12

1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân dân
trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam .................. 12
1.2.2. Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân theo pháp luật hiện hành của
Việt Nam ............................................................................................. 16
1.3.

So sánh chế định Hội thẩm nhân dân của Việt Nam với chế độ
Bồi thẩm đoàn ở các nước theo hệ thống thông luật, mà đặc
trưng là Hoa Kỳ .................................................................................. 33

Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 37
Chương 2: THỰC TRẠNG VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA HỘI THẨM NHÂN
DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN
DÂN TỈNH THANH HÓA .............................................................................38


2.1.

Khái quát cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân
tỉnh Thanh Hoá ................................................................................. 38


3.1.2. Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân là trách nhiệm của
cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp ...................................................... 65
3.1.3. Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương ........................................... 66
3.1.4. Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải vừa kế thừa
truyền thống pháp lý của Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế hội
nhập quốc tế ........................................................................................ 66


3.1.5. Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải kết hợp các
giải pháp có tính toàn diện, hệ thống .................................................. 67
3.2.

Các giải pháp bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân
đối với hoạt động xét xử của Tòa án ............................................... 67

3.2.1. Giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của HTND ................ 68
3.2.2. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật ....................................................... 68
3.2.3. Giải pháp về tăng cường tiêu chuẩn lựa chọn Hội thẩm ..................... 70
3.2.4. Giải pháp nâng cao độ đãi ngộ đối với HTND ................................... 72
3.2.5. Giải pháp về quản lý, đánh giá, giám sát đối với Hội thẩm ................ 73
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐXX: Hội đồng xét xử
HĐND: Hội đồng nhân dân
HTND: Hội thẩm nhân dân

1


trong hoạt động xét xử của tòa án các cấp tỉnh và huyện ở Thanh Hóa thời
gian qua, đội ngũ HTND cũng bộc lộ những hạn chế về trình độ hiểu biết
pháp luật, trách nhiệm và kỹ năng khi tham gia phiên tòa. Chất lượng của đội
ngũ HTND vẫn chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ chính trị được giao.
Những hạn chế của đội ngũ HTND là một trong những nguyên nhân ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng xét xử của các cấp tòa án tỉnh Thanh Hoá.
Cùng với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
các quan hệ xã hội trên thực tế ngày càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến
tranh chấp, các vụ án ngày càng trở nên phức tạp, khó giải quyết, vì vậy, nếu
thẩm phán, HTND không có tư duy pháp lý vững chắc, không được đào tạo
bài bản thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu chuyên môn ngày càng cao trong
việc xét xử. Những thách thức này mang tính khách quan, đòi hỏi hệ thống
toà án phải đổi mới cả về tổ chức và nhân sự để có thể thích ứng với tình hình
mới. Tuy nhiên, trong thực tế sự thích ứng của các toà án ở nước ta còn chậm,
thể hiện ở năng lực của đội ngũ thẩm phán và hội thẩm còn hạn chế, dẫn tới
hậu quả là có không ít bản án, quyết định của Tòa án oan sai hoặc chưa thấu
tình đạt lý, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích của Nhà nước, của xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Hệ thống toà án của
tỉnh Thanh Hóa cũng không nằm ngoài thực trạng chung đó. Điều này đặt ra
yêu cầu cần phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp khắc phục tình hình, trong
đó việc nâng cao năng lực của HTND trong hoạt động xét xử là một trong
những vấn đề rất quan trọng.
Trước bối cảnh trên, là một cán bộ đang làm việc trong hệ thống toà
án của tỉnh Thanh Hóa, học viên quyết định chọn đề tài “Vị trí, vai trò của
Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử - từ thực tiễn TAND tỉnh
Thanh Hóa” để thực hiện luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần tìm
ra các giải pháp nâng cao năng lực của đội ngũ HTND ở quê hương mình

thức, thông tin lớn về đề tài. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho học
viên thực hiện luận văn này. Mặc dù vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu

