Quản lý nhà nước đối với hàng gia công xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công Cục Hải quan Tp.HCM (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ NGỌC DIỆP

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HÀNG HÓA
GIA CÔNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC
HẢI QUAN QUẢN LÝ HÀNG GIA CÔNG – CỤC
HẢI QUAN TP HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ:

60 34 04 03

TS. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thày, Cô giáo thuộc khoa Quản lý nhà
nước về kinh tế, khoa Đào tạo sau đại học – Học viện Hành Chính Quốc Gia
đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

4.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................ 6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ................................ 7
5.1. Phương pháp luận .............................................................................................. 7
5.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
6. Ý nghia thực tiễn của luận văn ................................................................................ 8
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA GIA CÔNG XUẤT NHẬP KHẨU ................................................................ 9
1.1. Lý luận chung về hàng hóa gia công xuất nhập khẩu. .................................... 9
1.1.1. Khái niệm về hàng hóa xuất nhập khẩu ......................................................... 9
1.1.2. Khái niệm về hàng hóa gia công XNK ........................................................ 10
1.1.3. Các loại hàng hóa gia công xuất nhập khẩu................................................. 13
1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công xuất nhập khẩu ..... 15
1.2.1 Sự cần thiết khách quan quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công xuất
nhập khẩu ................................................................................................... 15
1.2.2 Những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công
XNK ........................................................................................................... 23
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công XNK ................... 26


1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công XNK ở một số Chi
cục hải quan trong nước và bài học rút ra cho Chi cục HQQLH Gia công – Cục
HQ TP Hồ Chí Minh ............................................................................................... 31
1.3.1. Kinh nghiệm Chi cục Thống Nhất – Đồng Nai .......................................... 31
1.3.2. Kinh nghiệm Chi cục Gia công – Hà Nội ................................................... 32
1.3.3. Bài học rút ra cho Chi cục Gia công – TP.HCM ........................................ 33
Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HÀNG HÓA
GIA CÔNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN GIA CÔNG CỤC HẢI QUAN TP. HỒ CHÍ MINH ................................................................. 35
2.1. Tổng quan về Chi cục hải quan gia công và những nhân tố tác động ........ 35

3.2.4. Tăng cường quản lý thuế .............................................................................. 85
3.2.5. Đẩy mạnh kiểm tra chống buôn lậu và gian lận thương mại, xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực hải quan ................................................................ 87
Tiểu kết chương 3...................................................................................................... 89
3.3. Kiến nghị ........................................................................................................... 89
3.3.1. Với Bộ Tài Chính .......................................................................................... 89
3.3.2. Với Ngành Hải quan ..................................................................................... 89
3.3.3. Với Cục HQ TP Hồ Chí Minh ...................................................................... 90
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 91
Danh mục tài liệu tham khảo .................................................................................... 93


DANH MỤC CÁC TỪ VIỆT TẮT:

CBCC

Cán bộ công chức

DN

Doanh nghiệp

GC

Gia công

HQ

Hải quan



TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Hoạt động thương mại quốc tế nói nôm na là trao đổi hàng hóa – tiền tệ đã có
từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển văn minh của
xã hội loài người. Như vậy là con người đã sớm tìm thấy lợi ích của thương mại quốc
tế. Thực tế cho thấy những lợi nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác
sự chênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước. Thương mại quốc tế không chỉ tạo
ra các khả năng mở rộng tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành
yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các
nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới.
Ngày nay khi cầm trên tay một sản phẩm tiêu dùng hàng ngày: ví dụ từ sản
phẩm đơn giản là quần áo hay đôi giày hiệu Nike; phức tạp hơn là một chiếc điện
thoại hiệu Samsung hay Iphones chúng ta có thể thấy đây là những sản phẩm hoàn
chỉnh được tập hợp từ nhiều sản phẩm thành phẩm của các nhà máy ở nhiều quốc gia
khác nhau: da bò được sản xuất ở Trung Quốc, đế giày và công may sản xuất tại Việt
Nam, hay board mạch điện thoại thì sản xuất tại Hàn Quốc, các phụ kiện nhựa và lắp
ráp tại Việt nam. Đây chính là những sản phẩm hàng hóa của các công ty hay tập
đoàn đa quốc gia lớn (thường thuộc các nước phát triển) thuê sản xuất gia công tại
nước thứ ba (thường là các nước đang phát triển có nguồn lao động rẻ hơn) nhằm
giảm bớt chi phí trong giá thành tăng sức cạnh trạnh của hàng hóa. Đây là hình thức
gia công thương mại quốc tế.
Nền kinh tế của nước ta từ khi mở cửa và theo định hướng thị trường có sự quản
lý của nhà nước thì sự giao thương buôn bán xuất nhập khẩu phát triển rất mạnh mẽ.
Hoạt động ngoại thương phát triển cần có sự quản lý của Nhà nước. Việc quản lý nhà
nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới được Nhà nước giao cho
cơ quan hải quan đảm trách. Cơ quan hải quan có trách nhiệm làm thủ tục cho hàng
hóa xuất nhập khẩu qua biên giới, thu thuế nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại
Luật Hải quan do Quốc hội ban hành. Việc quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất
nhập khẩu do cơ quan hải quan thực thi gọi là quản lý nhà nước về hải quan đối với

