THỬ NGHIỆM HÌNH THỨC TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC
NÂNG C A O NHẬN THỨC VỀ BẢO TỒN ĐA D Ạ N G
SINH H Ọ C C H O C Ộ N G Đ Ổ N G NGƯỜI DÂN TỘC
VÂN KIỀU TẠI XÃ TÀ LONG, HUYỆN ĐAKRÔNG,
TỈNH Q U Ả N G TRỊ
CN. TRẦN MINH PHƯỢNG,
PHAN THỊ MINH NGUYỆT, v ũ THỤC HIÊN
Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và
Moi trường,ĐHQG Hà Nội
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỂ
1. Mỏ đầu
Từ xa xưa, khi con người sinh sống bằng hái lượm và săn bắn, họ
đã biết săn bắn có quy luật . Sự nỗ lực đã ngày càng được phát triển và
biểu hiện thông qua việc thành lập các Vườn quốc gia, các Khu bảo
tồn t hiên nhiên ở hầu hết các nước trên thế giới nhằm bảo vệ thiên
nhiên, ngăn chặn sự phá hủy môi trường do chính con người gây ra.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,
tuy nhiên, quan điểm bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa
vào cộng đồng, có sự tham gia của cộng đồng đang được áp dụng phổ
biến nhất.
Làm thế nào để khuyên khích mọi người thay đổi hành vi, thái độ
khi họ đang thu được những lợi ích t ừ hành vi hiện tại? M ọ i người sẵn
sàng và chỉ thay đổi thái độ, hành vi và l ố i sống khi hiểu được giá trị
và t ầm quan t rọng của bảo t ồn đối với cuộc sống của mình. Chỉ khi
biết được t ác động của mình đối với môi trường và tác động của sự suy
thoái môi trường đến cuộc sống của chính họ, con người sẽ thay đổi
146
hành vi của mìn h, hướn g tới bảo vệ Trái Đất cho các thế hệ tương lai.
vùng đệm của K B T T N Đakrông. Tuy nhiên, đối với cộng đồng là đồng
bào dân tộc th iểu số sống ở nh ững bản sâu, bản xa, thiếu phương tiện
truyền thông và thiếu các điều kiện sinh hoạt tối thiểu khác như điện,
nước sạch, T V , đài, báo... thì công tác tuyên truyền giáo dục còn gặp
rất nhiều khó khăn. Có thể n ói đề tài "Thử nghiệm hình thức tuyên
147
truyền giáo dục năng cao nhận thức bảo tồn đa dạng sinh học cho cộng
đồng người dân tộc Vân Kiêu tại xã Tà Long, huyện Đakrông, tỉnh
Quảng Trị" là mang tính ứng dụng cao trong thời điểm này.
2. Mụ c tiêu
- Thử nghiệm một hình thức tuyên tru yền giáo dục nâng cao nhận
thức về bảo tồn ĐDSH cho cộng đ ồng dân tộc thiểu số Vân Kiều sinh
sống trong vùng đ ệm K B T T N ĐaKrông thiếu phương tiện và điều kiện
truyền thông; sau đó đánh giá, chỉnh sửa và hoàn thiện đ ể á p dụng triển
khai cho đ ồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa thuộc vùng
đệm của cá c Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên khác;
- Thông qua việc thử nghiệm này sẽ nâng cao nhận thức về bảo
tồn ĐDSH, dần hình thành trong cộng đ ồng dân cư là người dân tộc
Vân Kiều sinh sống tại xã Tà Long, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị ý
thức và trách nhiệm bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH của
khu vực và đất nước;
3. Thời gian, đối tượng và địa điểm triển khai
- Thời gian: từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2004.
- Đối tượng: đ ồng bào dân tộc Vân Kiều .
- Địa đ iểm: xã Tà Long, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng T r ị .
PHẦN 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN TRIỂN KHAI
1. Xã Tà Long
năm vẫn phải đối mặt với nạn hạn hán và lũ lụt. Đặc biệt là trận bão
năm 1991 và nạn hạn hán năm 1997 đã gây thiệt hại nặng nề đối với
gia súc, cây cối và mùa màng. Trong nhiều năm qua, Tà Long, A Vào,
Tà Rụt là những xã điểm nóng của huyện ĐaKrông về nạn khai thác
vàng và sa kho áng trái phép. Do thiếu phương tiện và phương pháp
truyền thông, nên đồng bào dân tộc Vân Kiều ở xã Tà Long, huyện
ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị vẫn phải đương đầu với bệnh sốt rét, tiêu
chảy và gia tăng dân số.
