Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HIỆP

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HIỆP

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số : 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Tác giả

Nguyễn Thị Hiệp


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

KT TNKS

:

Khai thác tài nguyên khoáng sản

KT - XH

:

Kinh tế - xã hội

QLNN

Quản lý nhà nước

QPPL

:

Quy phạm pháp luật

TNKS

1.2. Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản .....................16
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản .......16
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên
khoáng sản.................................................................................17
1.2.3. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với khai thác tài
nguyên khoáng sản ....................................................................17
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản .....18
1.2.5. Phương pháp quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên
khoáng sản.................................................................................21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về khai thác tài
nguyên khoáng sản ..............................................................................23
1.3.1. Các yếu tố khách quan................................................................24
1.3.2. Các yếu tố chủ quan ...................................................................26
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản .........27


Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC TÀI
NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM .......................................38

2.1. Tổng quát về hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản .................38
2.2. Tình hình thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động khai
thác tài nguyên khoáng sản .................................................................42
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với khai thác tài
nguyên khoáng sản ..............................................................................55
2.3.1. Những kết quả đạt được ...............................................................56
2.3.2. Những hạn chế trong quản lý nhà nước về khai thác tài
nguyên khoáng sản......................................................................58
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế..................................................65
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Nhà nước phải tổ chức quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả khoáng
sản để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, đa dạng với
trên 5.000 mỏ và điểm quặng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau. Trong
đó có một số loại khoáng sản được dự báo có trữ lượng lớn như bôxít, titan,
đá nguyên liệu xi măng v.v... Tuy nhiên, khoáng sản là hữu hạn, hầu hết
không tái tạo, chính vì vậy việc khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản phải
tiết kiệm, có hiệu quả nhằm phát huy tối đa nguồn lực này cho mục tiêu phát
triển trước mắt cũng như lâu dài.
Công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoán sản đã đạt
được một số kết quả đáng kể trong thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
vẫn còn khá nhiều tồn tại hạn chế, bất cập trong công tác này. Hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật về khoáng sản cơ bản đã khá đầy đủ nhưng còn nhiều
khó khăn, vướng mắc khi thực hiện; hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước
về khoáng sản từ Trung ương đến địa phương chưa hoàn thiện, hoạt động hiệu
quả chưa cao, lực lượng cán bộ làm công tác QLNN về khoáng sản chưa đáp
ứng được về số lượng và yêu cầu chuyên môn; thông tin, số liệu cơ bản về
nguồn lực khoáng sản chưa được quản lý tốt, chặt chẽ, nhất là đối với thông
tin, số liệu kiểm kê trữ lượng, sản lượng khai thác thực tế, tổn thất khoáng sản


2

thực tế..., các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác khoáng sản chưa nhận thức
đầy đủ và chưa thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong hoạt động quản lý tài
nguyên khoáng sản.
Ngoài ra khai thác khoáng sản còn phải đối mặt với nhiều thách thức về
kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng, trong quá trình khai
thác vẫn còn tình trạng doanh nghiệp khai báo trữ lượng không trung thực;
khai thác tài nguyên khoáng sản một cách bừa bãi, thất thoát, gây ô nhiễm

- Cuốn “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong
thời kỳ mới” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007) với mục đích phát huy vai trò của
nhà nước trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế- xã hội. Trong
đó, các chuyên gia nhấn mạnh: nhà nước cần xây dựng được hệ thống pháp luật
rõ ràng, tạo môi trường pháp lý thuận lợi và bình đẳng cho các chủ thể, các thành
phần kinh tế hoạt động. Việc lựa chọn các chính sách khác nhau và mang đến
hiệu quả kinh tế-xã hội khác nhau là do năng lực của các thể chế chính trị quyết
định. Tuy nhiên, vai trò của nhà nước là phải tạo ra môi trường dân chủ trong
quá trình lựa chọn, hoạch định và thực hiện các chính sách.
- Luận án tiến sĩ kinh tế (của tác giả Trần Anh Tài, 1996) “Vai trò quản
lý của nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam” tác giả đã phân tích tính đặc thù chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam. Luận án đã đi sâu nghiên cứu vai trò của nhà nước trong việc tạo
lập cơ chế quản lý, ổn định và tăng trưởng kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng
kỹ thuật và để xuất mộ số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước
trong qua trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất cơ chế nâng
cao hiệu quả quản trị tài nguyên khoảng sản” (2014) của Tổng cục Địa chất
và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nhóm tác giả đã
tiến hành nghiên cứu, khảo sát thực tế đi sâu đánh giá tình hình thực hiện
công tác quản trị tài nguyên khoáng sản trong thời gian qua để làm rõ những