công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài cũng là hình thức để các doanh nghiệp
trong nước học hỏi công nghệ sản xuất của nước ngoài một cách hữu hiệu nhất. Do
đó, loại hình hàng hóa này thuộc đối tượng mà Nhà nước ưu tiên, là đối tượng được
miễn thuế xuất nhập khẩu nên rất dễ bị các cá nhân tổ chức lợi dụng nhằm trốn thuế
gây thất thu cho ngân sách nhà nước và gây bất bình đẳng trong kinh doanh tiêu dùng.


3

Đặc biệt sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, nền kinh tế thế giới hồi
phục do đó khối lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua mỗi Quốc gia đã tăng lên
nhanh chóng, ngày càng phát triển đa dạng và phong phú nhưng cũng tiềm ẩn nhiều
nguy cơ rủi ro về buôn lậu, gian lận thương mại, nguy cơ khủng bố quốc tế, tội phạm
ma tuý gia tăng...v..v. Do vậy, đòi hỏi quản lý nhà nước phải đẩy mạnh cải cách thủ
tục hành chính và áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại nhằm tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động XNK hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài,
thúc đẩy kinh tế phát triển.
Vấn đề tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công XNK
làm sao để đạt hiệu quả vừa thông thoáng, tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp
sản xuất đồng thời chống thất thu ngân sách thông qua việc nhập khẩu núp bóng là
hàng gia công là vấn đề thời sự, cấp thiết; trong đó cơ quan Hải quan đóng vai trò
trọng yếu và có tính quyết định.
Do nhiệm vụ được cơ quan phân công liên quan đến việc quản lý nhà nước đối
với hàng hóa gia công XNK, nên tác giả có cơ hội nghiên cứu toàn cảnh sự việc, tìm
hiểu, tiếp cận nguồn thông tin; hiểu được những khó khăn vướng mắc còn tồn tại
trong thực tế hoạt động nghiệp vụ quản lý khi áp dụng các chính sách và pháp luật
của Nhà nước đối với hàng gia công XNK.
Tác giả chọn nghiên cứu đề tài “ Quản lý nhà nước đối với hàng gia công
xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan gia công – cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh”
vì nhận thấy tính thời sự, cấp thiết và hữu ích của đề tài, có thể phục vụ tốt hơn cho

Đề tài “ Hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động
gia công xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay” năm 2009 của tác giả Nguyễn Quang Hùng
trong đó tác giả đã đề cập đến một số khía cạnh lý luận về hoàn thiện hệ thống pháp
luật, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý hải quan
đối với hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu nhưng chưa nêu được cách thức quản
lý của hải quan, diễn biến phức tạp của loại hình gia công, lợi dụng sơ hở của chính
sách để trốn thuế.
Đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước đối với hàng may mặc gia công xuất
khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Tiến Dũng. Đề tài này tác
giả chỉ tập trung vào nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với hàng hóa may
mặc gia công tại địa bàn thành phố Hà Nội, nêu những bất cập trong quản lý hàng gia
công may mặc và đưa ra một số biện pháp cải thiện những bất cập đó.


5

Qua thực tế tìm hiểu, tác giả nhận thấy từ khi luật hải quan sửa đổi cho đến
nay về phương thức quản lý nhà nước về hải quan đã có sự thay đổi lớn, từ góc độ
quản lý của hải quan, khi cơ quan hải quan là cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện
quyền lực nhà nước thì trong Luật mới hiện nay đã nâng cao vai trò trách nhiệm của
đối tượng quản lý nhà nước đó là doanh nghiệp. Tại thời điểm hiện nay doanh nghiệp
đã trở thành đối tác của cơ quan hải quan, cùng nhau phát triển. Cơ quan hải quan
thực hiện thu ngân sách nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả tạo lợi nhuận
cao, góp phần “vừa ích nước, vừa lợi nhà”. Vấn đề này đã được triển khai tại các văn
bản trao đổi trong nội bộ ngành Hải quan - là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh
vực trên, và tại một số cuộc họp báo, hội nghị doanh nghiệp thường niên của Tổng
cục Hải quan, Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, và các cục hải quan địa phương,
trên cơ sở một số đề tài nghiên cứu tham khảo đã nêu ở trên.
Một số các bài báo được đăng trên website của Tổng cục Hải quan, các bài
báo đăng trên tạp chí Tài chính Việt nam bàn về một số vấn đề bất cập khi thực hiện

