Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………../………….

BỘ NỘI VỤ
…../….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ HỒNG NHO

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

______

______

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ HỒNG NHO

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
tài liệu được sử dụng trong Luận văn này là trung thực, khách quan. Dựa trên cơ
sở kết quả thu thập thông tin, tài liệu thực tế, các tài liệu đã được công bố.
NG

I VI T C M ĐO N

Lê Thị Hồng Nho


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài luận văn..............................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.......................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ..............................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ......................................................6
7. Kết cấu của luận văn.......................................................................................7
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BÌNH
ĐẲNG GIỚI............................................................................................8

1.1. Những khái niệm cơ bản............................................................................8
1.1.1 Khái niệm giới.....................................................................................8
1.1.2. Bình đẳng giới....................................................................................9
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới ...............................12
1.1.4. Đặc điểm quản lý nhà nước bình đẳng giới......................................14
1.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về bình đẳng giới .............................15
1.2.1. Nhà nước định hướng hoạt động bình đẳng giới .............................15
1.2.2. Nhà nước hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới ........................................16

2.2.2. Tổ chức bộ máy và sắp xếp nguồn nhân lực thực
hiện bình đẳng giới của tỉnh........................................................... 51
2.2.3. Tổ chức triển khai, phổ biến các văn bản pháp luật
về bình đẳng giới.............................................................................55
2.2.4. Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại tố cáo...............................59


2.2.5. Về công tác thống kê, thông tin, báo cáo kết quả tổ
chức thực hiện công tác bình đẳng giới............................................62
2.2.6. Công tác phối hợp các ngành, các cấp thực hiện bình
đẳng giới...........................................................................................64
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới
tại tỉnh Kiên Giang ..................................................................................67
2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân ......................................67
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân................................................................ 70
Tiểu kết chương 2............................................................................................74
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2018 – 2025.................................75
3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng
giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang............................................................75
3.1.1. Bình đẳng giới phát triển kinh tế - xã hội .......................................75
3.1.2. Xử lý vi phạm bình đẳng giới.........................................................78
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.................................................................80
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và ban
hành văn bản chỉ đạo thực hiện......................................................80
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và tăng cường nguồn lực
cho quản lý nhà nước về bình đẳng giới ........................................83
3.2.3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp

phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nước ta.
Phát huy những giá trị tư tưởng của Bác, trong văn kiện qua các kỳ đại
hội Đảng đều nhất quán quan điểm về bình đảng giới. Đặc biệt trong văn kiện
Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời
sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật
pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai
trò của mình; tăng tỉ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà
nước. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực,
1


buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” và quyền bình đẳng giới
cũng được Hiến pháp 2013 quy định “công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt.
Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”.
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề phân biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng
giới vẫn còn diễn ra trong nhiều lĩnh vực, là rào cản lớn đối với phụ nữ, kìm
hãm sự phát triển của họ trên nhiều lĩnh vực đời sống. Phần lớn phụ nữ vẫn còn
chịu nhiều thiệt thòi cả trong gia đình và xã hội, khoảng cách về giới giữa nam
và nữ vẫn chưa xóa được… do tàn dư của thời phong kiến đã ăn sâu trong tiềm
thức của người Việt, nhận thấy được ảnh hưởng của bình đẳng giới nên trong
những năm gần đây Đảng, Nhà nước tăng cường sự quan tâm trong công tác
lãnh đạo, quản lý về bình đẳng giới và đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy
nhiên, nhìn một cách tổng thể thì vấn đề về quản lý nhà nước về bình đẳng giới
còn nhiều mặt vẫn chưa được thực hiện tốt như: Hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực này chưa có sự đồng bộ; thiếu cán bộ chuyên
trách, cán bộ thiếu kiêm nhiệm; kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu, những quy định
về nội dung lẫn chế tài chưa đủ mạnh để đảm bảo bình đẳng giới, nhiều cơ
quan, đơn vị hay trong cộng đồng dân cư vấn đề bình đẳng giới chưa được hiểu
và thực hiện đúng quan điểm của Đảng; việc ban hành và tổ chức thực hiện
chính sách, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới của địa phương và cụ thể

Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: Lê Ngọc Hùng: “Xã hội
học về giới và phát triển”, Nxb Quốc gia Hà Nội, năm 2000; Lương Phan Cừ:
“Bình đẳng giới - hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất
bản năm 2004; TS Đỗ Thị Thạch “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia năm
2005; TS Hoàng Mai “Bình đẳng giới trong quản lý cán bộ công chức” đề cập
việc đánh giá bình đẳng giới trong quản lý cán bộ công chức ở Việt Nam; Ths
3