Chiến tranh đã đi qua 30 năm, nhưng vẫn còn sót lại trên mảnh đất
Tà Long những nạn nhân của chất độc màu da cam, vẫn còn hàng
ngàn quả bom, mìn nằm dưới lòng đất. Có rất nhiều em học sinh giúp
bố mẹ kiếm tiền bằng cách đi dò phế liệu và đã dò p hải bom, mìn và
thiệt mạng. Những gì còn lại của chiến tranh vẫn đang tiềm ẩn mối đe
dọa hàng ngày tới cuộc sống của đồng bào nơi đây.
2. Dân tộc Vân Kiều
Dân tộc Vân K i ề u còn có tên gọi khác là B Ĩ U , Vân Kiều, Mang
Cong, Trì, Khua thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer với số lượng
149
khoảng 40.000 người cư trú tập trung ở miền núi các tỉnh Quảng Bình,
Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Người BĨU-Vân Kiều sống chủ yếu nhờ
làm rẫy và làm ruộng. Việc hái lượm săn bắn và đánh cá là nguồn
cung cấp thức ăn quan trọng. Đồng bào nuôi gia súc, gia cầm, trước
hết cho các l ễ cúng, rồi sau đó mới là cải thiện bữa ăn. Nghề thủ công
chỉ có đan chiếu lá, gùi... Trung bình mỗi hộ Vân Kiều có khoảng 3-4
tấm rẫy. Những rẫy này được hình thành từ trước khi có chỉ thị cấm
đốt phá rừng làm nương rẫy của Chính phủ. M ỗ i tấm rẫy người dân
thông thường sử dụng trong 2 năm, sau đó lại đốt đi chờ phục hồi đất
trong khoảng 2-3 năm rồi lại tiếp tục sử dụng. Các tấm rẫy cứ được
"Tiếng khèn ai thổi dưới suối nghe xao xuyến. Tiếng khèn Ta khoải ai
thổi em muốn thổi cùng. Anh ơi, anh là trai bản A Pay hay bản Ta
Păng. Em chưa quen mặt nhưng em muốn biết tên anh...". Người con
trai đáp lại: "... Người ta khen đẹp nhất co n gái bản N ạ . Người ta bảo
con gái bản Xà xinh. Anh lại thấy chưa ai sánh được co n gái bản Tà
Pình. Anh nói thật đấy, anh chẳng biết nói dối bao giờ, anh thấy sao
nói vậy, em đừng đỗi hờn...". Hát giao duyên suốt đêm, sáng hôm sau
họ trở về nhà bắt đầu một ngày lao động bình thường. Và đêm sau họ
lại tiếp tục dắt nhau đi "sim". Chàng trai hát xong một câu giao duy ên,
cầm tù và làm bằng sựng trâu đực đen bóng đưa lên mồm thổi, âm
thanh tình y êu xuy ên màn đêm tĩnh lặng của núi rừng rồi vọng lại
nghe hết sức rạo rực.
Người Bru-Vân K i ề u ở nhà sà n nhỏ, phù hợp với quy mô gia đình
thường gồm cha, mẹ và các co n chưa lập gia đình riêng. Nếu ở gần bờ
sông, suối, các nhà trong làng tập trung thành một khu trải dọc theo
dòng chảy . Nếu ở chỗ bằng phang rộng rãi, các ngôi nhà trong làng
xếp thà nh vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng. Ngày
nay làng của đồng bà o ở nhiều nơi đã có xu hướng ở nhà trệt. Tuy
nhiên, nhu cầu sử dụng gỗ để dựng nhà của đồng bào là tương đối cao.
Thông thường, cứ kho ảng 10 năm, người ta lại dựng lại nhà để ở. Để
có gỗ dựng nhà, người dân làm đơn gửi lên U B N D xã xin phép được
vào rừng già lấy gỗ. Số lượng khai thác được U B N D ước tính phù hợp
với diện tích nhà. Đây cũng là một phong tục tập quán gây ảnh hưởng
không tốt tới tài nguy ên đa dạng sinh học của địa phương.