3


đã nêu đều chưa cập nhật những đổi mới trong pháp luật và thực tiễn về vai
trò của HTND trong hoạt động tố tụng trong thời gian gần đây. Thêm vào đó,
chưa có công trình nào đề cập riêng về thực trạng vị trí, vai trò của HTND
trong hoạt động xét xử ở TAND tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, luận văn này vẫn
cần thiết và có giá trị về lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là phân tích thực trạng vị trí, vai trò của HTND
trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy
định pháp luật về HTND ở nước ta đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nhà
nước pháp quyền và hội nhập quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về vị trí, vai trò của
HTND trong hoạt động xét xử ở nước ta.
- Khảo sát, phân tích thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn
hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa trong khoảng 5 năm trở lại đây,
chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật về HTND ở nước ta đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp
quyền và hội nhập quốc tế từ thực tiễn xét xử của TAND tỉnh Thanh Hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

đến vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND ở
nước ta hiện nay (ở Chương I).
- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,
báo cáo chuyên môn của TAND Tối cao, TAND tỉnh Thanh Hoá và phương
pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong

5


thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa trong khoảng 5 năm trở
lại đây (ở Chương II).
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan
điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND ở nước ta
đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế từ
thực tiễn xét xử của TAND tỉnh Thanh Hoá (ở Chương III).
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về vị trí, vai trò của HTND
trong hoạt động xét xử của TAND được thực hiện ở tỉnh Thanh Hoá từ trước
tới nay. Luận văn cũng là một trong số không nhiều công trình nghiên cứu
chuyên sâu và toàn diện từ thực tiễn cơ sở về chủ đề này đã được thực hiện ở
nước ta. Vì vậy, luận văn cung cấp những kiến thức, thông tin, luận điểm và
đề xuất mới có giá trị tham khảo với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
HTND ở tỉnh Thanh Hoá và hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND ở
nước ta trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo
cho việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành
chính ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác của nước ta.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:

đồng nhân dân, mà còn có thể được thực hiện bởi cơ quan nhà nước khác
(thông qua cơ chế cử)…
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về thẩm phán và hội thẩm
TAND là Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH ngày 04 tháng 10 năm 2002
của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tiếp theo đó, ngày 19/02/2011, Ủy ban
thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 sửa đổi,

7


bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND số 02/2002/PLUBTVQH11. Ngày 18/12/2013, Văn phòng Quốc hội ban hành Văn bản hợp
nhất 22/VBHN-VPQH hợp nhất Pháp lệnh Thẩm phán và HTND. Theo quy
định tại Khoản 2 Điều 1 Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của
Văn phòng Quốc hội thì: “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định
của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa
án”. Trong thực tế, thuật ngữ “Hội thẩm” theo Văn bản số 22/VBHN-VPQH
ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội bao gồm cả “HTND” và “Hội
thẩm quân nhân”, tuy nhiên trong văn bản chưa nêu được đặc điểm riêng biệt
của “HTND” và “Hội thẩm quân nhân”.
Luật Tổ chức TAND năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 đã thay
thế Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 ngày 19/02/2011 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán
và HTND và cả Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của
Văn phòng Quốc hội, theo đó khái niệm HTND cũng được quy định rõ ràng
hơn. Luật Tổ chức TAND năm 2015 quy định:
Chế độ bầu HTND được thực hiện đối với các TAND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh và tương đương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân
được thực hiện đối với các Tòa án quân sự quân khu và tương
đương, các Tòa án quân sự khu vực [25, Điều 7].

pháp. Khi tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, HTND - đại diện của
các giới, các ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong nhân dân – giúp
phản ánh một cách khách quan suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân về
vụ việc. HTND khi tham gia xét xử sẽ đưa những tâm tư, nguyện vọng của
quần chúng nhân dân vào trong mỗi bản án để có được phán quyết vừa đúng
pháp luật, vừa được xã hội đồng tình ủng hộ.
Như vậy, nhìn từ góc độ bản chất Nhà nước, hoạt động xét xử không

