Quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp của cục quản lý đăng ký kinh doanh bộ kế hoạch và đầu tư đối với khối doanh nghiệp khu vực tư nhân 1 - Pdf 41

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
----------

CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
CỦA CỤC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH, BỘ KẾ
HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI KHỐI DOANH NGHIỆP
KHU VỰC TƯ NHÂN
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
Mã sinh viên

: GS.TS Ngô Thắng Lợi
: Phạm Thị Hoài Thương
: Kế hoạch 54B
: 11123928

Hà Nội: 5 - 2016


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin.cam đoan : Chuyên.đề này là công trình.nghiên cứu thực sự.của cá

Tôi xin.chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Phạm Thị Hoài Thương


4


5

MỤC LỤC
KÊT LUẬN …………………………………………………………………55


6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSDL

ĐKDN
KH&ĐT
NĐ-CP
QĐ-BKH
QĐ-CP
QL ĐKKKD
TT-BKHĐT
TT-BTC

Tình hình đăng ký doanh nghiệp từ 01/7/2015 đến 15/12/2015
So sánh tình hình đăng ký doanh nghiêp 12 tháng 2014 và 2015
Công văn của Cục đã ban hành hoặc trình Bộ ban hành
So sánh tương quan xu hướng tăng/giảm số lượng doanh nghiệp
thành lập mới, thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và số
lượng cán bộ ĐKKD
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục QL ĐKKD


8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) là thủ tục hành chính đầu tiên mà doanh

nghiệp phải thực hiện và cũng là khâu đầu tiên của quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp, là một công cụ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, một bộ
phận của quản lý nhà nước. Việc ĐKDN thể hiện sự bảo hộ của nhà nước bằng
pháp luật đối với hoạt động kinh doanh và quản lý chủ doanh nghiệp. Đại hội
lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi,
bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến
lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp sử dụng lực lượng vật chất của
Nhà nước để định hướng phát triển kinh tế xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực
của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra,
kiểm soát, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật…”
quán triệt chủ trương này, công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong
những năm qua đã đánh dấu nhiều cải cách to lớn, đặc biệt là trong việc tạo
dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế ra đời và hoạt động. Đặc biệt, Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực

chọn đề tài :“ Quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp của Cục Quản lý đăng ký
kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với khối doanh nghiệp khu vực tư nhân“
2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của chuyên đề là nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công
tác quản lý nhà nước về ĐKDN đối với khối doanh nghiệp tư nhân của Cục Quản
lý đăng ký kinh doanh ( Cục QL ĐKKD )
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên chuyên đề tập trung nghiên cứu những
mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến công tác quản lý Nhà nước của Cục
QL ĐKKD về ĐKDN đối với khối doanh nghiệp khu vực tư nhân.
- Phân tích thực trạng và nêu ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
của công tác quản lý của Cục QL ĐKKD về việc ĐKDN. Từ đó rút ra được những
đánh giá tổng quát về công tác quản lý nhà nước về ĐKDN đối với khối doanh
nghiệp khu vực tư nhân của Cục QL ĐKKD
- Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về
ĐKDN của Cục QL ĐKKD đối với khối doanh nghiệp khu vực tư nhân
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về ĐKDN của Cục QL ĐKKD đối với khối

doanh nghiệp khu vực tư nhân
b. Phạm vi nghiên cứu :
- Về nội dung : Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với việc ĐKDN của
khối doanh nghiệp khu vực tư nhân dựa trên các văn bản về việc thành lập doanh

9


10



10


11

CHƯƠNG 1:
KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP CỦA CỤC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH, BỘ KẾ HOẠCH VÀ
ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI KHỐI DOANH NGHIỆP KHU VỰC TƯ NHÂN
1.1.