Nguyễn Thị Nguyệt, đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động
ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” tập trung nghiên cứu các vấn
đề sau: Xu hướng của bất bình đẳng trong thu nhập hiện nay; Các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ bất bình đẳng trong thu nhập đồng thời phân tích các chỉ tiêu
theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế để đưa ra được
gợi ý giải pháp phù hợp; Nguyễn Thị Hồng Linh, đề tài “Quản lý nhà nước về
bình đẳng giới – thực trạng tại thành phố Cần Thơ” nghiên cứu thực trạng việc
quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại thành phố Cần Thơ và đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn thành phố;
Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước: Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ đối với
việc tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Nguyễn Thị Liên. Luận văn phân tích
làm sáng tỏ vị thế, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong quản lý nhà nước;
chỉ ra những mặt mạnh hà hạn chế của phụ nữ trong quản lý nhà nước, phân tích
nguyên nhân, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thúc đẩy phụ nữ tham gia quản lý nhà nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Báo cáo phát
triển giới năm 2012, chuyên đề bình đẳng giới và phát triển của Ngân hàng Thế
giới: đánh giá tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển, những
khu vực trên thế giới tiến bộ nhất và chậm tiến bộ nhất về bình đẳng giới.

Phạm vi về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối

5


chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về giới và bình đẳng
giới.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu các báo cáo, tài
liệu, số liệu của các cơ quan quản lý, cơ quan Đảng và tổ chức chính trị - xã hội
để làm rõ vấn đề.
- Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo, tài liệu, số liệu có liên
quan đến bình đẳng giới và quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh.
- Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý số liệu thống kê: trên cơ sở số
liệu thu nhập được, xử lý số liệu và lấy số liệu thống kê một cách khoa học.
- Phương pháp tổng hợp: thu thu thập và tổng hợp các tài liệu, số liệu có
liên quan của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Phương pháp so sánh: dựa trên cơ sở số liệu về kết quả thực hiện bình
đẳng giới qua các giai đoạn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, tác giả đã tiến hành so
sánh với các chỉ tiêu đề ra của tỉnh và của cả nước để đánh giá kết quả thực hiện
qua các giai đoạn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề về giới,
lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Phân tích đánh giá thực trạng quản
lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, chỉ ra những kết
quả đạt được và nguyên nhân hạn chế.

nhiều quan niệm về giới khác biệt giữa các nền văn hóa và các khu vực khác
nhau, ví dụ: có quan niệm xã hội cho rằng con trai không được khóc, không
được chơi búp bê, con gái không được leo trèo; hay nam giới phải làm trụ cột
trong gia đình, phụ nữ thì phải tề gia nội trợ; chăm sóc con cái…
Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “giới chỉ đặc điểm vị trí, vai trò
của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [36, tr.1]; còn “giới tính chỉ
các đặc điểm sinh học của nam và nữ” [36, tr.1].
- Giới tính là chỉ sự khác biệt phổ biến về mặt sinh học giữa nam giới và
phụ nữ. Đó là những đặc điểm riêng và có được hình thành tự nhiên từ khi con
người sinh ra và rất khó thay đổi, ví dụ: nữ ở mọi nơi trên thế giới, ở thành thị
hay nông thôn đều giống nhau ở chức năng mang thai, sinh con và chỉ có họ
mới có khả năng sinh con và mang thai, ngược lại chỉ có nam giới mới có khả
năng tạo ra tinh trùng.
Cần phân biệt sự khác nhau giữa “giới” và “giới tính”. Giới tính đề cập
đến những đặc trưng khác nhau giữa nam giới và phụ nữ về mặt y - sinh học và
chức năng tái sản xuất nòi giống. Trong khi đó giới là chỉ sự khác biệt giữa phụ
nữ và nam giới trong quan hệ xã hội. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể nói “bình đẳng
8


giới” chứ không có “bình đẳng giới tính”. Vì giới là những vai trò, vị trí mà xã
hội quy định nên có thể đòi hỏi bình đẳng, còn giới tính là do tự nhiên sinh ra,
không thể thay đổi theo không gian và thời gian nên không thể đòi hỏi hay đấu
tranh để nam giới có cấu tạo giống như nữ hay ngược lại, nữ phải có cấu tạo
giống nam.
Theo nhận thức học viên, giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối
quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và
trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Giới còn là
thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên
quan đến nam và nữ. Là một phạm trù xã hội, giới cũng giống như chủng tộc,

như nhau để phát huy năng lực, không đặt nam và nữ vào những công việc như
nhau là thể hiện bình đẳng giới.
Thứ hai, nam giới và nữ giới có điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy
năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng và gia đình. Nam hay nữ
đều được tạo điều kiện và cung cấp cơ hội để phát huy năng lực bản thân,
nhưng phát huy như thế nào, phát huy đến đâu là tùy vào năng lực của mỗi
người, không nhất thiết nam giới làm lãnh đạo thì nữ giới cũng phải làm lãnh
đạo tương đương.
Thứ ba, nam và nữ được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát
triển của cộng đồng và gia đình.
Bình đẳng giới thật sự có ý nghĩa khi nó mang lại cơ hội như nhau cho
mọi người lựa chọn và thể hiện năng lực của mình đúng như họ mong muốn.
Bình đẳng giới không có nghĩa nam giới và nữ giới phải trở thành như nhau,
nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ sẽ không phụ thuộc họ sinh
ra là nam giới hay phụ nữ, ví dụ: Bộ Luật lao động quy định “Mọi người đều có
10


quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề và nâng cao
trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử” [39, tr.2] về giới tính.
- Định kiến giới: khác biệt giới là do con người tạo nên. Mỗi xã hội, con
người có những suy nghĩ, quan niệm và những mong đợi khác nhau đối với phụ
nữ và nam giới. Những suy nghĩ, quan niệm và mong đợi này thường thiên lệch,
cố hữu, lặp đi lặp lại nhiều lần và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
qua quá trình xã hội hóa mà hình thành, nó là định kiến giới. Nó còn là suy nghĩ
của xã hội về loại hoạt động hoặc các đặc điểm được gán cho là của phụ nữ hay
nam giới.
Theo Luật bình đẳng giới “định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh
giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ”
[36, tr.1], và “phân biệt đối xử là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc

cho cả nam giới và nữ giới một cách công bằng.
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
Quản lý: Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tùy
thuộc vào góc độ nghiên cứu của từng lĩnh vực mà có các khái niệm về quản lý
khác nhau. Nhìn chung, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên
phương diện điều hành dựa trên cơ sở nguyên tắc đã được định sẵn nhằm đạt
được mục đích, mục tiêu của quản lý.
Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ
vào những quy luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy
vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ
trước. Nó là yếu tố thiết yếu quan trọng, vì vậy quản lý không thể thiếu trong
đời sống xã hội, xã hội càng phát triển cao thì vai trò quản lý càng lớn và nội
dung càng phức tạp.
12


Vậy quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của
chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý, theo đúng mong muốn
của người quản lý.
Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của nhà
nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là hoạt động quản lý xã hội. Quản lý
nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng là được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà
nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành, được đặc trưng bởi các yếu tố có
tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở để thi hành pháp luật, được bảo đảm
thực hiện bởi hệ thống các cơ quan nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong
trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước).
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan
trọng của con người. Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình
thức quản lý khác là tính quyền lực nhà nước gắn với cưỡng chế nhà nước khi

xây dựng xã hội công bằng, văn minh.
1.1.4. Đặc điểm quản lý nhà nƣớc bình đẳng giới
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một dạng quản lý đặc biệt trên
nhiều phương diện, các nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới bao gồm
nhiều nhiều lĩnh vực phải thực hiện cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà
nước,… so với quản lý nhà nước về bình đẳng giới về giáo dục hay quản lý nhà
nước về y tế là quản lý chuyên ngành trên một lĩnh vực, với quản lý nhà nước
về bình đẳng giới thì phải thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
1.2.1. Nhà nƣớc định hƣớng hoạt động bình đẳng giới
14


Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được
chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội. Từ trước đến nay,
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm thực hiện vấn đề bình đẳng nam nữ. Điều
này đã được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của nhà nước
như: Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27/4/2007 về công tác
phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước; năm 2006
Nhà nước đã ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu xoá bỏ sự phân
biệt đối xử về giới. Trong hoạt động bình đẳng giới được nhà nước định hướng
cụ thể bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: quyền và nghĩa vụ nam và nữ
là như nhau thông qua các hoạt động tuyển dụng, nhân sự, chính sách; tuổi dự
tuyển công chức đối với cả nam và nữ hiện nay là như nhau; quy chế bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo,
tuổi bổ nhiệm lần đầu cho các vị trí lãnh đạo từ cấp trưởng, phó phòng cấp
huyện và tương đương trở lên cho cả nam và nữ đều như nhau. Điều kiện, tiêu
chuẩn đăng ký dự tuyển cán bộ, công chức do nhà nước ban hành không cho
phép phân biệt giới tính trong tuyển dụng. Chính sách tiền lương và các chế độ
phụ cấp chi trả không phân biệt công chức nam và công chức nữ. Trong lĩnh

Nam năm 1992, quan điểm này lại được khẳng định tại Điều 63: “Công dân nữ
và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và
gia đình” từ đó, những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới nói trên đã được cụ
thể hoá bằng các chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước. Đặc biệt, trong giai
đoạn đổi mới và hội nhập, công tác xây dựng pháp luật dựa trên nguyên tắc tiếp
cận về quyền và bình đẳng giới được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan
nhà nước rất quan tâm. Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết
các văn bản pháp luật, đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền
bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã
hội, như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã
16


hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân
sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân
dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, Pháp lệnh cán bộ, công chức,… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông
tư hướng dẫn của các Bộ, ngành. Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình đẳng
giới, Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù;
lồng ghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược
toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về
giảm nghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế
cộng đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều
kiện đảm bảo cho viêc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất; thành lập
Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lược quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2020 v.v.... Đặc biệt, ngày 29 tháng 11
năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI thông qua và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status