9


phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là
hoạt động của cá nhân Thẩm phán mà còn có sự tham gia, giám sát của nhân
dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là HTND. Chế định HTND,
vì vậy, thể hiện bản chất nhà nước là nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong
đó nhân dân làm chủ nhà nước, nắm quyền lực nhà nước, nhân dân được tham
gia vào các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử.
Ở khía cạnh nhân quyền và dân chủ, chế định Hội thẩm là một bảo đảm
để các quyền cơ bản của công dân được tôn trọng khi đại diện của họ được
tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử của
Tòa án, qua đó “đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử của
Tòa án” [6]. Chế định HTND không chỉ giúp nhân dân tham gia có hiệu quả
vào hoạt động xét xử mà còn giúp nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng pháp
luật và đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống. Trong công tác xét xử, muốn
việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của quần
chúng nhân dân thì các thành viên của Hội đồng xét xử không chỉ là người có
trình độ cao về pháp luật mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh
nghiệm xã hội sâu sắc. HTND đáp ứng được yêu cầu đó do họ là những người
làm trong mọi ngành nghề, đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã
hội nghề nghiệp, là những người sống và làm việc tại cơ sở, có uy tín trong xã

góp phần nâng cao tinh thần tự giác, tôn trọng và bảo vệ pháp luật của nhân
dân, lại vừa chịu sự giám sát của nhân dân.
Qua việc trực tiếp tham gia xét xử, HTND cũng sẽ giúp Tòa án thực
hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân. Là
những người trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án, HTND giúp Tòa án
tuyên truyền về kết quả xét xử, phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp luật về việc
giải quyết vụ án, từ đó góp phần vào việc phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật
của công dân vào đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Trong thực tế, với kiến thức, kinh

11


nghiệm khi tham gia xét xử, nhiều HTND còn đóng vai trò tích cực và hiệu
quả vào công tác hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp của công dân tại nơi
họ làm việc, sinh sống. Bằng vai trò cá nhân, nhiều HTND đã và đang đóng
góp có ý nghĩa vào việc giữ gìn “tình làng nghĩa xóm”, ổn định xã hội, phòng
chống tội phạm ở các khu dân cư.
1.2. Pháp luật về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt
động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam từ trước tới nay
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân
dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam
1.2.1.1. Giai đoạn 1945 đến 1975
Cách mạng tháng Tám thành công, 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra một Nhà nước kiểu mới- Nhà
nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam. Trong nhà nước
kiểu mới đó, tòa án- cơ quan thực hiện quyền xét xử - được xác định là “một
cơ quan trọng yếu của chính quyền” [6].
Văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận sự tham gia của nhân dân trong
hoạt động xét xử của Tòa án ở Việt Nam (có tên gọi là Phụ thẩm nhân dân) là

luật tố tụng mà đã sửa đổi cơ bản Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946. Với Sắc
lệnh này, Tòa án sơ cấp được đổi tên thành TAND huyện, Tòa án đệ nhị cấp
được đổi tên thành TAND tỉnh - đã thể hiện sự đổi mới về chất của công tác
tư pháp trong việc hình thành cơ chế mang tính nhân dân, thể hiện bản chất
nhân dân của nhà nước, đó là chế định HTND thay thế chế định Phụ thẩm
nhân dân. Tại Điều 3 Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 quy định: Để xử việc
hình và việc hộ, TAND huyện và TAND tỉnh gồm một Thẩm phán và hai
HTND; Tòa phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba HTND. Như vậy, chế định
HTND đã thay thế chế định Phụ thẩm nhân dân tại Sắc lệnh số 13 ngày
24/01/1946. HTND do HĐND bầu và có quyền xem hồ sơ, có quyền biểu
quyết, được hưởng đặc quyền tài phán như các Thẩm phán. Theo nghĩa đó,

13


HTND có quyền ngang bằng với thẩm phán. Mục tiêu của cuộc cải cách tư
pháp là làm dân chủ hóa bộ máy tư pháp, làm cho Tòa án thực sự là của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Với mục tiêu này, Sắc lệnh quy định khi xét
xử thành phần HTND phải chiếm đa số trong HĐXX. Ngoài ra, HTND trước
đây chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự thì giờ đây tham gia xét xử cả hình
sự và dân sự và có quyền biểu quyết bình đẳng với Thẩm phán, được tham gia
quyết định về mọi vấn đề của vụ án.
Hiến pháp năm 1959 ra đời nhằm đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong
giai đoạn mới là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống
nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1959 đã xác định lại vị trí của TAND trong hệ
thống bộ máy nhà nước. TAND không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ
mà trực tiếp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội - cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất. Đồng thời, Hiến pháp năm 1959 quy định hệ
thống cơ quan xét xử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có: TAND
Tối cao, TAND địa phương (gồm TAND tỉnh và thành phố trực thuộc trung

