nghiên cứu tình trạng lạp glucose và yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
==========
PHẠM THỊ NGỌC ANH

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DUNG LẠP GLUCOSE VÀ
YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
NGUYÊN PHÁT ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

khi có biểu hiện lâm sàng. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về chẩn đoán, phát hiện
sớm, song vẫn còn gần một nửa bệnh nhân đái tháo đường trong cộng đồng
chưa được chẩn đoán [13],[16]. Phần lớn bệnh nhân đái tháo đường khi được
phát hiện đã có nhiều biến chứng như mù lòa, suy thận, cụt chi, tai biến mạch
máu não, thậm chí đe dọa tử vong. Đái tháo đường thật sự trở thành vấn đề xã
hội, gánh nặng bệnh tật toàn cầu [13]. Vì vậy việc phát hiện sớm, điều trị sớm
để hạn chế biến chứng là hết sức cấp thiết.
Tăng huyết áp là một bệnh lý tim mạch rất phổ biến trên thế giới, năm
2000 tỷ lệ tăng huyết áp là 26,4% và sẽ tăng đến 29,2% vào năm 2025. Tăng
huyết áp gây chết 7,1 triệu người mỗi năm, chiếm khoảng 4,5% gánh nặng
bệnh tật toàn cầu [1],[10],[17]. Theo nghiên cứu ở một số nước Châu Âu bệnh
nhân tăng huyết áp nguyên phát có tỷ lệ đái tháo đường là 16,87 – 23%, tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
chung rối loạn dung nạp glucose và đái tháo đường có đến 33,31% thậm chí
51,6% [11],[3],[18].
Tăng huyết áp, rối loạn dung nạp glucose, đái tháo đường, béo phì, rối
loạn chuyển hóa lipid có mối liên quan mật thiết với nhau. Trong đó sự đề
kháng insulin là yêu tố trung tâm của chuỗi các rối loạn bệnh lý trên. Tỷ lệ
các bệnh này ngày càng tăng liên quan đến lối sống đô thị hóa, ít hoạt thể lực,
thói quen ăn uống, thói quen sinh hoạt, tuổi thọ ngày càng tăng. Tăng huyết
áp phối hợp với đái tháo đường làm tăng biến chứng thận, làm tăng kháng
insulin, làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh mạch vành, tăng nguy cơ tử vong so
với bệnh nhân tăng huyết áp không có đái tháo đường [3],[14].
Việt Nam cũng đã có chương trình Quốc gia về đái tháo đường, tăng
huyết áp. Các nghiên cứu về tình trạng đái tháo đường, rối loạn dung nạp
glucose, tăng huyết áp, phát hiện được nhiều yếu tố nguy cơ và đã đề xuất

bệnh lý và sự cần thiết cho quyết định xử trí. Từ nhiều năm nay nhiều định
nghĩa được đưa ra, nhưng cho đến nay Tổ chức y tế thế giới và hội tăng huyết
áp quốc tế World Health Oganization – WHO và International Soeiety of
Hypertention – ISH đã thống nhất gọi tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥
140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg.
Về phân loại tăng huyết áp cũng có nhiều thay đổi trong những năm
gần đây. Năm 1959 WHO lấy con số huyết áp 139/89mmHg là gianh giới tối
đa của huyết áp bình thường. Từ 140mmHg đến 160mmHg là tăng huyết áp
giới hạn. Khi huyết áp tâm thu trên 160mmHg mới được coi là tăng huyết áp
thật sự. Tăng huyết áp cũng được WHO chia ra 4 giai đoạn. Năm 1999 WHO
đã thống nhất số huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥
90mmHg được gọi là tăng huyết áp. Thuật ngữ tăng huyết áp giới hạn cũng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
không đựợc sử dụng nữa. WHO/ISH chia lại tăng huyết áp ra 3 độ (dùng từ
độ - grade, không dùng từ giai đoạn – stage như trước đây):
- Độ I: HATT 140 – 159 mmHg, HATTr: 90 – 99 mmHg.
- Độ II: HATT 160 – 179 mmHg, HATTr: 100 – 109 mmHg.
- Độ III: HATT ≥ 180 mmHg, HATTr ≥ 110mmHg.
Liên ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng
huyết áp Hoa kỳ (Joint National Committee – JNC) đưa ra cách phân loại tăng
huyết áp có hơi khác qua các kỳ họp ( JNC IV 1988; JNC V 1993; JNC VI
1997).
Theo JNC – VI
Khái niệm
Huyết áp tâm
thu (mmHg)

