ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BIẾNG ăn và yếu tố LIÊN QUAN - Pdf 47

1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THỰC TRẠNG BIẾNG ĂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM
4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Định nghĩa về biếng ăn ở trẻ em

1.1.1. Quan niệm về biếng ăn trong đời thường
Cónhiềuquanniệmkhácnhauvề

vấnđề

biếngăn.Quanniệmđơngiảntrongđời

thườngthìbiếngănnghĩalàchánănhaykhôngmuốnăn,khôngthèmăn.Theonhiềutừđiểntiến
gViệtthìbiếngănlàthuậtngữchỉtrạngtháikhông

thiết

cónhữngcảmgiácthíchthúhaysựcảmnhậnvềđộngon

ănhay

ănvàonhưng

không

miệnghoặcsựthoảimáivềtinhthần.



phẩm mới, ăn giới hạn trong một vài nhóm thực phẩm nhất định và ăn một lượng ít hơn
những gì mà chúng ta mong đợi ở tuổi của trẻ [27].


Liliana Oliveros cùng cộng sự (2012) thì cho rằng một trẻ biếng ăn sẽ biểu lộ

những thói quen-hành vi chính đó là: tính kén chọn thức ăn rất cao, tránh né thức ăn và
thứ ba là chỉ ăn một lượng ít so với nhu cầu bình thường[29].


Thanner và cộng sự (2014) cho rằng biếng ăn là hành vi không chỉ được phản

ảnh bằng sự kén chọn thức ăn mà còn là sự kết hợp những hành vi ăn uống đáng lo
ngại như: ít thích thú với thức ăn, ăn chậm, lâu và nhanh no [34].
Như vậy, có nhiều định nghĩa về một trẻ biếng ăn nhưng tất cả đều chưa thống
nhất và chưa được chấp nhận rộng rãi;tuynhiên, nhìn chungtrẻmắc phảitình
trạngnàythườngcóbiểuhiệnlà“trẻkhôngchịuănđủsố
thiếttheonhucầucủalứatuổi,chỉưathích

lượngthứcăncần
mộtvàiloạithứcănnhấtđịnhhoặc

tránhthửmónănmới”[5], [12], [13] và biếng ăn chínhlàmột biểuhiệncủa hànhviăn
uốngởtrẻtừ 1đến5tuổi [5].
1.2. Nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ em
1.2.1. Nguyên nhân thực thể thường gặp
Thường gặp là các bệnh lý y khoa, thiếu dinh dưỡng; hầu hết trẻ bị bệnh đều
biếng ăn. Một nghiên cứu 700 trẻ dưới 10 tuổi biếng ăn cho thấy: 86% có bệnh lý nội
khoa, 61% rối loạn chức năng vùng họng miệng [31].Những nguyên nhân thực thể


tạicủa

trẻcómối

quanhệvớivấn

đềditruyềntừchamẹ

hoặcôngbàmàtìnhhìnhnày sẽtồntạimộtcáchkhádàihay kháphổbiến và sựbấtthườngcủa
mộtphầnnãobộhoặcnhữngvấn

đềtrongquátrình

nuôidưỡngcóthểlànguyênnhân

dẫnđếntìnhtrạngbiếngăncủatrẻ [5].
1.2.2. Nguyên nhân không thực thể
Bao gồm các nguyên nhân tâm lý, xã hội, môi trường, nhận thức, thói quen,
hành vi, tính cách… Đó là các sự cố liên quan đến ăn uống làm trẻ sợ, ác cảm với thức
ăn, môi trường nuôi trẻ, cảm xúc của người chăm sóc trẻ[3],[5].
 Nhận định và thói quen không phù hợp về hành vi ăn uống
Bắt nguồn từ việc sử dụng thức ăn ngoài mục tiêu dinh dưỡng, làm cho trẻ có
nhận thức không đúng về thức ăn, ví dụ như xem đó là phương tiện thưởng, phạt,
phương tiện hỗ trợ cho các cuộc vui…
 Số lượng và dạng thực phẩm không phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển thể
chất của trẻ


