BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHÙNG THỊ CHUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ TRỌNG HÁCH
Phản biện 1 : TS. Nguyễn Thị Hường
Phản biện 2 : PGS. TS. Nguyễn Thanh Xuân
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành
chính Quốc gia.
Thành phố à Nội là thủ đô của đất nước chúng ta, bên cạnh việc phát triển kinh tế thì hoạt
động văn hóa di n ra rất sôi nổi và đáng chú đến là hoạt động tôn giáo. Thành phố à Nội nói
chung và huyện oài Đức nói riêng là nơi có nhiều tín đồ, nhiều chức sắc tôn giáo, nhiều cơ sở thờ
tự. ác hoạt động tôn giáo ở đây không ch đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân mà còn có
chiều hướng phát sinh khá mạnh, hỗ trợ đắc lực cho việc ổn định chính trị để quản l mọi mặt của
đời sống hội ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà tôn giáo đem lại thì tình
hình tôn giáo ở huyện oài Đức c ng nổi lên những vấn đề mang tính phức tạp. Đó là các hoạt
động mê tín dị đoan di n ra khá phổ biến, việc sinh hoạt tôn giáo còn gây mất trật tự, một số cơ sở
thờ tự tôn giáo còn chưa tuân thủ các quy định của pháp luật….
ông tác quản l nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở huyện oài Đức trong những năm
gần đây đ đạt được những thành tựu thể hiện được quyền tự do tín ngưỡng của người dân mà v n
đảm bảo tuân thủ pháp luật; các cơ sở thờ tự được ây s a khang trang, các chức sắc, tín đồ, nhà tu
hành được mở rộng quan hệ giao lưu, học tập, tổ chức các hoạt động sinh hoạt tôn giáo trong khuôn
khổ pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự
hội. Nhìn chung, chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo
đều là những người dân sống tốt đời đ p đạo. Nhưng bên cạnh đó, công tác này còn bộc lộ một số
hạn chế như:
NN về tôn giáo còn mang nặng tính hành chính, chưa thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, chưa chú trọng ây dựng cơ chế phối hợp, cơ chế làm việc. ên cạnh đó, một
bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức về chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn
giáo còn hời hợt, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ, giải quyết
một số việc liên quan đến tôn giáo còn k o dài, việc thực hiện chức năng quản l nhà nước về tôn
giáo của chính quyền nhiều khi còn cứng nhắc, công tác ây dựng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm
công tác tôn giáo còn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức….
1
Từ những thực tế trên, tôi chọn đề tài “
oạt ộ g t
m chính sách củ Đ ng và Nhà
c Vi t Nam hi n nay (2009) Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội đ tổng hợp, phân tích những
nội dung cơ bản về quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề tôn giáo.
Tác giả Nguy n Tất Đạt với cuốn “
2011 đ thể hiện r mối quan hệ giữa Nhà nước với iáo hội, chính sách tôn giáo của Nhà
nước Việt Nam thông qua việc nghiên cứu một tổ chức tôn giáo cụ thể là iáo hội phật giáo Việt
Nam.
Tác giả Đỗ uang ưng với cuốn “
2014
đề cập nhiệm vụ cơ bản của chính sách tôn giáo nói chung và ây dựng nhà nước pháp quyền về tôn
giáo nói riêng là việc thực thi thuyết thế tục hóa, ây dựng mô hình nhà nước thế tục. Đây là một
công trình khoa học có giá trị, có những phát hiện mới, kiến giải sâu sắc và mới về l luận.
TS Nguy n Quốc Tuấn, Nh n thức l i v các khái ni
ỡng và tôn giáo từ ó
nghiên cứu tôn giáo 2013 được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.
TS Nguy n Quốc Tuấn, Ti p c n h th ng v th c th tôn giáo: m t cách nhìn khác v tôn
giáo 2014 được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo.
Tác giả ê Tiến ộ với uận văn thạc s đề tài “
2015 đ đánh giá
NN đối với hoạt động tôn giáo và đưa ra
những giải pháp hoàn thiện
NN đối với hoạt động này trên địa bàn t nh V nh húc.
2
Th.S Nguy n Thanh Tùng, Quy n t
ỡng, tôn giáo Vi t Nam hi n nay (2016)
được đăng trên Tạp chí Khoa học Nội vụ.
Những công trình nghiên cứu trên đ đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tôn giáo
dạy và học tập tại các trung tâm chính trị huyện.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- hương 1: ơ sở khoa học về quản l nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
- hương 2: Thực trạng quản l nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện
oài Đức, thành phố à Nội.
- hương 3: uan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản l nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo trên địa bàn huyện oài Đức, thành phố à Nội.
3
C
Ở
Đ
1
U
Đ
1.1.
1.1.1
t g o
1111
ác.