≥ 110
Gần đây nhất JNC VII tháng 5 năm 2003 chia tăng huyết áp thành 2 giai
đoạn là:
Giai đoạn I: HATT 140 – 159 mmHg, HATTr: 90 – 99 mmHg.
Giai đoạn II: HATT ≥ 160 mmHg, HATTr ≥ 110 mmHg.
HATT < 120 mmHg, HATTr < 80 mmHg được coi là bình thường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
HATT 120 – 139 mmHg, HATTr 80 – 99 mmHg được coi là tiền tăng
huyết áp.
Nhiều tác giả theo trường phái Mỹ thích phân loại này vì nó đơn giản
và có tính chất thực hành, cảnh báo nguy cơ các biến chứng tăng huyết áp
nhiều hơn. Tuy nhiên phân loại của JNC VII gây ra nhiều tranh luận và tháng
5/2005 JNC đã thay đổi phân loại cho phù hợp với WHO/ISH [20],[17],[29].
* Cách phân loại tăng huyết áp ở Việt Nam
Tại Việt Nam theo Hội tim mạch Việt Nam khuyến cáo giai đoạn 2006
- 2010 thì ở Việt Nam cả hai cách phân loại theo JNC – VI, WHO đều có thể
áp dụng. Tuy nhiên JNC – VI ngày càng có giá trị thực tế khi các yếu tố nguy
cơ đối với bệnh tăng huyết áp đang có su hướng gia tăng.
Hầu hết ngày nay người ta sử dụng cách phân loại của JNC VI do tích
chất thực tiễn và khả thi của nó [19].
* Phân loại tăng huyết áp theo bệnh nguyên chia làm 2 thể tăng huyết
áp
Tăng huyết áp nguyên phát hay còn gọi dưới nhiều tên khác nhau: Tăng
huyết áp không tìm thấy nguyên nhân, tăng huyết áp vô căn, tăng huyết áp gia
đình, tăng huyết áp bản chất, bệnh tăng huyết áp…
tăng huyết áp thứ phát là tăng huyết áp tìm thấy nguyên nhân, thường

các thụ thể alpha làm co cơ trơn thành mạch ngoại vi. Noadrenalin tác dụng
lên các thụ thể beta làm co cơ tim và tăng nhịp tim. Khi tăng hoạt động hệ
thần kinh giao cảm làm tăng sức cản ngoại vi thành mạch và tăng lưu lượng
của tim dẫn đến tăng huyết áp. Lúc đầu tăng huyết áp phản ứng ở mức giới
hạn qua từng thời kỳ, cuối cùng dẫn đến tăng huyết áp động mạch ổn định
[20],[24],[30].
Ở người một số nghiên cứu đã cho thấy sự tương quan dương tính giữa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
nồng độ noradrenalin huyết tương và huyết áp ở người THANP. Một sự
tương quan dương tính khác cũng đã được ghi nhận giữa nồng độ adrenalin
huyết tương và huyết áp [24].
* Vai trò của hệ RAA (Renin - Angiotensin – aldosterol)
Hiện nay đã được chứng minh có vai trò quan trọng, do ngoài tác dụng
ngoại vi còn có tác dụng trung ương ở não gây tăng huyết áp qua các thụ thể
angiotensin II. Angiotenin II được tổng hợp từ angiotensinogene ở gan, dưới
tác dụng của renine sẽ tạo thành angiotensin I rồi chuyển thành angiotensin II
là một chất co mạch rất mạnh và làm tăng tiết aldosterol sẽ làm tăng tái hấp
thu Na
+
và nước ở ống thận gây tăng huyết áp [24],[29].
* Sự bất thường về sự vận chuyển ion đơn giá trị:
Trong tăng huyết áp có những sự bất thường về sự gia tăng tính thấm
thụ động Na
+
, sự bất thường về đồng vận chuyển Na
+