7


một bầu không khí tiêu cực xung quanh thức ăn và làm sút kém sự hưởng thụ của trẻ
đối với thức ăn, kết quả sau đó là làm tăng biếng ăn ở trẻ[21].
1.3. Hậu quả của tình trạng biếng ăn
Khi trẻ có phát triển từ giai đoạn đi chập chững đến giai đoạn tiền học đường thì
biếng ăn xem như là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của chúng
[13]. Một nghiên cứu trước đã khám phá ra phần lớn trẻ biếng ăn ở lứa tuổi nhỏ chỉ là
biếng ăn thoáng qua, tình trạng này sẽ thuyên giảm khi bước qua tuổi tiền học đường,
và biếng ăn có thể được xem như là một phần trong quá trình phát triển bình thường ở
trẻ em[12]. Dù vậy, biếng ăn cũng sẽ có những hậu quả xấu nếu không được kiểm
soát.Biếng ăn sẽ dẫn đến các dấu chứng lâm sàng tất yếu xuất hiện khi nó là kết quả
của tình trạng thiếu dinh dưỡng mãn tính hoặc từ những ảnh hưởng có hại của xã hộivà
tác động tiêu cực của gia đình [34].
Hậu quả của biếng ăn có thể phân loại theo hậu quả trước mắt- hậu quả lâu dài
[27]hoặchậu quả trên từng chức năng, cơ quan của cơ thể [3].
1.3.1. Hậu quả trước mắt- hậu quả lâu dài
Theo Liliana và cộng sựthì biếng ăn có thể gây ra những hậu quả (ảnh hưởng)
xấu trước mắt hoặc lâu dài [27].
Những hậu quả trước mắt của tình trạng biếng ăn có thể là thiếu dinh dưỡng như
là thiếu protein- năng lượng hoặc vi chất dinh dưỡng, là một yếu tố nguy cơ gây suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân. Một nghiên cứu dọc cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ
cân ở nhóm biếng ăn là 20,6% cao hơn so với nhóm đối chứng (6,6%) [20]. Nghiên
cứu của Dubois và cộng sự cũng cho thấy trẻ biếng ăn có nguy cơ cao bị nhẹ cân ở độ
4-5 tuổi [18]. Trẻ biếng ăn tiêu thụ ít những nhóm như protein, năng lượng, chất béo;
ăn ít hơn so với nhu cầu khuyến nghị các nhóm: trái cây, rau xanh và thịt; hoặc không
sử dụng các thực phẩm bơ, sữa đầy đủ so với nhu cầu khuyến nghị để đảm bảo nhu cầu
vitamin và muối khoáng. Một hậu quả trước mắt khác của biếng ăn đó là làm giới hạn,


9

(BMI) thấp hơn so với những trẻ không biếng ăn [34]. Một đứa bé tuổi tiền học đường
với thói quen ăn uống không lành mạnh có từ sớm như biếng ăn có thể chậm phát triển;
tuy nhiên vẫn chưa có kết luận rõ ràng về khoảng thời gian của những thói quen này


10

kéo dài trong bao lâu mới có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển ở trẻ mà ta có
thể nhận thấy được [36].


Chậm phát triển tâm thần vận động
Nghiên cứu của Chatoor[14] cho thấy những trẻ biếng ăn có điểm số Phát triển

tâm thần (MDI) thấp hơn đáng kể so với trẻ bình thường, đặc biệt trẻ ác cảm với thức
ăn có điểm số MDI thấp hơn 14 điểm. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy có sự
liên hệ giữa biếng ăn với kết quả học tập kém [14], [24].


