Pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông ở Việt Nam
Tiêu Thị Hà
Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Năm bảo vệ: 2010
Abstract. Trình bày các quan niệm về “lưu vực sông”; “quản lý lưu vực sông”,
“quản lý môi trường lưu vực sông”, “pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông”. Phân tích hiện trạng môi trường nước tại các lưu vực sông và những vấn đề
đặt ra dưới góc độ quản lý và pháp luật. Nghiên cứu thực trạng các quy định của
pháp luật bảo vệ môi trường và pháp luật tài nguyên nước về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông. Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý,
bảo vệ môi trường nước lưu vực sông tại Việt Nam; có sự phân tích, so sánh với các
mô hình quản lý của các nước trên thế giới. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm
xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông.
Keywords. Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Bảo vệ môi trường nước; Lưu vực
sông
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, do địa hình bị chia cắt mạnh và khí hậu
nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều (trung bình khoảng 2600mm/năm) đã tạo nên mạng lưới sông
ngòi, kênh rạch khá phát triển với số lượng 2360 con sông có chiều dài hơn 10km, phần lớn
thuộc loại vừa và nhỏ. Hầu hết các sông suối nói trên tập trung thành các hệ thống sông,
trong đó có 11 hệ thống sông lớn là: lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang,
sông Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai,
sông Cửu Long (MeKong). Trung bình cứ khoảng 15-20 km bờ biển lại có một cửa sông.
Sông MeKong ở miền Nam, sông Hồng ở miền Bắc là những dòng sông vào loại lớn và dài ở
Châu Á và trên thế giới.
vững của toàn vùng. Đồng thời, do những biến động thời tiết toàn cầu, từ những năm cuối
thập kỷ 80 của thế kỷ 20, thiên tai lũ lụt, hạn hán liên tục xảy ra cũng là nguyên nhân làm suy
giảm chất lượng môi trường các lưu vực sông ở nước ta.
Các lưu vực sông thường có điều kiện tự nhiên, môi trường phong phú, đa dạng, có vị
thế đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những
năm qua, ở tất cả các lưu vực sông đã diễn ra quá trình phát triển nhiều ngành kinh tế dựa
trên việc sử dụng nguồn nước của lưu vực như thuỷ điện, giao thông, du lịch, nuôi trồng thuỷ
sản, tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt và sản xuất... Đồng thời, với ưu thế địa lý thuận lợi, lưu vực
cũng là nơi phát triển mạnh mẽ các khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và các làng
nghề. Khi vấn đề bảo vệ môi trường của đất nước đã trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
dân thì sự nghiệp đó cũng sẽ phải tất yếu gắn với các dòng sông như bất cứ lĩnh vực hoạt
động nào ở nước ta.
Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong
nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với
những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các
nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm
các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp và thống nhất tài
nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực sông, tối đa hoá lợi ích kinh
tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ
thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho
con người.
Từ trước tới nay, Việt Nam với lịch sử văn minh lúa nước lâu đời, quản lý lưu vực sông
vẫn dựa trên quan điểm bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên nước phục vụ cho nông nghiệp
(tưới tiêu). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay , vai trò của các hộ dùng nước khác ngoài
nông nghiệp đã tăng lên đáng kể (thuỷ điện, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp, du lịch...), theo
đó công tác quản l ý các lưu vực sông không còn dừng lại ở việc tính toán cân bằng nước,
đảm bảo đủ lượng nước cung cấp cho nông nghiệp mà còn bao hàm cả các lĩnh vực khác như
chất lượng nước, ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước, cấp nước và xả thải cho công nghiệp và
sinh hoạt, kiểm soát các thiên tai, sự cố do biến đổi tự nhiên, khí hậu, cảnh quan sinh thái....
Các nhà quản l ý chưa xác định rõ ràng được mục tiêu bảo vệ môi trường trước mắt cũng như
trên các cơ sở dữ liệu yếu do vậy độ chính xác và tin cậy không cao; (iv) về thực chất, việc
lập kế hoạch quản lý lưu vực sông là công việc rất phức tạp, nhất là khi tính đến những tác
động về môi trường; (v) quá trình lập kế hoạch thường chậm và mất rất nhiều thời gian để nó
có thể thực sự được tiến hành.
Từ tất cả những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông ở Việt Nam” để nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học luật của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông đã và đang được xã hội quan tâm và
ủng hộ. Đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học về vấn đề này nhưng chủ yếu là các nghiên cứu
mang tính khoa học kỹ thuật, ứng dụng thực tế nhằm bảo vệ môi trường nước trong các lưu
vực sông ở Việt Nam. Chẳng hạn, Cục Bảo vệ Môi trường (nay là Tổng cục Môi trường)
thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có một đề tài nghiên cứu khoa học- công nghệ ngành
Tài nguyên và Môi trường giai đoạn từ năm 2002-2006 “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực
tiễn đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường theo lưu vực sông”. Trong đề tài này, nhóm tác
giả đi sâu vào đánh giá hiện trạng môi trường và dự báo xu hướng ô nhiễm môi trường tại
các lưu vực sông ở Việt Nam; đánh giá hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại các lưu vực
sông và; đề xuất các giải pháp quản lý môi trường lưu vực sông. Trên các tạp chí nghiên cứu
cũng đã có những bài viết nghiên cứu đề cập tới vấn đề bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông, chẳng hạn các bài viết của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, “Xây dựng Luật Tài nguyên nước
phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/1998; bài
viết của TS. Nguyễn Quang Tuyến, “Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước ở nước ta- Thực
trạng và một số giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2004.