(1)

Nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động QLNN

về HQ đối với hàng hóa gia công XNK để làm rõ được những bất cập giữa quy định
của Nhà nước và tình hình áp dụng quy định trong thực tế công tác quản lý nhà nước
ở Chi cục HQ QLH Gia công – Cục HQ TPHCM. Đồng thời có sự so sánh học hỏi
thêm kinh nghiệm quản lý của các Cục Hải quan khác trong nước nhằm rút ra kinh
nghiệm áp dụng phù hợp với hoàn cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
(2)

Chỉ ra được những kẽ hở trong quy định pháp luật của nhà nước đối với công

tác quản lý hàng gia công XNK từ đó đề xuất biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn việc
doanh nghiệp lợi dụng những khe hở trong chính sách nhằm trốn thuế và thu lợi bất
chính.
(3)

Đánh giá những thành tựu và những vướng mắc trong công tác quản lý NN

đối với hàng gia công XNK tại chi cục HQ QLH Gia công - TPHCM, từ đó đề xuất
giải pháp khắc phục nhược điểm, nâng cao hiệu quả quản lý tại Chi cục.
(4)

Đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn tức thời hành vi gây thất

thu ngân sách nhà nước và kiến nghị chính sách nhằm tăng cường hiệu quả QLNN
về HQ đối với hàng hóa XNK gia công nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

đại chúng.
5.2.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: nghiên cứu các dữ liệu, thu tập và tổng
hợp qua các văn bản pháp quy, các báo cáo định kỳ của chi cục, hồ sơ vi phạm về hải
quan tại chi cục.
Việc xử lý, tính toán số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu, vẽ đồ thị minh họa...
được tiến hành trên máy tính qua các phần mềm Excel, Word.
5.2.3. Phương pháp phân tích
- Dùng phương pháp phân tích thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu
theo các tiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu.


8

- Trên cơ sở các tài liệu đã được xử lý, tổng hợp và vận dụng các phương pháp
phân tích thống kê để đánh giá thực trạng. Từ đó có thể rút ra được bản chất của các
sự việc hiện tượng xảy ra trong quá trình quản lý.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn giúp Chi cục hải quan QLH Gia công tổng hợp nhiều vướng mắc
liên quan trong quá trình hoạt động thực tế khi triển khai luật hải quan và các văn bản
quy phạm pháp luật về hải quan thấy được những kẻ hở trong quá trình quản lý để từ
đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực hiệu quả trong quá trình quản lý NN
của Chi cục hải quan QLH Gia công.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công xuất
nhập khẩu.
- Chương 2: Thực trạng QLNN đối với hàng hóa gia công xuất nhập khẩu tại
Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công - Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh
- Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước đối với hàng gia công

Hiểu theo nghĩa chung nhất thì hàng hóa xuất nhập khẩu là sản phẩm trao đổi
trong hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia nghĩa là hàng hóa
phải có sự dịch chuyển qua biên giới các nước. Kinh doanh là hoạt động thực hiện
một hoặc một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện một số
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận. Vì vậy hoạt động kinh doanh xuất


10

nhập khẩu là việc bỏ vốn vào thực hiện các hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa
các quốc gia nhằm mục đích thu được lợi nhuận. Đây chính là mối quan hệ xã hội nó
phản ánh sự không thể tách rời các quốc gia. Cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật,
chuyên môn hoá ngày càng tăng, cùng với sự đòi hỏi về chất lượng sản phẩm và dịch
vụ của khách hàng ngày càng đa dạng và phong phú thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các quốc gia ngày càng tăng.
Một thực tế cho thấy nhu cầu con người không ngừng tăng lên và nguồn lực
quốc gia là có hạn. Do đó trao đổi mua bán quốc tế là biện pháp tốt nhất và có hiệu
quả. Quan hệ quốc tế này nó ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Để
tận dụng có hiệu quả nguồn lực của mình vào phát triển kinh tế đất nước.
Xuất nhập khẩu hàng hóa là một hoạt động thương mại không thể thiếu đối
với mỗi quốc gia. Kinh doanh xuất nhập khẩu chính là hình thức trao đổi hàng hoá,
dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán, tiền tệ sẽ được dùng làm cơ sở
thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước
thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).
Xuất nhập khẩu hàng hóa được xem là hình thức thể hiện mối quan hệ xã hội
và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá
riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay, xuất nhập khẩu hàng hóa
là hoạt động rất cần thiết để giúp hàng hóa lưu thông, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
các nước, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đồng thời góp phần thúc đẩy