Rối loạn về nội tiết và chuyển hóa
Giảm tốc độ chuyển hóa của cơ thể, hạ thân nhiệt, tụt huyết áp, mất nước, rối

loạn thăng bằng điện giải, tóc thưa mảnh, giảm bạch cầu, loãng xương, gan nhiễm
mỡ….nếu tình trạng biếng ăn kéo dài dẫn đến suy kiệt trầm trọng[3].
Ngoài ra, tìnhtrạngbiếngănởtrẻkhôngchỉảnhhưởngđếnbảnthânđứatrẻ màcòngây
căng thẳng và lo lắng cho bố, mẹ, người chăm sóc và các thành viên khác trong gia
đình [4]. D. Goh và A. Jacob (2012) đãkết luận tình trạng ăn uống khó khăn và biếng
ăn ở trẻ có liên quan đến stress của người chăm sóc khi cho trẻ ăn và có tác động tiêu
cực đến các mối quan hệ trong gia đình [16]. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy có
liên quan giữa những vấn đề về ăn uống ở trẻ với cảm xúc đau buồn và phiền lòng của

xuống còn 13,2% khi trẻ đến 6 tuổi[12].


Tại châu Á

+ Ở Singapore, nghiên cứu của D.Goh và A. Jacob (2012) cho thấytỷ lệ biếng ăn ở
trẻ từ 1 đến 10 tuổi tại nước này khá cao: 49,2% [16].
+ Tại Trung Quốc, Yong Xue và cộng sự (2015) đã tìm ra tỷ lệ biếng ăn được báo
cáo bởi cha mẹ là 54% ở trẻ em tuổi tiền học đường [36].
1.4.2. Thực trạng biếng ăn ở trẻ em nước ta hiện nay
Ở nước ta có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này nên các thông tin về
tình

hình

biếng

ăn



trẻ

còn

rất

ít.

Kếtquảnghiêncứu

và tổ chức nước ngoài, Hội Nhi khoa ViệtNam đã công nhận và bước đầu sử dụng bộ
công cụ IMFeD để xác định và xử trí trẻ biếng ăn.
1.5.1 Giới thiệu về công cụ IMFeD
IMFeD (Xác định và xử trí biếng ăn) [25], [26]; là công cụ đầu tiên và duy nhất
được áp dụng nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế và các bác sĩ nhi khoa trong việc đánh giá
và đưa ra hướng điều trị thích hợp cho trẻ có các vấn đề về ăn uống từ 1 tuổi trở lên.
IMFeD được giới thiệu đầu tiên vào năm 2009, do Benny Kerzner, chuyên ngành Nhi


13

khoa, thuộc Trung tâm Nhi khoa Quốc gia Hoa Kỳ, dựa trên sự phân loại, cách tiếp cận
và phương pháp điều trị biếng ăn của Irene Chatoor.
Công cụ IMFeD được đưa vào Chương trình Chẩn đoán phân biệt và Phương
pháp điều trị các nhóm biếng ăn thường gặp ở trẻ nhỏ trên thế giới. Chương trình này
đã tổ chức 5 hội nghị ở Singapore (2009), Hồng Kông (2010), Mumbai (2011),
Malaysia (2011) và Việt Nam (2013). Công cụ này đang được sử dụng ở 16 nước và
được công nhận bởi 8 Hội Nhi khoa danh tiếng trên thế giới (Trung Quốc, Việt Nam,
Singapore, Ả-rập Xê-út, Tây Ban Nha, Costa Rica, El Salvador và Panama). Từ năm
2009, Hội Nhi khoa Việt Nam đưa IMFeD vào trong nước nhằm giúp các bác sĩ và bà
mẹ nhận biết và điều trị biếng ăn một cách hiệu quả. Công cụ IMFeD đã được Hội Nhi
khoa Việt Nam dịch sang tiếng Việt, chỉnh sửa và đơn giản hóa, mục đích để nội dung
trong phiếu IMFeD phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa Việt Nam, giúp các bác sĩ nhi
khoa dễ dàng sử dụng và tiết kiệm thời gian trong công việc hàng ngày. Công cụ
IMFeD gồm 2 phần: hỗ trợ chẩn đoán của bác sĩ, hỗ trợ cha mẹ cung cấp thông tin
[25],[26], [32].
1.5.2. Các dạng biếng ăn và đặc điểm lâm sàng trong IMFeD


Nhận định sai của người chăm sóc (quan tâm quá mức)

phần món ăn.
+ Trẻ có thể trở nên lo lắng nếu bị ép ăn các món không thích.