Khái niệm, nội dung và vai trò của đăng ký doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp
Theo khoản 16 điều 4 tại Luật doanh nghiệp 2014 thì kinh doanh là hình
thức hoạt động buôn bán, môi giới, thương mại.. nhưng dù dưới bất cứ hình thức
nào cũng đòi hỏi sự an toàn, tính độc quyền, tính pháp luật và những quyền lợi
trong ĐKDN. Vì thế tất cả tổ chức, cá nhân khi thành lập doanh nghiệp đều phải
đăng ký dù kinh doanh lớn hay nhỏ hay bất cứ hình thức nào.
Ngoài ra, để hiểu được ĐKDN, cần hiểu khái niệm cơ bản của “đăng ký”
trong các quan hệ hành chính. Theo sự diễn giải dựa trên kinh nghiệm thực tiễn
thì “đăng ký” là công việc của cơ quan nhà nước đứng ra thực hiện việc ghi nhận
hoặc xác nhận về một hoạt động, một sự việc, một tài sản… nhằm đảm bảo quyền
lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký cũng như của tổ chức, cá nhân đứng ra
đăng ký
Vì vậy, ĐKDN là một thủ tục pháp lý cần thiết, trong đó doanh nghiệp thực
hiện đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ghi nhận sự ra đời của
doanh nghiệp và xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp trong thị trường.
Khi một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cũng chính là đang thực hiện

-

Người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền gửi hồ sơ ĐKDN theo

-

quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 cho Cơ quan đăng ký kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ ĐKDN
và cấp Giấy chứng nhận ĐKDN trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
hồ sơ. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận ĐKDN thì phải thông báo bằng
văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và
các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ
Đối với doanh nghiệp khu vực tư nhân, theo điều 20 Luật doanh nghiệp 2014 thì

-

Hồ sơ ĐKDN của doanh nghiệp tư nhân gồm:
Giấy đề nghị ĐKDN
Bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng
thực cá nhân hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp tư nhân
1.1.3. Vai trò của việc đăng ký doanh nghiệp
1.1.3.1. Đối với quản lý nhà nước
ĐKDN là một công cụ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, là một bộ
phận của quản lý nhà nước. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp thể hiện sự bảo
hộ của nhà nước bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói
chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng.
12


13

khai thác thông tin về doanh nghiệp đó.
Khi đăng ký thành lập, doanh nghiệp được phép mở tài khoản tại ngân
hàng mang tên doanh nghiệp thì sẽ rất dễ dàng để giao dịch . Không chỉ vậy, khi
đăng ký thành lập thì có nghĩa doanh nghiệp đó đã tuân thủ các quy định của
pháp luật chính là cơ sở tạo niềm tin cho đối tác, người tiêu dùng

13


14

1.1.3.3. Đối với xã hội
ĐKDN còn nhằm công khai hóa các hoạt động doanh nghiệp trước công
chúng. Xã hội có được thông tin và các đảm bảo về tư cách pháp lý của doanh
nghiệp.
ĐKDN góp phần minh bạch hóa xã hội
Các thông tin về doanh nghiệp sẽ được cập nhật đầy đủ trên hệ thống
TTĐKDNQG và bất cứ ai cũng có thể truy cập vào hệ thống để tìm hiểu và thu
thập thông tin
Góp phần nâng cao giám sát xã hội
ĐKDN giúp công chúng có thể dễ dàng có được thông tin về doanh nghiệp,
thông qua đó thúc đẩy những bên có liên quan kiểm soát lẫn nhau khi thiết lập
và thực hiện giao dịch. Nâng cao độ chính xác và trung thực của các thông tin
được đăng ký ,góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng giám sát và quản
lý đối với doanh nghiệp
1.1.3.4. Đối với nền kinh tế
Khi ĐKDN, thì nó sẽ trở thành một thành phần kinh tế ,là một thành viên
trong cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp dẽ góp
phần tác động vào sự phát triển của nền kinh tế
Nói tóm lại, ĐKDN vừa là một nhu cầu tất yếu vừa là một đòi hỏi mang tính

Chủ trì hoặc tham gia xây dựng, soạn thảo cơ chế, chính sách
và các văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh
trình cấp có thẩm quyền ban hành