151
Trang phục của người Br u-Vân Kiều tương đối đem giản. V ớ i đặc
điểm áo nữ xẻ ngực màu chàm đen và hàng kim loại bạc tr òn đính ỏ
- Thu băng cassete nội dung bảo vệ r ừng (tr ích từ các văn bản,
152
Nghị định của Chính phủ hay Luật bảo vệ và phát triển rừng), dịch sang
tiếng Vân Kiều và phát trên cá c tuyến quốc lộ 14 và dọc sồng Ba Lòng;
- Tổ chức họp thôn bản để tuyên truyền về bảo vệ rừng;
- Xây dựng 9 Câu lạc bộ Xanh trong 9 trường học và tổ c hức tập
huấn cho giá o viên về ĐDSH và phát động cuộc thi sá ng tá c về ĐDSH
trong học sinh (trong thời gian 6 tháng do SNV tài trợ).
Qua nghiên c ứu c ho thấy, phần lớn cá c hình thức còn bị giới hạn
cả về nội dung, thời lượng, hiệu quả và phạm vi tác động. Các hình
thức này mới chỉ truyền thông tin một chiều đến người dân ở một vài
khía c ạnh c ủa ĐDSH, chưa đảm bảo việc người dân tiếp nhận, xử lý và
có thái độ, hành vi ứng xử như thế nào tới những thông tin đó. Bên
cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền này đều phần nhiều là do cá n bộ
ban quan lý K B T T N ĐaKrông thực hiện, người dân chưa có cơ hội
tham gia và thụ động trong c ác hoạt động đó.
3.2. Từ năm 2003 đến năm 2004
Từ tháng 11 năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Mõi
trường (CRES), Đại học Quốc gia Hà N ộ i , đã tiến hành chương trình
"Tăng cường công tác quản lý và bảo tồn cho KBTTN ĐaKrông và
vùng phụ cận " do Mac Arthur Foundation tài trợ, trong đó có một đề
tài về "Nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH cho cộng đồng dân cư
sống trong vùng đệm KBTTN ĐaKrông " mà theo kế hoạch sẽ kết thúc
vào thá ng 6 năm 2005. Đề tài đã triển khai nhiều hình thức tuyên
truyền giá o dục nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH cho lãnh đạo xã,
giáo viên và học s inh khối trung học cơ sở và c ộng đồng dân cư thuộc
các xã Tà Long, Hóc Nghi, A Bung, Ba Lòng, Triệu Nguyên và Mò ó.
Các hình thức đó là:
đều thuộc diện nghèo, diện hưởng chính sách nên trong nhà không có
tivi, đài...; hơn thế nữa, việc đi lại tới các thôn bản rất khó khăn, phải
vượt đèo, l ộ i suối nên cán bộ xã và kiểm lâm cũng khó tuyên truyền
thường xuyên. Bên cạnh đó, phả i kể đến tính cố hữu của đồng bào dâ n
tộc, lười lao động (đặc biệt là nam giới), sống ỳ lại vào tài nguyên
rừng, chỉ tin vào trời và các thần linh nên các hình thức tuyên truyền
giáo dục của đề tài chưa toàn diện và rộng khắp.
P H Ầ N 3. K Ế T Q U Ả T R I Ể N KHAI C Ủ A Đ Ể TÀI
1. Nội dung và cách thức tuyên truyền
1.1. Nội dung tuyên truyền
Có thể nói, đề tài "Nâng cao nhận thức vê bảo tồn ĐDSH cho
cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm KEĨTN ĐaKrông " là tiền đề
154
cho ý tưởng xây dựng một hình thức tuyên tr uyền giáo dục nâng cao
nhận thức về bảo tồn ĐDSH cho cộng đ ồng dân cư là đồng bào dân tộc
Vân K i ề u tại các thôn bản xa thiếu điều kiện và phương tiện tuyên
truyền ở xã Tà Long, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị.
Qua nghiên cứu, qua các bài học kinh nghiệm từ việc triển khai
một số đề tài tuyên tr uyền giáo dục cho cộng đ ồng ở khu vực ven biển
và miền núi, chúng tôi đã lựa chọn v à khai thác phương pháp giáo dục
"sử dụng phương tiện tr ực quan".