Sợ ăn

+ Trẻ sợ hãi khi biết sắp phải ăn, trẻ chống lại việc cho ăn bằng cách khóc, co
người hoặc từ chối mở miệng.
+ Có thể đã trải qua một sự cố đáng sợ liên quan đến ăn uống.


Biếng ăn liên quan đến bệnh lý

+ Trẻ ít thấy ngon miệng hoặc từ chối ăn liên quan đến việc đang mắc bệnh.
+ Trẻ bắt đầu ăn rất hăm hở nhưng sau đó tỏ ra đau, khó khăn, từ chối ăn tiếp.
1.5.3. Đánh giá hiệu quả của IMFeD
Tại Ấn Độ, năm 2011-2012, nhằm đánh giá bộ công cụ IMFeD và tìm hiểu các
bà mẹ và các bác sĩ Nhi khoa nghĩ gì về IMFeD, Pankaj Garg và cộng sự đã thực hiện
một nghiên cứu thí điểmvới sự tham gia của 383 trẻ và phụ huynh cùng các Bác sĩ Nhi
khoa và nhiều chuyên gia.Kết quả nghiên cứu cho thấy [32]:


Đối với các Bác sĩ Nhi khoa tham gia nghiên cứu
66% cho rằng IMFeD dễ dàng sử dụng. Gần 85%chỉ mất ≤ 20 phút để hoàn

thành xác định và xử trí biếng ăn, đồng thời tư vấn cho phụ huynh về cách quản lý
hành vi ăn uống của trẻ.


Đối với những phụ huynh tham gia nghiên cứu



16

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Trẻ từ 1 đến 5 tuổi và bố, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ hiện đang sống ở
xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.1.2. Thời gian và địa nghiên cứu
Được tiến hành từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016 tạixã Hương Vinh,
thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n = Z21-α/2
Trong đó:
n: là cỡ mẫu của nghiên cứu.
Z: giá trị thu được từ bảng Z ứng với mức ý nghĩa thống kê α. Ở đây ta chọn α = 0,05
ta có Z = 1,96.
Chọn p= 0,5458 (tỷ lệ trẻ biếng ăn theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn trên
trẻ em 1-6 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2011) [4].
d: Độ chính xác mong muốn (sai số chấp nhận được), chọn d= 5% hay d= 0,05.
Thay vào công thức ta tính được:
n = 1,962= 381
Lấy tròn cỡ mẫu lên 400. Vậy cỡ mẫu cuối cùng được chọn là n= 400.
2.2.3. Phương pháp và kỹ thuật chọn mẫu

29 ngày) được coi là 0 tháng tuổi. Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng
(tức 30 ngày đến 59 ngày) được coi là 1 tháng tuổi. Tương tự với các tháng tuổi còn
lại.
Tính tuổi theo năm: kể từ ngày tròn 1 năm đến trước 1 năm 11 tháng 29 ngày
được gọi là 1 tuổi, hay dưới 2 tuổi. Như vậy theo quy ước:
1 tuổi: gồm các tháng tuổi từ 12 đến
+ Thời gian từ bữa ăn vặt tới bữa chính: ≤ 60phút, > 60 phút [34].
+ Ăn cùng gia đình: có hoặc không [16], [29].
+ Trẻ được tham gia vào quá trình chuẩn bị thức ăn với mẹ hoặc người chăm sóc:
trẻ được tự do chọn món ăn, chuẩn bị đồ ăn và dụng cụ ăn uống hoặc dọn dẹp sau bữa
ăn [4].