Được sự phân công của lãnh đạo Bộ, Cục QL ĐKKD đã chủ trì xây dựng các văn
bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn về ĐKDN một cách minh bạch, đơn
giản giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có thể dễ dàng tìm hiểu và có hiểu
biết đầy đủ nhất về ĐKDN. Bên cạnh chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp
luật như Nghị Định , Thông Tư ... Cục QL ĐKKD đã phối hợp với các đơn vị chủ trì,
tham gia tích cực, đóng góp có hiệu quả trong quá trình xây dựng một số dự thảo
Nghị Định, Thông tư trong khuôn khổ chính sách pháp luật quy định về lĩnh vực
doanh nghiệp và đầu tư
1.2.1.2.

Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn
bản hướng dẫn, chỉ đạo về quy trình chuyên môn, nghiệp vụ,
biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác đăng ký kinh
doanh đối với các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, cấp
huyện

Cục QL ĐKKD chủ trương tập trung tăng cường công tác chỉ đạo hướng dẫn
và thực hiện nghiệp vụ để nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc trong quá
trình thực hiện ĐKDN tại địa phương; tham mưu, đề xuất các phương án giải
quyết một số vướng mắc trong đăng ký kinh doanh của các tổ chức tín dụng
nước ngoài; vấn đề đặt tên cho các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, Tổng công
ty trong tập đoàn, vấn đề tên gọi của các đơn vị phụ thuộc, vấn đề thay đổi cổ
đông sáng lập công ty cổ phần, v.v...; hướng dẫn xử lý việc chống trùng tên doanh
nghiệp trong phạm vi toàn quốc. Cụ thể là Cục QL ĐKKD đã soạn thảo và ban
hành công văn trình Lãnh đạo Bộ; gửi các Bộ, ngành, Sở Kế hoạch & Đầu tư các
địa phương, các cá nhân, tổ chức; các đơn vị trong Bộ

Phát hành ấn phẩm thông tin về ĐKDN, giải thể, phá sản doanh nghiệp và
các trường hợp vi phạm của doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc.
1.2.1.5.

Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán Bộ thuộc lĩnh vực
phụ trách của Cục
a, Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ ĐKKD
Nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ ĐKKD để phục vụ
tốt hơn cho công tác hỗ trợ doanh nghiệp, giúp các cán bộ làm công tác đăng ký
kinh doanh địa phương có thể khai thác hiệu quả các chức năng của Hệ thống
TTĐKDNQG, Cục QL ĐKKD thực hiện công tác đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn

16


17

nghiệp vụ được triển khai trên phạm vi toàn quốc bằng cách tổ chức các chương
trình hội thảo, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ
b, Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giúp các cán bộ có thể
khai thác hiệu quả các chức năng của Hệ thống TTĐKDNQG
Để tạo điều kiện cho cán bộ đăng ký kinh doanh nâng cao hiểu biết, trau dồi
năng lực, các kỹ năng cần thiết trong công việc, Cục QL ĐKKD tổ chức các Khóa
đào tạo nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp, trong đó, tập trung đào tạo kỹ
năng phục vụ người dân và doanh nghiệp cho các cán bộ làm nghiệp vụ đăng ký
kinh doanh. Thông qua khóa đào tạo, cán bộ đăng ký kinh doanh sẽ được bổ sung
thêm các kỹ năng cần thiết để tự tìm ra các phương thức xử lý tình huống hiệu quả
trong giải quyết các vướng mắc khi thực hiện các thủ tục hành chính cho doanh
nghiệp
1.2.1.6.