Tôn giáo tiếng anh là eligion với nguồn gốc tiếng atin là “ eligio” có ngh a là “tôn kính
điều thiêng liêng”, đồng ngh a với sự s ng đạo, mộ đạo, đối tượng được s ng bái. Trong các từ điển
thông dụng thì tôn giáo thường được định ngh a là sự s ng bái và sự thờ phụng của con người đối
với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh. Nhà triết học duy vật siêu hình
cổ đại i ạp Đemocrite đ em tôn giáo phát sinh từ niềm tin và sự sợ h i của con người. òn nhà
triết học người à an aruch pino a 1632 – 1677 thì tiếp cận tôn giáo ở khía cạnh tâm l con
ứ
ó . [38, tr.5].
Ngoài khái niệm “Tôn giáo”, còn có khái niệm “Tín ngưỡng”, đôi khi d ng thay thế tôn
giáo, một hình thức biểu hiện của tôn giáo. Theo ách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì tín
ỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự
4
bình yên cho bản thân và mọi người. Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ngh a của
cuộc sống bền vững và đôi khi được hiểu là tôn giáo. Chủ ngh a Mác- Lênin coi tín ngưỡng, tôn
giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách
quan. [2]
Nếu như ở phương Tây, tín ngưỡng theo ngh a của từ “croyance” trong tiếng Pháp hoặc từ
“belife” trong tiếng Anh ch có hàm ngh a là ni m tin tôn giáo, nói cách khác là niềm tin của mỗi tín
đồ của một tôn giáo có tín ngưỡng riêng của mình khác với tín ngưỡng của những tín đồ của các tôn
giáo khác. Nói cách khác, tín ngưỡng là thuộc tính đương nhiên của mỗi tín đồ thuộc tôn giáo nào
đó.
Ở các nước Á Đông trong đó có Việt Nam sắc thái về ngữ ngh a của từ này có những điểm
rất khác. Một mặt tuy danh từ
ỡng v n có nội dung tôn giáo song không nhất thiết nó ch
thuộc niềm tin của một tôn giáo như ở phương Tây mà có khi còn được hiểu rộng r i hơn với nhiều
cấp độ và sắc thái, niềm tin khác nhau. Chính vì thế ở Việt Nam chẳng hạn, tín ngưỡng thờ M u,
thờ Thành hoàng hoặc thờ cúng tổ tiên đôi khi rất khó phân biệt là “tín ngưỡng tôn giáo” hay ch là
một niềm tin có tính đạo đức và xã hội. Ngoài ra trong môi trường xã hội có một hệ thống tín
ngưỡng tâm linh phong phú, một không gian thiêng đa chiều và phức tạp như nước ta, tín ngưỡng
còn bị pha trộn bởi rất nhiều hình thái khác xen l n với những biểu hiện của những niềm tin của tôn
giáo nguyên thủy đặc biệt là saman giáo còn tồn tại đến ngày nay, có khi được gói trong khái niệm
mê tín, d
như bói toán, đồng cốt, gọi hồn, những điềm lạ… . Mặt khác rất nhiều tôn giáo ở
ng:
NN đối với hoạt động tôn giáo là quá trình d ng quyền lực nhà nước (Lập
pháp, ành pháp, Tư pháp của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động
nhằm điều ch nh, hướng d n các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo di n ra phù hợp
với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.[35, tr.195]
ẹp:
NN đối với hoạt động tôn giáo là dạng quản l mang tính quyền lực nhà nước
với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành
pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp để điều ch nh các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá
nhân tôn giáo di n ra theo quy định của pháp luật. [35, tr.195].Thực ti n hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo xuất hiện nhiều biểu hiện ở các cấp độ khác nhau, tích cực hoặc tiêu cực, từ đó đặt ra nhu cầu
cần có sự kiểm soát, tác động của chính quyền đối với những hoạt động này. Thí dụ: hiện tượng
“đạo lạ”, “mê tín dị đoan”.
“Đạo lạ” là một khái niệm mới được đề cập trong những năm gần đây, đặc biệt trong các
cuộc khảo sát “hiện tượng tôn giáo mới”, phát sinh nhiều vấn đề trong quản trị xã hội của chính
quyền. Một hiện tượng tôn giáo mới được coi là đạo lạ khi hội đủ các đặc điểm như: gây ra ung
đột sâu sắc với các tôn giáo truyền thống, thậm chí cả tín ngưỡng, phong tục truyền thống của người
dân; hoạt động sinh hoạt tôn giáo đa dạng, những không thành hệ thống; Giáo lý xây dựng và
truyền bá thường hướng tới niềm tin của người dân một cách m quáng, hơn là tạo ra tính thiêng
kiềm chế tính ác trong con người. [8] Như vậy có thể định ngh a “Đ o l là m t hi
ợng tôn
giáo m i, khác bi t, xung t so v i nh
ỡng, phong tục truy n th ng, hình thành
b i nh ng cấ
ng, giáo lý không th ng nhấ
ng t i xây d ng ni m tin củ
m t
cách mù quáng, xa r i th c t cu c s ng th c t
Hiện tượng “Đạo lạ” liên quan khá mật thiết với “mê tín dị đoan”. Mê tín dị đoan. Mê tín là
lý) và một bên là các tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo đối tượng quản lý) trong hoạt động QLNN
về tôn giáo.