người đặt gia công sẽ cung cấp nguyên phụ liệu (NPL), có khi cả máy móc thiết bị
(MMTB), bán thành phẩm (BTP) và nhận lại sản phẩm hoàn chỉnh. Một bên là người
nhận gia công tự tổ chức quá trình sản xuất, làm ra sản phẩm hoàn chỉnh theo mẫu
cuả khách hàng đặt sau đó giao toàn bộ cho người đặt gia công và nhận thù lao cho
quá trình sản xuất đó (phí gia công).
Về cơ sở pháp lý: Căn cứ theo các định nghĩa tại Luật Thương mại, Luật Hải quan
như sau
Hàng hóa: theo điều 3 của Luật Thương mại 2005 là tất cả các loại động sản,
kể cả động sản hình thành trong tương lai;
Hàng hóa XNK theo định nghĩa tại Luật hải quan 2014: bao gồm động sản có
tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt nam được xuất
khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan.


12

Theo điều 3 Luật Thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Vậy gia công hàng hóa
cũng là một loại hoạt động thương mại. Theo Điều 178 Luật Thương mại 2005: “ Gia
công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng
một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một
hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để
hưởng thù lao”
Ta có thể tóm lược trong sơ đồ như sau:

Gia công hàng hoá là phương thức tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng và mẫu
cuả người đặt gia công. Người nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất theo mẫu và
bán những sản phẩm làm ra cho người đặt gia công hoặc người nào đó mà người đặt
gia công chỉ định theo giá cả hai bên thoả thuận.

gian sản xuất chế tạo sẽ mua lại thành phaẩm. Trong trường hợp này, quyền sở hữu
nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Hình thức này có lợi
cho bên đặt gia công vì khi giao nguyên liệu gia công dễ gặp phải rủi ro mất mát do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan ( hỏa hoạn, tai nạn, mất mát..); không bị đọng
vốn. Vấn đề thanh toán tiền nguyên liệu, mặc dù bên nhận gia công phải thanh toán
nhưng nguyên liệu chưa hẳn thuộc quyền sở hưu hoàn toàn của họ vì khi tính tiền sản
phẩm thì bên nhận gia công sẽ tính phần lãi suất cho số tiền đã thanh toán cho bên
đặt gia công khi mua nguyên liệu của họ. Trường hợp này thường áp dụng với đối tác
mới, chưa có sự tin tưởng nhiều giữa hai bên.


14

Hình thức kết hợp: Trong đó bên đặt gia công chỉ giao nguyên liệu chính, còn
bên nhận gia công sẽ cung cấp những nguyên liệu phụ. Đây là hình thức thường được
áp dụng cho hai bên có sự tin tưởng với nhau. Bên nhận gia công được toàn quyền
cung cấp nguyên liệu phụ giúp họ chủ động về thời gian trong sản xuất, đồng thời tạo
điều kiện cho họ có thể tự tìm được nguồn nguyên liệu giá rẻ hơn, thêm nhiều cơ hội
tạo lợi nhuận hơn. Một số hợp đồng lớn sản xuất về điện tử, đóng tàu còn là cơ hội
cho bên nhận gia công đầu tư vào sản xuất trở thành nguồn cung ứng nguyên liệu cho
chính hợp đồng gia công.
1.1.3.2. Theo mức độ cung cấp nguyên liệu, phụ liệu:
Bên gia công nhận toàn bộ nguyên phụ liệu, bán thành phẩm: trong trường
hợp này bên đặt gia công cung cấp 100% nguyên phụ liệu. Trong mỗi lô hàng đều có
bảng định mức nguyên phụ liệu chi tiết cho từng loại sản phẩm mà hai bên đã thoả
thuận và đuợc các cấp quản lý xét duyệt. Người nhận gia công chỉ có việc tổ chức sản
xuất theo đúng mẫu của khách và giao lại sản phẩm cho khách hàng đặt gia công hay
giao cho người thứ ba theo sự chỉ định của bên đặt gia công.
Bên gia công chỉ nhận nguyên liệu chính theo định mức và phụ liệu thì tự khai
thác theo đúng yêu cầu cuả khách. Nguyên phụ liệu phụ bên nhận gia công có thể chủ