4

mặt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn
chế. Làm rõ các quy định của pháp luật về khoáng sản liên quan đến công tác
“quản trị TNKS”; phân tích những nội dung cần hoàn thiện nhằm nâng cao
hiệu quả “quản trị TNKS”. Từ đó đề xuất cơ chế hợp lý, hiệu quả hơn để quản
trị tốt hơn TNKS của Việt Nam trong thời gian tới.

trong quá trình hoàn thiện pháp luật về khoáng sản trong thời gian tới.
Mặc dù, các công trình đã đề cập đến những khía cạnh nhất định của
quản lý nhà nước về lĩnh vực khoáng sản và khai thác tài nguyên khoáng sản.
Có thể khẳng định rằng, cho đến thời điểm này chưa có nhiều công trình đề
cập làm rõ đến vấn đề “Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản
ở Việt Nam” một cách hệ thống từ góc độ của quản lý công. Do đó, các đề
xuất giải pháp chưa giải quyết hết được các vấn đề hạn chế, tồn tại hiện nay.
Vì thế, tác giả luận văn chọn đề tài “Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên
khoáng sản ở Việt Nam” với góc độ tiếp cận riêng và không bị trùng lặp với
các công trình đã công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở xem xét thực trạng QLNN về tài nguyên khoáng sản trong
giai đoạn vừa qua, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài xác định các nhiệm
vụ nghiên cứu cần phải thực hiện là:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối
với khai thác tài nguyên khoáng sản.
- Làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng
sản ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2002-2016, chỉ ra những hạn chế và nguyên
nhân của hạn chế.


6

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về khai
thác tài nguyên khoáng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Môi trường, các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành và một số trang
Website... có liên quan tới vấn đề QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản;
- Phân tích, thống kê,: tác giả đã tiến hành thống kê số liệu, văn bản liên
quan về hoạt động khoáng sản và QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản của
Chính phủ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt
Nam và một số bài viết, báo cáo khoa học khác. Từ đó phân tích thực trạng
QLNN đối với lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản trong phạm vi toàn quốc.
- So sánh, tổng hợp: tác giả so sánh các thông tin, số liệu liên quan tới
vấn đề nghiên cứu để thấy được sự thay đổi trong công tác QLNN về khai
thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam trong thời gian qua.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn này có ý nghĩa thực tiễn ở chỗ, luận văn đã đánh giá được
hiện trạng hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực khai thác tài nguyên
khoáng sản làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp để góp phần hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cầu thành 03 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với khai thác tài
nguyên khoáng sản.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng
sản ở Việt Nam.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khai thác tài
nguyên khoáng sản Việt Nam.


8

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHAI

niệm “Khai thác khoáng sản” là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm
xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có
liên quan.
Khai thác khoáng sản là hoạt động có sự tham gia của tất cả các chủ thể
liên quan đến khoáng sản gồm: Nhà nước - Người dân - Doanh nghiệp. Kết
quả của hoạt động này là chuyển hóa khoáng sản từ ở dạng “tiềm năng” thành
hàng hóa; là giai đoạn chuyển hóa giá trị “tiềm năng” của khoáng sản thành
giá trị hiện thực, đem lại nguồn lợi thực tế cho phát triển kinh tế - xã hội đất
nước cũng như doanh nghiệp và người dân. Do đó, hoạt động này cần có sự
quản lý, giám sát chặt chẽ để tài sản do thiên nhiên ban tặng được khai thác,
sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
1.1.2. Những đặc điểm của tài nguyên khoáng sản
Để làm rõ vấn đề QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản cũng cần
đánh giá đầy đủ những đặc điểm chung cũng như đặc điểm riêng của tài sản
“khoáng sản”, các đặc điểm này đó là:
- Tính hữu hạn, không tái tạo: Khoáng sản được hình thành tích tụ
trong quá trình hoạt động địa chất rất lâu dài hàng triệu năm trước đó và
không phải là vô hạn. Hầu hết các loại khoáng sản (trừ một số loại khoáng sản
như nước khoáng, nước nóng thiên nhiên) khi đã được khai thác để sử dụng
đều “không thể tái tạo”. Chính vì vậy, khi khai thác, sử dụng khoáng sản
trong từng thời kỳ cần cân nhắc kỹ để tối đa hóa lợi ích phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Nói cách khác, khoáng sản phải
được khai thác, sử dụng triệt để, hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả cao nhất.
- Tính rủi ro địa chất: Khi đầu tư kinh doanh vào bất kỳ lĩnh vực nào
cũng đều có những rủi ro ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, đầu tư vào lĩnh vực