"Phương tiện tr ực quan" chính là những bức ảnh chụp trong các
chuyên công tác thực tế của chúng tôi tại ĐaKrông. N ộ i dung những
bức ảnh này là các hoạt đ ộng, sinh hoạt hàng ngày của người dân nơi
đây như: vào rừng khai thác lâm sản phụ (song, mây...), đ ốt rừng làm
rẫy, đ i rẫy, đặt bẫy thú xung quanh r ẫy, dùng củi đun nấu, xây dựng
ảnh đúng với đáp án và đưa ra được số lượng người trả lời đúng (trên
dưới 10 người so với thực tế) s ẽ nhận được quà tặng;
- Phần 3: Giới thiệu và giải thích nội dung và ý nghĩa của các
câu khâu hiệu; Trò chơi "Câu nào đúng? Câu nào sai?": trong l o câu
khẩu hiệu mà ban tổ chức đã chu ẩn bị, người chơi s ẽ phải chọn ra
những câu khẩu hiệu nào đúng và câu khẩu hiệu nào sai, những người
có đáp án đúng và đưa ra được số lượng người trả lời đúng (trên dưới
10 người so với thực tế) s ẽ nhận được quà tặng;
- Phần 4: Trò chơi "Trồng cây": có nhiều đội tham gia chơi, mỗi
đội 4 người; tro ng thời gian 2 phút, lần lượt từng thành viên tro ng đội,
kẹp bóng vào chân và nhảy Ì qu ãng đường dài kho ảng 7-1 Om, đội nào
trồng được nhiều cây hơn đội đó s ẽ chiến thắng và nhận được quà tặng.
1.2. Cách thức tuyên truyền
Bước Ì: Thông tin, liên lạc và hẹn ngày làm việc với đại diện của
UBND, hội phụ nữ và đoàn thanh niên xã; trao đổi, thảo luận và thống
nhất về thời gian và cá c thôn/bản s ẽ tham gia tuyên truyền;
Bước 2: Thảo luận và đi đến thống nhất với đại diện của U B N D ,
hội phụ nữ, đoàn thanh niên xã, các trưởng thôn, già làng về nội dung
tuyên truyền; U B N D soạn thảo công văn gửi tới trưởng thôn, chi hội
phụ nữ, chi đoàn thanh niên để thông báo với người dân về thời gian,
nội dung, địa điểm và mục đích buổi tuyên truyền;
Bước 3: Cùng với các đại diện của UBND, hội phụ nữ, đoàn thanh
niên xã chuẩn bị các vật dụng tuyên truyền như:
- Phân lo ại và dán ảnh theo 5 chủ đề cho sẵn vào các tờ bìa Ao ,
sau đó dùng nẹp tre để treo;
- Thiết kế và kẻ vẽ trên giấy A o 10 câu khẩu hiệu vói các nội
dung trái ngược nhau như "chặt cây phá rừng trái phép gây lũ lụt, khô
hạn" "khai thác vàng, s a khoáng, s an ủi đất trong rừng không gây ảnh
156
dẫn đến sự thay đổi nhận thức và sự biến đổi ý thức của con người là
một quá t rình t hầm lặng, không xác định thời gian ngắn hay dài.
Sự t hay đổi ý thức của con người về một vấn đề nào đó được biểu
hiện qua các hành động, mà cụ thể là sẽ có thêm các hành động mới,
ứng xử mới hay thay đổi các hành động đã trở nên quen thuộc ở nhiều
mức độ khác nhau. Hình t hức, mức độ biểu hiện của ý thức không chỉ
phụ t huộc vào nhận t hức mà còn phụ t huộc vào điều kiện kinh tế-xã
hội, môi trường văn hóa chính t rị cụ t hể nơi cộng đồng dân cư sinh
sông. Do đó, trong điều kiện kinh tế xã hội ít có sự biến đổi thì sự thay
đổi ý thức của cộng đồng dân cư ít hay nhiều đều thể hiện qu a hiệu
quả của công việc tuyên tru yền giáo dục (TT N C Tài ngu yên và Môi
trường, 2003).
Vì có đến 80% dân số trong xã là mù chữ nên chúng tôi không.tỊjể
sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của
cộng đồng (PRA) thông thường (dùng mẫu phiếu điều tra) để đánh giá
mức độ chuyển biến nhận thức của người dân trước và sau tu yên
truyền. Tu y nhiên, việc sử dụng phương pháp đánh giá định tính,
phỏng vấn sâu, quan sát hành động của từng cá nhân, hay của một
nhóm người trong cộng đồng sẽ cho thấy được sự thay đổi nhận thức,
hành vi, ý thức của họ.