+
nội bào và đồng thời làm
giảm sự vận chuyển ngược Na
+
/Ca
++
nên sau cùng làm tăng Ca
++
nội bào làm
tăng co bóp cơ trơn thành mạch gây tăng huyết áp [24], [ 51].
1.2. Bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
Tăng huyết áp là bệnh tim mạch hay gặp nhất, hàng năm tăng huyết áp
cùng với bệnh tim mạch khác giết chết 12 - 15 triệu người trên toàn thế giới
[9]. Có thể nói tăng huyết áp là căn bệnh của xã hội văn minh công nghiệp,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
biến chứng của nó gây tàn phế và tử vong vào loại hàng đầu trong các loại
nguyên nhân gây tử vong của bệnh tật. Ngày nay tăng huyết áp động mạch là
bệnh phổ biến trên toàn thế giới [9], tại Hoa kỳ 43 triệu người tăng huyết áp
chiếm 24% dân số, Pháp là 57 triệu người mắc bệnh, nhiều công trình nghiên
cứu dịch tễ học bệnh tăng huyết áp cho thấy, bệnh tăng huyết áp chiếm từ 5 -
30% dân số tùy theo nước [10].
Tỷ lệ tăng huyết áp khác nhau ở từng nhóm chủng tộc và dân tộc. Các
công trình nghiên cứu trên thế giới cho rằng tỷ lệ tăng huyết áp nam nhiều
hơn nữ. Theo Hayes và Faler thì sự khác biệt này có thể liên quan về gen, về
sinh lý học của giới tính [10].
Tăng huyết áp tăng dần theo độ tuổi, tuổi càng cao thì tăng huyết áp

thành một chất trung gian là glucose – 6 – phosphat, và được sử dụng theo
nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là:
Để tạo ra năng lượng cho hoạt động sống của cơ thể thông qua quá
trình đốt cháy glucose. Để dự trữ năng lượng dưới dạng glycogen. Để dự trữ
năng lượng dưới dạng mỡ [3].
* Đốt cháy để tạo ra năng lượng: Giai đoạn đầu tiên của quá trình
chuyển hoá glucose trong tế bào, theo đó glucose – 6 – phosphat được chuyển
thành pyruvat và một phần năng lượng nhỏ được phóng thích. Trong điều
kiện ái khí, pyruvat đi vào một loạt các phản ứng của chu trình Krebs. Việc
đốt cháy glucose qua chu trình này đã cung cấp một lượng lớn năng lượng và
tạo nên các sản phẩm cuối cùng là CO
2
và H
2
O. Trong điều kiện yếm khí, chu
trình Krebs không thể vận hành và pyruvat phải được đốt cháy qua một con
đường khác cung cấp ít năng lượng hơn. Sản phẩm cặn được tạo ra là lactat,
song chất này có thể được chuyển ngược lại thành pyruvat và được chuyển
hoá trong chu trình Krebs, một khi cơ thể có nhiều oxy hơn để sử dụng [3].
* Dự trữ dưới dạng glycogen: Glucose – 6 – phosphat cũng có thể được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
chuyển thành glycogen dự trữ. Quá trình này có liên quan với sự kết nối nhau
của nhiều phân tử glucose qua một quá trình (thuận nghịch) được gọi là tân
tạo glycogen. Glycogen được dự trữ chủ yếu trong gan và cơ [3].
* Dự trữ dưới dạng mỡ: Khoảng 1/3 lượng glucose được đưa vào trong
cơ thể trong thức ăn được kết hợp chặt chẽ vào các mỡ dự trữ.

