BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
QUẢNG QUỐC HUY
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ,
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
QUẢNG QUỐC HUY
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TTATXH
Trật tự an toàn xã hội
TTXH
Trật tự xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
Lời cam đoan..........................................................................................................i
Lời cảm ơn............................................................................................................ii
Danh mục các từ viết tắt………...........................................................................iii
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn......................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài........................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.............................................................6
7. Cấu trúc của luận văn.......................................................................................6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU
TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY.......................................7
2.1. Tình hình tội phạm ma túy ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên
Giang…………………………………………………………………...……....30
2.2. Hiện trạng quản lý Nhà nƣớc về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma
túy tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.................................................34
2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm
ma
túy
ở
thành
phố
Rạch
Giá,
tỉnh
Kiên
Giang.............................................................................................................34
2.2.2. Ban hành văn bản quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội
phạm ma túy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền......................................37
2.2.3. Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang…………40
2.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng công chức quản lý nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy..................................................................................45
trong quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma
túy………………………………………………………………………70
3.3.2. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế quản lý.................................71
3.3.3. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức........................73
3.3.4. Đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục...............................................76
3.3.5. Nhân rộng mô hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người sau
cai nghiện......................................................................................................83
3.3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về đấu tranh
phòng, chống tội phạm ma túy......................................................................87
KẾT LUẬN........................................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................91
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định của đất nước, đấu tranh
làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch và các
loại tội phạm khác; giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc những thành
quả cách mạng, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới là một nhiệm vụ trọng yếu
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Do vậy, Quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là
một hoạt động quan trọng, được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Chúng ta
biết rằng, lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt giữ vai trò hết sức
quan trọng trong việc Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thực tế những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo về nghiệp vụ
của lực lượng Công an các cấp, cán bộ, chiến sĩ Công an thành phố Rạch Giá đã
làm tốt công tác quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa
bàn thành phố: Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội
chính về trật tự xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 tập trung vào việc
phân tích các đặc điểm trong hoạt động của lực lượng Công an nói chung và lực
lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nói riêng, qua đó
xác định các kỹ năng mà người chiến sĩ Cảnh sát làm nhiệm vụ duy trì, bảo vệ
trật tự xã hội cần có như giao tiếp công vụ, giải quyết xung đột, xử lý vi phạm
hành chính,...và phương pháp rèn luyện các kỹ năng này để thực hiện tốt hơn
công vụ của mình.
- Trần Viết Long và tập thể tác giả Học viện Cảnh sát nhân dân trong tác
phẩm "Quản lý Nhà nước về an ninh trật tự". (Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
2007) đã đề cập tới những vấn đề lý luận chung về quản lý an ninh, trật tự và các
nội dung quan trọng quản lý an ninh, trật tự; xác định vai trò của lực lượng công
an nhân dân là nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn
xã hội trong mối liên hệ với các tổ chức khác. Các tác giả cũng đã phần nào chỉ
ra những đặc điểm của bối cảnh hiện nay có ảnh hưởng tới an ninh chính trị và
trật tự, an toàn xã hội và đề xuất được một số phương hướng chủ yếu để bảo
đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội hiện nay.
2
- Vũ Văn Hiền (Chủ biên) với nghiên cứu “Một số lý luận cơ bản về hoạt
động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính” (Học viện Cảnh sát
nhân dân, Hà Nội, 2003) đã đề cập tới cơ sở lý luận về công tác an ninh, trật tự
xã hội và vai trò của lực lượng Công an nhân dân, nhất là lực lượng Cảnh sát
quản lý hành chính trong việc duy trì, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an
toàn xã hội. Tác phẩm cũng đề cập tới những kỹ năng cần thiết của lực lượng
Cảnh sát quản lý hành chính trong quá trình thực hiện hoạt động nghiệp vụ quản
lý an ninh trật tự.
- Nguyễn Xuân Yêm: "Một số vấn đề quản lý Nhà nước về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội" (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 1998):
trong tác phẩm này tác giả đã đề cập tương đối cụ thể về khung lý luận về quản
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy;
- Đánh giá thực trạng Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội
phạm ma túy tại thành phố Rạch Giá. Rút ra những ưu điểm, hạn chế, xác định
rõ nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót đang đặt ra đối với
công tác này trên địa bàn thành phố Rạch Giá.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý
Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố
Rạch Giá.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Lĩnh vực Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm là rất
rộng, vì vậy tác giả luận văn xin được giới hạn trong phạm vi, khuôn khổ Quản
lý Nhà nước về phòng chống tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Rạch Giá.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2016.