Nhóm biến về hành vi cho ăn của người chăm sóc chính:

+ Làm phân tâm trẻ khi cho ăn: cho trẻ xem tivi, chơi đồ chơi, đi vòng quanh hoặc
hứa cho phần thưởng [16], [19], [29].
+ Ép trẻ ăn: ép ăn khi trẻ từ chối hoặc ép trẻ ăn hết thức ăn trong đĩa [21].
+ Căng thẳng khi cho trẻ ăn[16].
+ Cho trẻ làm quen với thức ăn mới:
xác định mô hình các yếu tố có liên quan với biếng ăn và kiểm soát yếu tố nhiễu.
2.3. Đạo đức nghiên cứu


Các đối tượng đồng ý tham gia (bằng lời hoặc ký tên),đều được biết thông tin,

mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia phỏng vấn.
 Tên của người trả lời phỏng vấn và trẻ em trong danh sách lập ra từ đối tượng
nghiên cứu được viết tắt, chỉ giữ chữ cái đầu chữ.
 Thông tin điều tra được mã hóa và chỉ sử dụng với mục đích nhằm tìm hiểu tỷ lệ
biếng ăn và yếu tố liên quan chứ không nhằm mục đích nào khác.
 Các thông tin của nghiên cứu chưa từng được công bố trên các tạp chí hay các
phương tiện khác.


21

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm của trẻ
Bảng 3.1: Đặc điểm của trẻ được nghiên cứu
Đặc điểm

Số lượng

Tỷ lệ %

Giới

Nông
Thủ công, buôn bán

Nghề nghiệp

CBCNVC
Nội trợ, khác

Kết hôn
Độc thân, ly dị, ly thân, góa
Tổng
3.2. Thực trạng biếng ăn ở trẻ
Tình trạng hôn nhân

3.2.1. Tỷ lệ biếng ăn

0.70%

Biếng ăn;
34.20%

41.30%
Không biếng
ăn; 65.80%

58.00%


Không biết


Bảng 3.4: Tỷ lệ %trẻ theo số dạng biếng ăn mà trẻ mắc
Số thể loại biếng ăn mà trẻ mắc

Số lượng (n=137)

Tỷ lệ (%)

1
2
3
4
5
Tổng
Trung bình số dạng (±SD)
3.3. Một số yếu tố liên quan với tình trạng biếng ăn ở trẻ
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ với tình trạng biếng ăn
Yếu tố liên quan đến biếng ăn

Biếng ăn
SL
%
72
31,7
65
37,6

Không biếng ăn
SL
%
155

Khác mẹ

Biếng ăn
SL
%

Không biếng ăn
SL
%

p


24

Tuổi

Mức học vấn

Nghề nghiệp

35
Cao
Trung bình
Thấp
Nông
Thủ công, buôn bán
CBCNVC

Không

Dùng thuốc bổ,
vitamin
Không
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số yếu tố về tiền sử với biếng ăn
Bệnh lý răng miệng

Yếu tố liên quan đến biếng ăn
Sinh non
Cân nặng lúc sinh
(gram)
Bú sữa mẹ hoàn toàn
6 tháng đầu
Thời điểm ăn dặm
(tháng)


Không

Yếu tố liên quan đến biếng ăn

Biếng ăn
SL
%

Không biếng ăn
SL
%

p

≤ 60 phút
> 60 phút

Ăn cùng gia đình
Không

Trẻ tham gia chuẩn bị
bữa ăn
Không
Bảng 3.11: Liên quan giữa hành vi cho ăn của người chăm sóc với biếng ăn
Ăn vặt trước bữa
chính

Yếu tố liên quan đến biếng ăn

Biếng ăn
SL
%

Không biếng ăn
SL
%

p



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status