vụ ban hành văn bản, quy định hướng dẫn về ĐKDN, đây là cơ sở cho việc tổ chức
thực hiện ĐKDN thống nhất trên toàn quốc. Thực tiễn cho thấy, hệ thống khung
khổ về pháp luật doanh nghiệp bao gồm các luật, nghị định, thông tư và các
quyết định quy định về ĐKDN không phải bao giờ cũng bao quát được các vấn đề
phát sinh liên quan đến doanh nghiệp trong thực tế. Việc giải quyết các vấn đề,
tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể để áp dụng luật và các văn bản có liên
quan, tuy nhiên, cũng có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, do đó, cần phải có văn bản
hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước chuyên môn về ĐKDN.
 Do vậy, việc ban hành văn bản và các quy định hướng dẫn về ĐKDN của cơ quan
quản lý nhà nước về ĐKDN là một yếu tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà
nước về ĐKDN. Yếu tố này đòi hỏi phải có tính chính xác và tính kịp thời, nếu một
vấn đề phát sinh liên quan đến ĐKDN không được hướng dẫn giải quyết chính
xác thì nó có thể sẽ gây ra những tác động tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường kinh doanh. Ngoài ra, nếu vấn đề mang tính chất cấp bách mà không


được giải quyết kịp thời thì cũng đem lại hậu quả không mong muốn.
Tóm lại, thực hiện tốt việc ban hành văn bản và quy định hướng dẫn phù hợp sẽ
có tác động tích cực và mang lại hiệu quả cho công tác quản lý, còn nếu không nó

sẽ có tác động ngược lại.
 Bộ máy quản lý nhà nước về ĐKDN
 Bộ máy quản lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà
nước về ĐKDN. Việc tổ chức tốt một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc
thực thi và hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
 Việc tổ chức bộ máy chuyên trách trong công tác quản lý nhà nước về ĐKDN là
thực sự cần thiết, đây là cơ quan đảm nhận chức năng nghiên cứu, tham mưu
cho Nhà nước, các cơ chế, chính sách về ĐKDN như xây dựng văn bản pháp luật
về ĐKDN, đề xuất việc tổ chức bộ máy ĐKDN tại địa phương, kiến nghị cơ chế

 Cùng với việc tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức thì đội ngũ cán bộ công chức cũng
phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao bản lĩnh chính trị để không thể
hiện ý chí chủ quan, không cửa quyền, tham ô, tham nhũng trong công việc.
 Như vậy, năng lực, trình độ của các cán bộ công chức là yếu tố quan trọng góp
phần thành công vào công tác quản lý nhà nước về ĐKDN, do vậy, việc đào tạo
con người nói chung hay đội ngũ cán bộ công chức nói riêng cần được quan tâm,
chú trọng.
1.2.2.2. Các yếu tố tác động bên ngoài
 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của nước ta tại văn
-

kiện Đại hội XI của Đảng, đã nêu rõ quan điểm:
Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng
và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công

19


20

nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát triển
-

nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một
trong những động lực của nền kinh tế. Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước

-


quản lý, cụ thể:
 Thứ nhất, cơ chế phối hợp tạo cơ sở cho việc thi hành luật cũng như các văn bản
quy phạm pháp luật trong thực tế.

20


21



Thứ hai, cơ chế phối góp phần nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng pháp luật,

qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm các quyền doanh nghiệp.
 Thứ ba, cơ chế phối hợp phát huy được các nguồn lực để tập trung và xử lý có
hiệu quả những vấn đề khó khăn, phức tạp trong quản lý ĐKDN mà đối với một
người, một cơ quan, tổ chức không thể giải quyết được
 Yêu cầu của hội nhập quốc tế
 Ở nước ta, những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra những thế
và lực mới cả bên trong lẫn bên ngoài để chúng ta bước vào một thời kỳ phát
triển mới. Vị thế Việt Nam ngày càng được củng cố và khẳng định trên chính
trường quốc tế và cũng là tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Quan hệ đối ngoại của nước ta hiện nay với các nước, các tổ
chức quốc tế và vùng lãnh thổ được mở rộng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh
quốc tế hiện nay xu thế hoà bình, ổn định, độc lập, hợp tác để phát triển là xu thế
chung đó chính là thời cơ lớn.
 Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc thực hiện đường lối đối ngoại
với phương châm độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế
trên tinh thần chủ động, sẵn sàng hội nhập, “sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy”
đã góp phần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế và sự bao vây, cấm