- Không gian: Địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
4
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
5.2. Các phương pháp khác
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để nghiên cứu các công
trình khoa học đã được công bố, sách, giáo trình liên quan đến Quản lý Nhà
nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thu thập những tài liệu, báo cáo tổng
kết và khảo sát thực tế về tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm và công tác
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài giúp tác giả củng cố thêm hệ thống lý luận
nghiệp vụ quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, nâng
cao trình độ lý luận và khả năng ứng dụng vào thực tiễn công tác, đáp ứng được
yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong thời kỳ mới.
Kết quả nghiên cứu của đề tài của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
cho công tác giảng day, học tập của giảng viên và sinh viên Học viện Hành
chính Quốc gia; giúp cho cán bộ chiến sỹ Công an tỉnh Kiên Giang nói chung và
Công an thành phố Rạch Giá nói riêng rút ra được những kinh nghiệm trong khi
thực hiện nhiệm vụ trên địa bàn mình quản lý, trên cơ sở đó có những giải pháp
phù hợp để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống
tội phạm ma túy ở địa phương. Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo hữu
ích cho những người nghiên cứu về lĩnh vực này.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội
dung được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống
tội phạm ma túy.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội
phạm ma túy tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Chương 3. Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU TRANH
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY
1.1. Tội phạm ma túy và đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy
1.1.1. Tội phạm ma túy
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống ma túy năm 2000
(sửa đổi, bổ sung năm 2008), thì:
a) Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành;
b) Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng;
c) Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng;
d) Tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,
sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành;
đ) Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được
quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này;
e) Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây
côca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định.
Là tội phạm, nên tội phạm về ma tuý cũng có những đặc điểm chung như
các tội phạm khác bao gồm: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật, tính
có lỗi và tính chịu hình phạt. Tuy nhiên, đối với tội phạm về ma tuý có những
đặc điểm riêng mà các tội phạm khác không có. Đó là tính nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm về ma tuý cao hơn so với các tội phạm khác được quy định trong
Bộ luật hình sự (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia). Cũng chính do đặc
điểm này, mà trong thực tiễn xét xử thời gian qua, luôn áp dụng hình phạt
nghiêm khắc đối với người phạm các tội về ma tuý. Đối với các vụ án mua bán,
vận chuyển chất ma tuý với quy mô lớn, thường được người phạm tội tổ chức rất
chặt chẽ thành những đường dây xuyên quốc gia, thậm chí từ nước ngoài vào
Việt Nam nhưng lại không được tổ chức như các vụ án có tổ chức khác, không
có người cầm đầu, chỉ huy mọi hoạt động của các đồng phạm khác, có vụ có rất
đông người tham gia vào đường dây vận chuyển, mua bán ma tuý nhưng thông
8
chất ma túy.
9
Bộ Luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội
phạm ma túy bao gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có
chứa chất ma tuý (đ. 192), tội sản xuất trái phép chất ma túy (đ.193), tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (đ.194), tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái
phép chất ma túy (đ.195), tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các
phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy
(đ.196), tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (đ. 197), tội chứa chấp việc sử
dụng trái phép chất ma tuý (đ. 198), tội sử dụng trái phép chất ma tuý (đ. 199),
tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (đ.200), tội vi
phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác
(đ.201)
1.1.2. Đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy
Trong xã hội, nếu thừa nhận tội phạm là hiện tượng tiêu cực của xã hội thì
cuộc đấu tranh chống tội phạm được coi là một điều tất yếu khách quan không
thể thiếu được của mọi chế độ xã hội. Cho nên trong bất kỳ Nhà nước nào cũng
đều phải tiến hành đấu tranh phòng, chống tội phạm. Phòng, chống tội phạm có
hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm là bằng mọi biện pháp ngăn chặn không
để cho tội phạm xảy ra; không để một thành viên của xã hội phải chịu hình phạt
của pháp luật; xã hội không phải gánh chịu hậu quả của tội phạm; các cơ quan
bảo vệ pháp luật không phải tốn kém những khoản chi phí cho việc điều tra,
khám phá, xử lý người phạm tội và điều quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống
bình thường cho mọi công dân trong xã hội, để từ đó làm cơ sở cho mọi công
dân có thể cống hiến sức lực của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển xã
hội.
(Công an, Viện Kiểm sát, Toà án) tiến hành nhằm mục đích phát hiện, ngăn
chặn và loại trừ những nguyên nhân và điều kiện tội phạm. Thuộc về các biện
pháp này, trước tiên là sự hạn chế và loại trừ các nguyên nhân điều kiện tạo điều
kiện cho tội phạm xảy ra, các biện pháp cưỡng bức mang tính chất giáo dục, lên
án hành vi của kẻ phạm tội trước, tập thể, công tác vận động nhân dân của cán
bộ Công an, Viện Kiểm sát, Toà án.