(glucose máu lúc đói 6,1 – 6,9 mmo/l) để so sánh với nhóm có RLDNG và dự
báo nguy cơ ĐTĐ và đề nghị bỏ nghiệm pháp dung nạp glucose vì cho rằng
nghiệm pháp này phức tạp, tốn kém, chủ yếu dùng để nghiên cứu, khó áp
dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Nhưng nhiều công trình nghiên cứu
không nhất trí sự thống nhất hai khái niệm rối loạn dung nạp glucose
(RLDNG) và rối loạn glucose máu lúc đói vì các biến cố tim mạch và tử vong
ở nhóm RLDNG cao hơn nhóm rối loạn glucose máu lúc đói [55]. Hơn nữa
khi ADA khuyến cáo sử dụng glucose lúc đói để thay cho glucose 2 giờ sau
nghiệm pháp dung nạp thì rất nhiều đối tượng bị RLDNG có nguy cơ tim
mạch bị bỏ qua. Chính vì vậy ADA (2003) khuyến cáo hạ ngưỡng glucose lúc
đói xuống còn 5,6 mmol/l (100 mg/dl) và năm 2004 WHO đã thống nhất hạ
mức glucose máu xuống mức 5,6 mmol/l. Năm 2007 WHO đã công nhận giá
trị glucose mao mạch trong chẩn đoán tương đương với giá trị glucose huyết
tương. Hội Nội tiết đái tháo đường Việt Nam năm 2008 khuyến cáo sử dụng
tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO năm 2007 [38], [37].
Sở dĩ các tiêu chuẩn chẩn đoán thường xuyên thay đổi là do sự thay đổi
nhận thức về bệnh và đề ra hướng dự phòng bệnh là chính, cố gắng tìm ra các
tiêu chí chẩn đoán đơn giản, chính xác, kinh tế. Gần đây năm 2009 ADA đưa
ra tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào HbA
1
C (là một hemoglobin gắn trực tiếp với
glucose gọi là glucohemoglobin, hàm lượng HbA
1
C phản ánh đường máu
trung bình của bệnh nhân trong thời gian 2 – 3 tháng trước thời điểm xét
nghiệm) phối hợp với tiêu chuẩn của WHO năm 1999, dựa trên cơ sở những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trước đây người ta dùng các thuật ngữ “Đái tháo đường tiềm tàng”,
Đái tháo đường sinh hoá”, “Đái tháo đường tiền lâm sàng”, để chỉ các rối loạn
dung nạp glucose mà chưa có biểu hiện lâm sàng. Những trường hợp này
được phát hiện khi tiến hành nghiệm pháp tăng gánh glucose bằng đường

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
uống hoặc đường tĩnh mạch. Ngày nay người ta đưa ra hai khái niệm để chỉ
các hình thái rối loạn này của chuyển hoá carbohydrat của cơ thể [3].
* Rối loạn dung nạp glucose (IGT- impaired glucose tolerance), nếu
mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose
máu đường uống từ 7,8 mmol/l đến 11,0 mmol/l.
* Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IGF- impaired fasting
glucose), nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l
đến 6,8 mmol/l và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm
pháp tăng glucose máu dưới 7,8 mmol/l.
Tóm tắt tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và các rối loạn dung nạp
glucose máu theo WHO (2007) [3],[70].
Chẩn đoán
Nồng độ glucose máu (mmol/l)
Đái tháo đường