 Sau gần 8 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
đã tăng lên đáng kể đặc biệt là khối doanh nghiệp khu vực tư nhân, nhiều doanh
nghiệp đã năng động, nhạy bén, mạnh dạn hơn trong việc tham gia vào thị
trường thế giới. Trình độ quản lý, tay nghề của khối doanh nghiệp tăng lên; sản
phẩm xuất khẩu bắt đầu chiếm lĩnh thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp đã
trụ vững trước những biến động, khó khăn của nền kinh tế trong nước và những


tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính, suy thoái của nền kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh đó phần lớn các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, do tăng
nhanh về số lượng, trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho sự ra đời và
hoạt động, nên những hạn chế của doanh nghiệp như thiếu hụt vốn; chất lượng
lao động thấp, lao động chủ yếu là chưa qua đào tạo, đội ngũ cán bộ quản lý
doanh nghiệp ít được đào tạo; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp; trình độ am
hiểu luật pháp, hệ thống thị trường còn yếu... ngày càng bộc lộ rõ khi nền kinh tế
thế giới trong tình trạng suy thoái. Những khó khăn này đã tạo ra biến động lớn,
tác động không nhỏ đến khả năng chống đỡ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp lại
có tâm lý trông chờ vào các chính sách của nhà nước, nếu không kịp thích nghi và
thay đổi thì số lượng doanh nghiệp giải thể, phá sản và ngừng hoạt động ngày

càng nhiều.
 Trước bối cảnh này, công tác quản lý nhà nước về ĐKDN cần phải thay đổi để phù
hợp và thích ứng với từng thời kỳ và hoàn cảnh, đặc biệt là trong việc xây dựng,
ban hành các văn bản, chính sách về quản lý ĐKDN.
 Sự phát triển của hệ thống công nghệ- thông tin
 Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển,

cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống
kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Với sự phát triển của công nghệ
thông tin như ngày nay, việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng

NGHIỆP CỦA CỤC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH, BỘ KẾ HOẠCH VÀ
ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI KHỐI DOANH NGHIỆP KHU VỰC TƯ NHÂN
1

Thực trạng Bộ máy của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục QL ĐKKD

Nguồn : Bộ KH&ĐT
Cục QL ĐKKD trực thuộc Bộ KH&ĐT, giúp bộ trưởng thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh.
Cục QL ĐKKD có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và tài khoản cấp 2, kinh
phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, được tổng hợp trong dự toán hằng
năm của Bộ KH&ĐT
Được phân chia thành 6 đơn vị: Văn phòng Cục, Phòng Tổng hợp chính sách
và hợp tác quốc tế, Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh, Phòng Giám sát Nghiệp
vụ đăng ký kinh doanh và Phòng Thông tin và cơ sở dữ liệu (CSDL) và Trung tâm
Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh trong đó có 04 Phòng chuyên môn, 01 Văn
phòng và 01 đơn vị sự nghiệp. Với 01 Cục trưởng và 02 Phó Cục trưởng
24


25

Để thực hiện chức năng quản lý ĐKDN các Cục trưởng, Phó cục trưởng và
các phòng ban thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
 Cục trưởng của Cục QL ĐKKD chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về tổ chức và


vụ của Cục ; theo dõi việc sử dụng các nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật, các dự án,

-

chương trình do nước ngoài tài trợ
Phối hợp cùng văn phòng Cục, Văn phòng Bộ thực hiện công tác lễ tân liên quan

đến hợp tác quốc tế của Cục
 Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh;
- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng, soạn thảo cơ chế, chính sách và các văn bản quy
-

phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh trình cấp có thẩm quyền ban hành
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc xây dựng, soạn thảo các văn
bản hướng dẫn. chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu phục vụ công tác

-

đăng ký kinh doanh
Phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc xây dựng Hệ thống thông tin về
ĐKDN trong phạm vi cả nước; đề xuất các cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về

môi trường kinh doanh;cải cách thủ tục hành chính
 Phòng Giám sát nghiệp vụ đăng ký kinh doanh;

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status