10

khoáng sản có mức độ rủi ro cao hơn bởi có một rủi ro khác xuất phát từ đặc

lợi (gần đường giao thông chính, gần các yêu cầu phải đáp ứng như: tài
nguyên nước, lao động v.v...) thì sẽ có chi phí thấp hơn, sinh ra lợi nhuận cao
hơn so với một mỏ khoáng sản cùng loại nhưng có vị trí không thuận lợi, nằm
ở vùng sâu, vùng xa, hạ tầng cơ sở vật chất, xã hội thấp kém v.v...
- Quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất: Khoáng sản luôn gắn liền và có
quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất. Khi khai thác khoáng sản luôn phải sử
dụng một diện tích đất mặt nhất định, kể cả khi khai thác khoáng sản bằng
phương pháp hầm lò. Do đó, khi giải quyết vấn đề sở hữu về khoáng sản,
cũng như khi đưa ra các giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ tốt khoáng sản chưa
khai thác chúng ta cũng phải giải quyết cả vấn đề liên quan giữa quyền quản
lý, bảo vệ, khai thác khoáng sản với quyền sử dụng đất đai, những vấn đề về
lợi ích khác có liên quan.
- Quan hệ hữu cơ với tài nguyên nước: Tương tự như đối với tài
nguyên đất, khoáng sản cũng có mối quan hệ hữu cơ với tài nguyên nước. Khi
tiến hành khai thác một số loại khoáng sản, chúng ta phải sử dụng một lượng
nước mặt cũng như nước ngầm để phục vụ công tác khai thác (nước sinh hoạt,
nước phục vụ khai - tuyển v.v..). Trong nhiều trường hợp, thân khoáng sản
gắn liền với nguồn tài nguyên nước nên khi khai thác đã ảnh hưởng trực tiếp
tới nguồn tài nguyên nước nằm trong khu vực khai thác khoáng sản. Khi đó,
trong quá trình khai thác cũng phải giải quyết vấn đề pháp lý khi sử dụng, tác
động đến tài nguyên nước.
- Tính “đa dụng”, “đa mục đích”, “đa khoáng” và thay đổi giá trị
dụng theo thời gian, trình độ phát triển của khoa học công nghệ: Tùy theo
nhu cầu sử dụng của nền kinh tế quốc dân mà khoáng sản được sử dụng cho
các mục đích khác nhau. Đá vôi với chất lượng khác nhau có thể sử dụng để
rải đường, xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp hoặc dùng làm nguyên
liệu xi măng. Đá hoa trắng có chất lượng tốt, độ trắng cao được chế biến làm


12

13

không những có quyền mà cần phải nắm chắc các nguồn lực, các tài sản cơ
bản, quan trọng nhất của đất nước để việc sử dụng các nguồn lực, tài sản đó
một cách hiệu quả.
Như đã nêu trên, tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tài nguyên khoáng sản là “tài sản công” thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khi
nhân dân được là chủ sở hữu thực sự thì các nguồn lực, tài sản công mới có
khả năng phát huy cao độ sức mạnh của mình, mục tiêu xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh mới có cơ hội thực hiện. Chính vì vậy, Điều 200 Bộ
luật Dân sự của Việt Nam cũng quy định các tài sản thuộc hình thức sở hữu
nhà nước, trong đó có “tài nguyên trong lòng đất”. Với tư cách là đại diện chủ
sở hữu toàn dân, Nhà nước thể chế hóa các quyền năng của chủ sở hữu trong
Luật khoáng sản (năm 1996, năm 2005 và mới đây nhất là Luật khoáng sản
năm 2010) và các văn bản dưới Luật được thể hiện trong những điều, khoản
quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về khoáng sản.
Điều 1 Luật khoáng sản năm 2010 đã khẳng định “Luật này quy định
việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai
thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nước về khoáng sản trong
phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”. Điều này chứng tỏ, chỉ có Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu về
TNKS mới có đủ quyền năng để quy định các quyền liên quan đến việc chiếm
dụng, sử dụng và định đoạt tài sản là khoáng sản như nội dung của Luật.
Xuất phát từ bản chất của khoáng sản mà các quyền năng của sở hữu
cũng khác nhau về hình thức và mức độ pháp lý khi nó chuyển hóa từ trạng
thái tự nhiên vốn có (chưa khai thác) sang giai đoạn đã được khai thác (được
đưa ra khỏi trạng thái tự nhiên). Cụ thể là:




15

liệu sản xuất ra các công cụ kim loại, máy móc và thiết bị, linh kiện, xe có
động cơ, các tế bào năng lượng mặt trời, tuabin gió, máy tính, internet, truyền
thông vệ tinh, và cả tên lửa; chúng xuất hiện trong thiết bị y tế và vô số các sản
phẩm khác cho phép loài người nâng cao chất lượng cuộc sống theo nhiều cách
khác nhau. Những sản phẩm được sản xuất từ tài nguyên khoáng sản đã trở nên
quen thuộc và trở thành một nhu cầu thiếu yếu đối với xã hội ngày nay.
- Bên cạnh việc trở thành những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống, các
sản phẩm của tài nguyên khoáng sản thô là những thành phần cần thiết của
nền kinh tế toàn cầu của thế giới, nguyên liệu là cơ sở của tất cả các nền kinh
tế công nghiệp hiện đại. Tài nguyên khoáng sản là nguyên liệu để sản xuất các
sản phẩm giá trị gia tăng. Nếu một quốc gia không sở hữu hoặc không thể
nhập khẩu các tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu ban đầu thông qua con
đường thương mại quốc tế, quốc gia đó không thể sản xuất và xuất khẩu hàng
hóa hoặc sử dụng lực lượng lao động của mình một cách hiệu quả. Ví dụ:
phần lớn nền kinh tế Mỹ đã được xây dựng vào nguồn tài nguyên khoáng sản
trong nước, từ nguồn tài nguyên khoáng sản, người Mỹ xây dựng đường sắt,
tàu hỏa, máy bay, động cơ xe... Và từ các ngành công nghiệp, người Mỹ tạo
ra hàng triệu công ăn việc làm được trả lương cao và đào tạo cơ bản.
- Sự phát triển của nền kinh tế thế giới dẫn đến tăng trưởng tiêu thụ tài
nguyên khoáng sản trong suốt thế kỷ 20. Giữa năm 1960 và 1995, kinh tế thế
giới sử dụng tài nguyên khoáng sản gấp 2,5 lần. Tuy vậy tài nguyên khoáng
sản là nguồn tài nguyên hữu hạn, không tái tạo được vì vậy tất cả các nước
phát triển và đang phát triển trên thế giới phải đối mặt với những thách thức
từ thực tế là dân số và nền kinh tế tiếp tục phát triển nhưng nguồn tài nguyên
khoáng sản ngày càng cạn kiệt. Thách thức hiện nay đối với mỗi quốc gia và
toàn thế giới là để có được nguồn tài nguyên khoáng sản đủ cần thiết để duy

hướng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan QLNN về khoáng sản đến các cá
nhân, doanh nghiệp, tổ chức bằng các công cụ, nguyên tắc và phương pháp quản
lý, nhằm hướng hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản phù hợp với mục tiêu
phát triển bền vững.


17

1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên
khoáng sản
Khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại, đến nay đã phát hiện,
điều tra, đánh giá trên 60 loại khoáng sản, trong đó có một số loại khoáng sản
có quy mô lớn, phân bố tập trung, nhưng công tác điều tra cơ bản, thăm dò,
khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản cho đến nay còn nhiều bất cập.
Để đảm bảo tính ổn định và bền vững cho sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, để việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản hợp lý,
tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đảm bảo an ninh, quốc phòng việc quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên
khoáng sản là rất cần thiết. Nhờ đó chúng ta mới đảm bảo việc khai thác và sử
dụng tài nguyên quốc gia hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, tính kế thừa
cho tương lai và vì mục tiêu môi trường và xã hội.
1.2.3. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với khai thác tài
nguyên khoáng sản
* Yêu cầu QLNN đối với khai thác tài nguyên khoáng sản
Yêu cầu của công tác QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản là
phải quy hoạch, thăm dò khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác;
điều tra cơ bản, thăm dò về khoáng sản; phê duyệt trữ lượng khoáng sản;
cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản; thanh tra kiểm tra và giám sát đầy
đủ theo đúng quy định của pháp luật khoáng sản ở từng địa phương theo
các cấp hành chính. Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với tài nguyên

vụ hàng đầu nhằm nắm được địa điểm, phân bố, trữ lượng, giá trị kinh tế, điều
kiện tàng trữ từ đó nhà nước hướng dẫn tổ chức nhân dân thăm dò, khai thác.
- Điều tra khoáng sản phải tuân thủ trình tự từ sơ bộ đến chi tiết, từ diện
đến điểm, từ trên mặt đến phần sâu; Điều tra, thăm dò khoáng sản đòi hỏi
kinh phí lớn nhưng có tính rủi ro cao. Do vậy, phải điều tra từng bước, lựa
chọn đúng đắn đối tượng, diện tích hợp lý và xác định hợp lý mức độ đầu tư.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status