G
o
≥ 7,0
hoặc G
2
≥ 11,1

14
phương pháp này ít được các nhà nghiên cứu sử dụng và thường chỉ áp dụng
để chẩn đoán sàng lọc ĐTĐ thai kỳ.
1.4.2. Rối loạn dung nạp glucose và đái tháo đường týp 2
Rối loạn dung nạp glucose là tình trạng rối loạn chuyển hoá glucose và
là yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐTĐ. Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế
giới đã chứng minh RLDNG là yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ
phát triển bệnh ĐTĐ sau này. Colatgiuri (2001) nghiên cứu nhiều quần thể
khác nhau trên thế giới, tỷ lệ RLDNG biến chuyển thành ĐTĐ dao động từ
1,8% đến 12,6%. Theo thử nghiệm Phần Lan (Toomileho, J và Cs, 2001), sau
1 năm tỷ lệ GDNGLĐ chuyển thành ĐTĐ là 6%, sau 2 năm tỷ lệ này là 14%,
sau 5 năm tỷ lệ này là 34% [6]. Theo nghiên cứu của de Vet qua 6,4 năm theo
rõi thấy tỷ lệ ĐTĐ ở nhóm có rối loạn glucose máu lúc đói và RLDNG là
64,5% [16]. Như vậy nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 ở những đối tượng
có rối loạn glucose là rất cao. Nhiều công trình nghiên cứu đều cho rằng thời
gian bắt đầu khởi phát của bệnh ĐTĐ có trước khi bệnh nhân được chẩn đoán
ĐTĐ có thể từ 5 – 10 năm, vì thế nhiều bệnh nhân khi lần đầu tiên được chẩn
đoán ĐTĐ đã có nhiều biến chứng ở các cơ quan như tim mạch, mắt, thận,
thần kinh. Kết quả trên đây cho thấy cần quan tâm và phát hiện sớm RLDNG,
điều trị sớm và can thiệp vào yếu tố nguy cơ có thể giảm được tỷ lệ phát triển
thành bệnh ĐTĐ.
1.4.3. Biến chứng bệnh đái tháo đường
Nghiên cứu tác hại của glucose lên các tế bào gây ra biến chứng mạn
tính, cấp tính của bệnh ĐTĐ với ba giả thuyết chính [3]:
* Chuyển hoá theo con đường polyol
Tình trạng tăng glucose máu kéo dài gây tổn thương ngộ độc tế bào do
đường được tăng chuyển hoá theo con đường polyol, dưới tác dụng của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


sự tự oxy hoá glucose tạo ra gốc tự do làm biến đổi cấu trúc ADN dẫn đến rối
loạn quá trình tăng sinh và tái tạo của tế bào nội mô, làm tăng trương lực
mạch máu, mất cân bằng quá trình đông máu cuối cùng làm thay đổi hình thái
thành mạch. Sự tham gia của các gốc tự do làm tổn thương khoang dưới nội
mạc, các đại thực bào bắt giữ phân tử LDL sau đó bị các gốc tự do và hoặc
glycosyl không cần enzym làm biến đổi tạo thành tế bào bọt khởi đầu quá

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
trình hình thành mảng vữa xơ.
Như vậy toàn bộ biến chứng mạn tính của người bệnh ĐTĐ là hậu quả
của quá trình tăng glucose máu gây ra. Chính vì vậy việc kiểm soát tốt
glucose máu ngay sau khi được chẩn đoán là cách tốt nhất để ngăn ngừa biến
chứng mạn tính đặc biệt là biến chứng mạch máu ở người bệnh ĐTĐ týp 2.
Tăng huyết áp và tăng glucose máu đều là yếu tố nguy cơ cho bệnh lý
mạch máu. Ở bệnh nhân THANP có tăng glucose máu, kháng insulin cũng
như ở bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp, làm gia tăng biến chứng vi mạch và
mạch máu lớn bao gồm đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại biên, bệnh lý võng
mạc, bệnh thận và có cả bệnh lý thần kinh. Tăng huyết áp làm khó kiểm soát
huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ. Nhiều bệnh nhân ĐTĐ mất đi sự hạ thấp huyết áp
trong khi ngủ, biểu hiện cả rối loạn thần kinh tự động và/ hoặc bất thường sự
nhạy cảm thần kinh – thận về thể tích và áp lực tư thế. Tăng huyết áp ở bệnh
nhân ĐTĐ thường có đặc điểm dữ muối và nước cũng như gia tăng sức cản
mạch máu ngoại biên. Tăng huyết áp khi nằm với hạ huyết áp tư thế không
phải là hiếm gặp ở bệnh nhân ĐTĐ bị bệnh lý thần kinh tự động [3],[25]. Như
vậy cần kiểm soát glucose máu và huyết áp để làm giảm biến chứng ở bệnh
nhân THANP.
1.4.4. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường

1.5.1. Đặc điểm của insulin
Insulin là một protein gồm 51 acid amin, được chia thành 2 chuỗi alpha
và hai chuỗi beta, chúng nối với nhau bằng các cầu nối S – S. Bình thường
mỗi tụy tiết ra từ 40 – 50 đơn vị inssulin. Nồng độ cơ bản của insulin trong
máu vào khoảng 69 pmol/l, để đảm bảo nồng độ glucose trong huyết tương
được duy trì ở giới hạn 4,4 – 5,3 mmol/l. Nồng độ insulin cơ bản trong huyết
tương cũng duy trì sự bài tiết glucose của gan [3].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
1.5.2. Tác dụng của insulin lên chuyển hoá glucose
Các ribosome của tế bào beta đảo Langerhans tổng hợp Pro - Insulin,
chất này sẽ phân thành Insulin và Peptid - c. Những hạt dự chữ phóng thích
hai chất này vào trong máu lưu hành. Tại mô, insulin gắn với các thụ thể
màng đặc hiệu nằm trên màng tế bào gan, tế bào cơ, tế bào mỡ và xương. Các
thụ thể insulin là một glycoprotein xuyên màng. Insulin gắn vào các thụ thể
của nó tạo nên các chuỗi ngoại bào và chuỗi beta xuyên màng vào nội bào và
phosphoryl hóa chuỗi beta có hoạt tính như một men tyrosin nase làm gia tăng
phân tử vận chuyển glucose (Glucose Trans 4 - GLUT4), tăng vận chuyển
glucose tự do vào tế bào [3]. Việc gắn insulin vào các thụ thể đã được khởi
động. Chuỗi phản ứng nội bào kích thích hoạt động của các enzym hoạt động
để vận chuyển glucose vào chu trình Krebs. Glucose sẽ chuyển hóa dưới sự
kiểm soát của insulin thông qua hoạt động của các enzym.
Các biến đổi đường máu phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các luồng
glucose đi vào hệ thống tuần hoàn đến từ glycogen của gan hay từ thức ăn và
luồng glucose đi ra để đi vào mô mà nó sẽ dự trữ (cơ) hay bị oxy hóa. Khi đói
vai trò insulin là điều hòa lưu lượng glucose máu, chủ yếu qua sự thoái biến
glycogen và cơ lấy năng lượng chủ yếu tại gan. Sau khi ăn sự gia tăng đường

chất vận chuyển glucose cũng liên quan đến cơ chế . Các chất vận chuyển
glucose là các glucoprotein, số lượng do gen quyết định, hoạt tính của các
chất này giảm ở bệnh nhân tăng glucose máu. Sự chuyển hoá glucose cần đến
một số enzym, khả năng hoạt hoá của enzym glycogen synthenase và
pyruvate dehydrogenase của insulin giảm tại các tế bào mỡ và tế bào cơ trên
bệnh nhân tăng glucose máu.
Khiếm khuyết tại các thụ thể và sau thụ thể gây nên kháng insulin trên
bệnh nhân tăng glucose máu. Giảm gắn insulin là vấn đề chính trên người có
rối loạn dung nạp glucose và tăng glucose máu nhẹ. Khi nồng độ glucose máu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
7,8 mmol/l thì khiếm khuyết sau thụ thể chiếm ưu thế [3],[35],[39].
1.6. Kháng insulin
1.6.1. Lịch sử phát hiện kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp
Những công trình nghiên cứu liên quan đến sự kháng insulin có từ rất
sớm, kháng insulin được Himsworth và Kerr [71] đề cập đến từ năm 1936.
Năm 1966, Welborn và Cs lần đầu tiên đã chứng minh sự cường insulin ở
bệnh nhân tăng huyết áp bằng phương pháp định lượng insulin trước và sau
NPDNG [12],[24]. Nhưng nhiều năm sau đó vấn đề này bị lãng quên, cho đến
những năm 80 của thế kỷ này Manicardi nhận thấy sự RLDNG và cường
insulin sau nghiệm pháp dung nạp glucose ở những người tăng huyết áp béo
phì chưa điều trị so với những người tăng huyết áp không béo phì [12],[24].
Đến năm 1988, Reaven [60] phát hiện ra hội chứng X trong sự kết chùm
với các yếu tố nguy tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn dung nạp glucose,
Triglycerid máu cao và nồng độ HDL thấp. Hội chứng này cũng đã thay đổi
nhiều tên gọi khác nhau nhưng tên gọi “Hội chứng kháng insulin” đã được sử
dụng rộng rãi.