Ngoài các giáo trình về Luật Môi trường tại các đơn vị đào tạo luật có đề cập bảo vệ
môi trường nước như một nhiệm vụ trong hệ thống công tác bảo vệ môi trường nói chung
theo quy định Luật bảo vệ môi trường năm 2005, thì chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về
pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
định về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông hiện nay với pháp luật có liên quan của các
nước trên tinh thần tiếp thu kinh nghiệm của các nước có xét đến tình hình thực tiễn ở Việt
Nam. Nghiên cứu sử dụng các số liệu thứ cấp và các báo cáo đã được công bố trong những
năm gần đây.
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng như nguyên tắc pháp lý về bảo vệ môi
trường theo lưu vực sông. Dựa trên những phân tích đánh giá các số liệu thống kê tình hình
hiện trạng môi trường cũng như việc nhận định các hạn chế bất cập hiện nay của các quy định
pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông, luận văn đưa ra các kiến nghị góp phần
hoàn thiện các quy định pháp luật thực định. Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo tại
các cơ sở đào tạo luật .
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3
chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông.
References
I. TIẾNG VIỆT
1. Ban tổng hợp Viện chiến lược, chính sách Tài nguyên và môi trường (2009), “Suy
thoái tài nguyên nước lưu vực sông ở Việt Nam”, từ
trang web:
/>2. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 14/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày
22/1/2009 về việc Hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân
sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án bảo vệ môi trường lưu
vực sông theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
16. Trần Đức Hạ, Phạm Tuấn Hùng, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Hữu Hòa (2009), “Bảo
vệ và quản lý tài nguyên nước”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
17. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2005), “Quản lý môi trường cho sự phát triển
bền vững”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.28-34, 190-193.
18. Hoàng Hòe, Nguyễn Xuân Quát, Tô Đình Mai (1994), “Làm gì để bảo vệ môi
trường”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.
19. Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam (2008), “Hiện trạng môi trường lưu
vực sông Cầu”, từ trang web:
/>20. Lê Văn Hợp (2007), “Quản lý tài nguyên nước của Cộng hòa Pháp”, từ trang web:
/>21. Nguyễn Đức Khiển (2009), “Quản lý môi trường đô thị”, Viện Môi trường đô thị và
công nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
22. Hà Văn Khối (2005), “Giáo trình quy hoạch và quản lý nguồn nước”, NXb Nông
Nghiệp, Hà Nội.
23. Nguyễn Khoa Lạnh (2009), “Giáo trình Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên
nhiên”, NXB Đại học Huế, Huế.
24. Nguyễn Ngọc Linh, Trương Mạnh Tiến (2001), “Khuôn khổ chính sách bảo vệ môi
trường của Việt Nam giai đoạn 2001-2010”, NXB Thế giới, Hà Nội.
25. Đào Bảo Ngọc (2004), “Vài nét về pháp luật môi trường”, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 3, tr. 42-54.
26. Phạm Hữu Nghị (1998), “Xây dựng Luật Tài nguyên nước phù hợp với hoàn cảnh
mới của đất nước”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, tr.21-24.
27. Phạm Hữu Nghị (2005),”Vấn đề quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong dự
thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi)”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2, tr.2023.
28. Phạm Hữu Nghị (2006), “Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật bảo vệ môi trường”,
Tạp chí Bảo vệ môi trường, số 4.
29. Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Đức Hạ (2004), “Chất lượng nước sông hồ và bảo vệ
môi trường nước”, NXB Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
30. Nguyễn Ty Niên (2007), “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Đồng
Nai- Một yêu cầu cấp bách”, trích Tham luận tại Đối thoại suy thoái tài nguyên
thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu.
41. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 174/2006/QĐ-TTg ngày 28/7/2006 phê
duyệt Đề án Tổng thể bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu.
42. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 187/2007/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12
năm 2007 về phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
đến năm 2020.
43. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 157/QĐ-TTg ngày 01/12/2008 về việc
thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.
44. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1404/QĐ-TTg ngày 31/08/2009 về việc
thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ- sông Đáy.
45. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm
2008 về phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
đến năm 2020.
46. Ngô Trọng Thuận, Vũ Văn Tuấn (2009), “ Nước và con người”, NXB Bản Đồ, Hà
Nội, tr. 262.
47. Nguyễn Ngọc Trân (2009), “Dòng sông và phát triển lãnh thổ”, Bản tin Đại học
Quốc gia Hà Nội.
48. Ngô Đình Tuấn (2010), “Bảo vệ và khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên
nước Việt Nam- Vấn đề cấp thiết trong tình hình mới”, từ trang web:
/>49. Hoàng Dương Tùng (chủ nhiệm) (2002-2006), “Nghiên cứu, xây dựng hệ thống
thông tin phục vụ quản lý môi trường lưu vực sông”, Đề tài nghiên cứu khoa họccông nghệ ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2002-2006, Cục Bảo vệ môi
trường.
50. Nguyễn Quang Tuyến (2004), “Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước ở nước taThực trạng và một số giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11,
tr.65-70.
51. Ủy ban Quốc gia về Chương trình Thủy văn Quốc tế (VNC-IHP) (2007), “Sổ tay
phổ biến kiến thức Tài nguyên nước Việt Nam”.
52. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy
lợi sửa đổi.
53. Phùng Văn Vui (chủ nhiệm) (2002- 2006), “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực
tiễn đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường theo lưu vực sông”, Đề tài nghiên cứu