11
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cần được tiến hành một cách tổng
thể, liên tục và hợp lý. Việc đấu tranh đúng lúc và có hiệu quả có thể loại trừ
hoàn toàn tội phạm ở các xí nghiệp, cơ quan và ngoài xã hội.
Đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy rất phức tạp, đầy khó khăn do:
Thứ nhất, tội phạm ma túy đa dạng và phức tạp. Các tội về ma túy quy
định trong BLHS đều xảy ra trong thực tế, nhưng phần lớn là các tội như: Mua
bán trái phép chất ma túy; tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy; Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy. Tội phạm xảy ra ở hầu khắp các tỉnh, thành phố
trong cả nước, không phân biệt người già, thanh thiếu niên, không phân biệt
nam nữ, không phân biệt người dân tộc đa số hay thiểu số. Chẳng hạn, tội trồng
cây có chứa chất ma túy. Người phạm tội này không nhiều, nhưng khó xóa bỏ
được triệt để, nhất là cây thuốc phiện ở các vùng núi cao nơi đồng bào dân tộc ít
người sinh sống. Cứ xóa bỏ chỗ này, người dân lại trồng chỗ khác. Về quy mô
không lớn, chủ yếu trồng rải rác trên sườn núi cao. Cây cần sa người dân lén lút
trồng xem kẽ với các loại cây trồng khác nên rất khó kiểm soát.
Thứ hai, tội phạm có tính chất quốc tế. Đối với các vụ án mua bán, vận
chuyển chất ma tuý với quy mô lớn, thường được người phạm tội tổ chức rất
chặt chẽ thành những đường dây xuyên quốc gia, từ nước ngoài vào Việt Nam
nhưng lại không được tổ chức như các vụ án có tổ chức khác, không có người
cầm đầu, chỉ huy mọi hoạt động của các đồng phạm khác. Tội mua bán trái
nghiệp,...trong đó nhà nước giữ vai trò quan trọng. Nhà nước là trung tâm của hệ
thống chính trị, là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, bảo đảm trật tự xã
hội và thúc đẩy xã hội phát triển.
Quản lý Nhà nước là một dạng của quản lý xã hội nhưng là dạng quản lý
xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà
nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi
quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội,
có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Trong hoạt động quản lý xã
hội, có rất nhiều chủ thể tham gia: Đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp...trong đó Nhà nước giữ vai trò quan
trọng. Quản lý Nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà
nước thực thi quyền lực nhà nước.
13
Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì trật tự và đảm bảo sự phát triển của xã hội theo một định hướng thống
nhất [1, tr.27].
Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy là hoạt
động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội
do Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật, để thi hành pháp
luật nhằm thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phòng,
chống tội phạm ma túy. Quản lý Nhà nước về phòng, chống tội phạm ma túy là
một nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý Nhà nước về trật tự an toàn xã hội.
Quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, như đã
phân tích, là một bộ phận trong quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, vì vậy,
mục đích của công tác này cũng phải được định hướng và nhằm góp phần thực
hiện mục đích chung. Theo đó, mục đích cuối cùng của quản lý Nhà nước về
phạm ma túy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đảm bảo an ninh quốc gia,
giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đất nước.
1.2.2. Mục đích, nguyên tắc quản lý Nhà nước về đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy
1.2.2.1. Mục đích
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, vì vậy, Nghị
quyết của Đảng là định hướng cho việc xác định mục đích công tác Quản lý Nhà
nước trên mọi lĩnh vực trong giai đoạn hiện nay, trong đó có quản lý Nhà nước
về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng.
Cụ thể, trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống, công tác quản lý Nhà
nước về đấu tranh phòng, chống ma túy hiện nay có mục đích như sau:
Về chính trị: Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự
vững chắc của chế độ chính trị XHCN và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà
nước đối với lĩnh vực đấu tranh phòng, chống ma túy;
Về kinh tế - xã hội: Đảm bảo sự ổn định và phát triển các thành phần kinh
tế - xã hội theo định hướng XHCN, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với
những hoạt động tội phạm và những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế.
15
Về tư tưởng văn hóa: Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cùng những giá trị trong truyền thống và bản sắc dân tộc, phát hiện kịp
thời và có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động tội
phạm, tệ nạn xã hội và những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này.
Về đối ngoại: Góp phần tích cực trong thực hiện chính sách đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng
hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, tôn trọng độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng, cùng có lợi của Đảng, củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam trên