1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công xuất nhập khẩu.
1.2.1. Sự cần thiết khách quan quản lý nhà nước đối với hàng hóa gia công
xuất nhập khẩu.
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được
sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động
của con người.
Quản lý nhà nước đối với hàng gia công xuất nhập khẩu là sự tác động của
các chủ thể mang quyền lực nhà nước (ở đây là cơ quan hải quan) chủ yếu bằng pháp
luật đến các đối tượng quản lý (là hàng hóa được xuất nhập khẩu nhằm mục đích thực
hiện hợp đồng gia công) nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Ở đây ta gọi là quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng gia công XNK.
Khi nước ta bắt đầu đổi mới nền kinh tế từ năm 1986, đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng
hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế để tạo ra
nhiều sản phẩm phục vụ cho đời sống của nhân dân. Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo
phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân
chủ. Đảng cộng sản lãnh đạo với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Đảng ta với chủ trương dân có giàu thì nước mới mạnh, sự đổi
mới kịp thời đó đã là cú đột phá giúp nền kinh tế nước ta từ từ vươn lên. Sau năm
1989 nước ta từ một nước thiếu gạo đã vươn lên là nước đứng thứ 3 trên thế giới về
xuất khẩu gạo. Điều này cho thấy cơ chế QLNN đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong mọi mặt của đời sống xã hội. Xã hội, đất nước phát triển hay không là nhờ vào
sự sáng suốt và tài lãnh đạo của các nhà quản lý.
Đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế đối ngoại, thì quản lý nhà nước về
kinh tế đối ngoại cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế
đất nước để trở thành công cụ hữu hiệu giúp nhà nước quản lý phát triển nền kinh tế
theo đúng định hướng của Đảng mà không gây khó khăn cản trở các doanh nghiệp


Chính vì thế cho đến nay qua mấy chục năm phát triển hình thức gia công hàng
hóa loại hình này vẫn được Nhà nước ưu đãi không phải chịu thuế nhập khẩu đối với
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nhập khẩu phục vụ cho hợp đồng gia công. Đây


17

chính là một ưu đãi vô cùng to lớn mà các doanh nghiệp thường lợi dụng ưu đãi nhập
hàng về mang danh nghĩa là gia công nhưng thực chất là để kinh doanh, bán nội địa.
Cơ quan hải quan đã có những bài học kinh nghiệm to lớn khi một số doanh nghiệp
núp bóng cơ chế quản lý ưu đãi cho doanh nghiệp gia công của Nhà nước để buôn
lậu, làm lũng đoạn thị trường trong nước, gây mất cân bằng trong sản xuất hàng hóa
trong nước và thất thu thuế trầm trọng. Việc có một cơ chế quản lý nhà nước đối với
hàng XNK gia công là một yêu cầu cấp bách để Nhà nước không thất thu ngân sách,
các doanh nghiệp sản xuất gia công được hoạt động ở một môi trường cạnh tranh bình
đẳng trong hoạt động kinh doanh sản xuất của mình.
Ta có thể nhận ra quản lý nhà nước đối với hàng gia công XNK thực chất là
áp dụng trong thực tiễn khoa học quản lý nhà nước. Đối tượng quản lý ở đây là hàng
hóa XNK gia công, doanh nghiệp thực hiện gia công, chủ thể quản lý là cơ quan hải
quan. Chủ thể và đối tượng hoạt động trong môi trường dựa trên cơ sở là pháp luật
của nhà nước, mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, mục tiêu cơ quan hải quan là
quản lý tốt đối tượng của mình hoàn thành nhiệm vụ đã được giao, nhưng cả chủ thể
và đối tượng quản lý đều tổng hòa trong mục đích của Nhà nước là hướng đến xã hội
công bằng, dân giàu, nước mạnh.
Do đó nó có đầy đủ các đặc điểm chung về quản lý nhà nước đồng thời nó có
một số đặc điểm riêng đối với đặc thù của đối tượng quản lý mà ở đây là hàng hóa
gia công xuất nhập khẩu. Quản lý nhà nước đối với hàng gia công xuất nhập khẩu
được nghiên cứu như là một đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý. Thực tế khi
ta nghiên cứu đối tượng để quản lý, không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở
thích của cơ quan hải quan mà phải dựa vào các nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn,

động, thúc đẩy sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần tăng khả
năng cạnh tranh công bằng của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, mặt khác
phải đảm bảo nguồn thu ngân sách, chống buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu
quả.
Theo điều 73 Luật hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014 quy định nội
dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm các nội dung sau:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển Hải quan Việt Nam;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hải
quan;
3. Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật hải quan;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status