trong đó bao gồm việc tăng cường tính nhân dân trong hoạt động xét xử của
Tòa án. Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức TAND năm 1981 tiếp tục ghi nhận
một số nguyên tắc thể hiện rõ việc tham gia xét xử của HTND như: HTND
ngang quyền với Thẩm phán (Điều 130 Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức
TAND năm 1981), xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 132 Hiến
pháp 1980 và Điều 7 Luật Tổ chức TAND năm 1981). So với Hiến pháp
1959, Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức TAND năm 1981 đã xác định rõ
chủ thể của hoạt động xét xử là Thẩm phán và HTND.
Tiêu chuẩn lựa chọn HTND ở giai đoạn này khá đơn giản với quy định
là “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có quan
hệ tốt với nhân dân”. Về hình thức bầu chọn HTND ở mỗi cấp khác nhau:
HTND ở mỗi cấp tòa có quy định khác nhau: HTND TAND tối cao do Hội
đồng Nhà nước cử, theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ

15


quốc Việt Nam, HTND TAND địa phương do HĐND cùng cấp bầu theo sự
giới thiệu của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương.
Ở giai đoạn này, những quy định về HTND rõ ràng và chặt chẽ hơn
trong Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND: quyền hạn của HTND được mở rộng
hơn, số lượng HTND tham gia trong từng vụ án, từng cấp xét xử, thể hiện
việc Nhà nước ta đã nhận thức đúng đắn vai trò đại diện cho nhân dân của
HTND trong hoạt động xét xử.
1.2.1.3. Giai đoạn 1989 đến trước Hiến pháp 2013.
Trong giai đoạn này, tòa án có quyền xét xử mọi hành vi vi phạm pháp
luật và mọi tranh chấp phát sinh trong xã hội, từ những vụ án hình sự, dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính và các lĩnh vực
khác theo quy định của pháp luật. Nhiều văn bản quy định về vị trí, vai trò
của HTND trong từng lĩnh vực theo thẩm quyền của Tòa án đã được ban hành

cơ bản để khi tham gia Hội đồng xét xử góp phần đưa ra bản án đúng với quy
định của Hiến pháp và pháp luật.
Quy định HTND phải có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết
và trung thực để bảo đảm HTND không bị lung lay, dao động trước mọi cám
dỗ làm phương hại đến lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân. Quy định
HTND phải có uy tín trong cộng đồng dân cư vì họ là những người sống và
làm việc tại cơ sở, là đại diện cho nhân dân nên khi họ có uy tín trong cộng
đồng dân cư, họ sẽ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật trong nhân dân. Những người trực tiếp tham gia quá trình giải
quyết vụ án, Hội thẩm sẽ là người giúp Tòa án tuyên truyền về kết quả xét
xử, phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp luật về việc giải quyết vụ án, từ đó góp
phần vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật của công
dân vào đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật
trong nhân dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và chú trọng đến công

17


tác hòa giải đối với các mâu thuẫn, tranh chấp của công dân tại nơi Hội thẩm
làm việc và sinh sống. Bằng vai trò cá nhân, HTND đóng góp nhất định
trong việc giữ gìn “tình làng nghĩa xóm”, ổn định xã hội, phòng chống tội
phạm ở các khu dân cư.
Quy định HTND phải có kiến thức pháp luật: Nếu như tiêu chuẩn của
Thẩm phán là phải có trình độ cử nhân luật trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ
xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật (Điều 67 Luật Tổ chức
TAND) thì HTND chỉ cần có kiến thức pháp luật. Có quy định khác nhau như
vậy vì Thẩm phán thể hiện tính chuyên môn, còn Hội thẩm thể hiện tính dân
chủ trong Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, theo nguyên tắc “Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [23] và “TAND xét xử tập thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status