Quá trình nâng cao nhận thức, làm thay đổi ý thức, hay đánh giá
sự thay đ ổ i ý thức của cộng đồng dân cư trong việc bảo t ồn ĐDSH
158
thông qua các hoạt động tu yên tru yền cũng không nằm ngo ài nguyên
lý tác động chung của qu á trình tu yên tru yền giáo dục. Thông qua
những hoạt động cụ thể của các hình thức tu yên tru yền giáo dục đã
cung cấp kiến thức về ĐDSH làm cơ sở thay đổi ý thức của từng cá
nhân, từng nhóm đ ố i tượng, từ đó từng bước hình thành ý thức bảo vệ
- Phần 1: Giới thiệu lý do, mục đích, thời gian và những lợi ích
từ buổi tuyên truyền và làm quen giữa cá n bộ tuyên truyền với người
dân (cho toàn thể cộng đồng);
- Phần 2: Giới thiệu và giải thích nội dung, thời gian, địa điểm chụp
và ý nghĩa các bức ảnh; Trò chơi "Tìm ảnh": người chơi sẽ phải tìm ra 5
bức ảnh đẹp nhất đại diện cho 5 chủ đề; người nào chọn 5 bức ảnh đúng
với đáp án và đưa ra được số lượng người trả lời đúng (trên dưới lo người
so với thực tế) sẽ nhận được quà tặng (cho toàn thể cộng đồng);
- Phần 3: Giới thiệu và giải thích nội dung và ý nghĩa của các câu
khâu hiệu; Trò chơi "Câu nào đúng? Câu nào sai?": trong 10 câu khẩu
hiệu mà ban tổ chức đã chuẩn bị, người chơi sẽ phải chọn ra những câu
khẩu hiệu nào đúng và câu khẩu hiệu nà o sai, những người có đáp án
đúng và đưa ra được số lượng người trả lời đúng (trên dưới 10 người so
với thực tế) sẽ nhận được quà tặng (cho toàn thể cộng đồng);
161
- Phần 4: Trò chơi "Trồng cây": có nhiều đ ộ i tham gia chơi, mỗi
đội 4 người; tron g thời gian 2 phút, lần lượt từn g thành viên tron g đội,
kẹp bóng vào chân và nhảy Ì quãng đườn g dài khoản g 7-10m, đội n ào
trồng được nhiều cây hơn đội đó sẽ chiến thắn g và nhận được quà tặn g
(cho thanh niên và học sinh).
4.2. Cách thức tuyên truyền
Bước Ì: Thông tin, liên lạc và hẹn n gày làm việc với đại diện của
UBND, hội phụ nữ và đoàn thanh niên xã; trao đổi, thảo luận và thốn g
nhất về thời gian và các thổn/bản sẽ tham gia tuyên truyền;
Bước 2: Thảo luận và đi đến thống nhất với đại diện của UBND,
hội phụ nữ, đoàn thanh niên xã, các trưởng thôn, già làng về nội dung
phương, trưởng thôn, già là ng họp tổng kết v à rút kinh nghiệm, cùng
tập dượt và chuẩn bị cho buổi tuyên truyền sau. Tại buổi tuyên truyền
này, cán bộ địa phương sẽ là người trực tiếp thực hiện, cán bộ đề tài có
nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ trong trường hợp cần thiết.
Bước 7: Cán bộ địa phương chủ động tổ chức các buổi tuyên
truyền tại các thôn bản khác trong xã.
5. Kết luận
a. Việc thử nghiệm một hình thức tuyên truyền giáo dục cho đồng
bào dân tộc Vân Kiều sống trong các thôn bản xa, thiếu điều kiện v à
phương tiện truyền thông, mù chữ đã được triển khai lần lượt tại 9
thôn của xã Tà Long, huyện ĐaKrông, tỉnh Qu ảng Trị từ tháng 4 đến
tháng 12 năm 2004;
b. Hình thức tuyên truyền giáo dục này đã góp phần nâng cao
nhận thức, thay đ ổ i ý thức, hà nh vi và thái độ của cộng đồng theo
hướng tích cực đối với tài nguyên ĐDSH. Sự thay đổi này được thể
hiện ở nhiều hành động và suy nghĩ khác nhau trong mỗi cá nhân cũng
như cả cộng đồng;
c. Đây là một hình thức tuyên truyền giáo dục mới, có khả năng
ứng dụng thực tiễn và đạt hiệ u quả cho nhiều nhóm đồng bà o dân tộc
thiểu số sinh sống trong các thôn bản xa, thiếu điều kiện v à phương
tiện truyền thông, mù chữ thuộc vùng đệ m của các Vườn qu ốc gia, các
khu bảo tồn thiên nhiên;
d. Sau 9 lượt triển khai tại xã Tà Long, hình thức tuyên truyền
giáo dục này đã được chỉnh sửa v à hoàn thiện, cần tiếp tục nghiên cứu
tại Ì số địa bàn khác để đánh giá chính xác hiệu quả tuyên truyền của
hình thức.
163