lệ ĐTĐ týp 2. Nhưng lý do kháng insulin trên cơ sở tế bào vẫn chưa được xác
định rõ. Kháng insulin là hậu quả của béo, thiếu luyện tập, tuổi tác, một số
bệnh hoặc thuốc kháng lại hoạt động của insulin. Ngoài ra còn gây kháng
insulin thứ phát sau cường giáp trạng, hội chứng cushing, hội chứng to đầu
chi, chấn thương, bỏng [3],[23],[53],[64].
* Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của insulin.
Hoạt động của insulin phụ thuộc vào hàm lượng glucose máu, ái lực
của thụ thể đặc hiệu với insulin ở tế bào đích, hàm lượng insulin. Kháng
insulin có thể do bất thường tại các vị trí trước, sau và ngay tại thụ thể của
insulin ở mô đích. Giảm hoạt động của enzym Tyrosinnase ở vùng sau thụ thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
là cơ chế chính của bệnh nhân ĐTĐ týp 2 làm cho insulin khi vào thụ thể
không phát huy được tác dụng sinh học, vì vậy không kích thích được sự vận
chuyển glucose vào tế bào [3],[23],[53],[64].
1.6.4. Kháng insulin ở một số mô đích
* Kháng insulin ở tế bào gan
Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 kháng insulin tại tế bào gan thứ nhất được cho
là do tình trạng insulin máu lúc đói tăng cao hơn bình thường sẽ ức chế sản
xuất glucose từ gan rất mạnh, chính điều này buộc phải có tình trạng kháng
insulin tại gan, thì gan mới tiếp tục sản xuất glucose để đáp ứng yêu cầu của
cơ thể. thứ hai là có tăng glucose máu lúc đói làm bất thường chuyển hoá
trong lúc nghỉ ngơi. Chính tình trạng tăng gánh glucose máu này buộc gan
phải có phản ứng lại sự tăng glucose máu, từ đó làm giảm khả năng ức chế
sản xuất glucose tại gan nặng lên theo tình trạng bệnh ĐTĐ. Kháng insulin
của tế bào gan có thể dẫn tới giảm tổng hợp glycogen tân tạo từ glycerol,
lactate, alamine, glutamin. Kháng insulin làm giảm ức chế tiết glucagon, vì

độ tiết insulin để bù cho tình trạng kháng insulin, ngăn cản glucose chuyển
thành năng lượng và hạn chế sử dụng glucose ở những tế bào cơ vân làm tăng
glucose máu sau ăn. Người kháng insulin có thể bị ĐTĐ hay không tuỳ thuộc
vào tế bào beta tuỵ có duy trì được sự cân bằng về tiết insulin hay không [67].
Một số tác giả cho rằng, gen kháng insulin cùng tồn tại với các gen khác như
tăng huyết áp, ĐTĐ, tăng lipid, kháng insulin coi như đặc tính sau cùng giải
thích cho sự có mặt của một chuỗi bệnh lý như ĐTĐ týp 2, béo phì, tăng
huyết áp, rối loạn lipid, xơ vữa trên bệnh nhân [62].
* Kháng insulin và tăng huyết áp
Sự tăng tiết insulin làm tăng huyết áp có thể được giải thích theo một số
cơ chế sau: Kết quả một số nghiên cứu cho thấy, tăng hàm lượng Na
+
huyết
tương ở người béo, ĐTĐ, tăng huyết áp. Tăng insulin dẫn tới giữ Na
+
do thận,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24
tăng dịch ngoại bào gây tăng huyết áp [43]. Sự biến đổi hoạt động hệ thần
kinh giao cảm liên quan chặt chẽ với sự biến đổi của hàm lượng insulin, tăng
insulin làm tăng hàm lượng norepinephrin tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm
làm tăng co bóp, tăng nhịp tim, tăng thể tích máu tim phổi làm tăng huyết áp
[43],[23]. Tăng huyết áp trong kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2, béo,
tăng huyết áp nguyên phát do tăng insulin làm tăng trao đổi Na
+
- H
+


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status