Thứ hai, Qu
c v tôn giáo r ng, phức t
n các vấ
chính tr ,
kinh t - xã h i và an ninh tr t t
Đặc điểm này xuất phát từ nguồn gốc hình thành và vai trò của tôn giáo trong đời sống xã
hội liên quan đến các l nh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa,
hội và liên quan đến hoạt động thuộc
chức năng của nhiều cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương như: ông an, Nội vụ, Tài
nguyên & môi trường, Xây dựng, Giáo dục & đào tạo....
Bên cạnh đó, tôn giáo còn là một hình thái ý thức xã hội, một phạm tr tư tưởng có quan hệ
đến văn hóa, đạo đức, truyền thống của dân tộc. Đồng thời, tôn giáo thường là vấn dề nhạy cảm, d
bị các thế lực th địch lợi dụng tuyên truyền, chống phá Nhà nước. Do vậy, việc giáo dục thuyết
phục nhân dân, đặc biệt là đồng bào có đạo là vô cùng quan trọng để giữ gìn đoàn kết trong nội bộ
nhân dân, c ng như phòng ngừa những âm mưu chống phá của các thế lực th địch.
Thứ ba, Qu
cv
ợc th c hi n trong xu th toàn c u hóa
Hoạt động tôn giáo ở nước ta chịu sự điều ch nh không ch bằng hệ thống pháp luật trong
nước mà còn chịu sự điều ch nh bằng cả điều ước quốc tế mà Nhà nước tham gia ký kết hoặc thừa
nhận. Đặc điểm này xuất phát là do trong sáu tôn giáo lớn thì hiện nay bốn tôn giáo là: Công giáo,
Phật giáo, Tin ành và đạo Hồi có nguồn gốc và mối quan hệ với nước ngoài.
Thứ
QLNN v
ng t i gi gìn b n sắc dân t c, củng c
t dân t c và
7
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- uy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước;
- uy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý;
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và x lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn
giáo.
Các nội dung trên nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
quản l nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cả nước nói chung và trên địa bàn từng địa phương nói
riêng.
1.2.1.2. N i dung cụ th
- Quản lý hoạt động tín ngưỡng;
- Quản lý tổ chức tôn giáo;
- Quản lý việc phong chức, phong ph m, bổ nhiệm, bầu c , suy c , điều động, thuyên
chuyển trong tổ chức và hoạt động tôn giáo;
- Quản lý về đại hội, hội nghị của các tổ chức tôn giáo;
- Quản lý việc xây dựng các cơ sở tôn giáo, kinh doanh, xuất nhập kh u kinh sách tôn giáo
và đồ dùng việc đạo;
- Quản lý hoạt động từ thiện xã hội của tổ chức tôn giáo;
- Quản lý họat động quốc tế của tổ chức tôn giáo…
ủt ể
oạt ộ g t g o
- Chính phủ
- Bộ Nội vụ
- Ban Tôn giáo Chính phủ
- Ủy ban nhân dân cấp t nh và Sở Nội vụ
- Cấp huyện
g
t t
ộ g
oạt ộ g t g o
- ự l nh đạo, ch đạo của Đảng đối với công tác tôn giáo
- ự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về tôn giáo
- Mức độ hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan uản l nhà nước về tôn giáo và chất lượng
đội ng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo
- Nhận thức của các ngành, các cấp về tầm quan trọng của công tác uản l nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo
- ự phát triển của kinh tế hội, vấn đề hội nhập và u thế vận động của tôn giáo
1.3 Kinh
Đ
g
oạt ộ g t g o ủ
V
a Vì là một huyện phía tây bắc của thủ đô à Nội, cách trung tâm thành phố 60 km, là một
huyện rộng, có diện tích tự nhiên 454,5 km2, địa hình đa dạng phong phú chia làm ba v ng: núi,
đồi, gò và ven sông. a Vì có 31 , thị trấn với trên 27,2 vạn dân, có ba dân tộc chính là: Kinh,
Mường, ao c ng chung sống. Trên địa bàn huyện a Vì có 3 tôn giáo chính hoạt động là: hật
giáo, ông giáo và đạo Tin ành. hật giáo có 16 tăng, ni và 38.565 phật t , 113 ngôi ch a. ông
giáo có 2 linh mục, 56 thành viên trong ban hành giáo, 3.583 nhân danh, có 6 nhà thờ và 9 nhà
nguyện. Tin ành có 01 điểm nhóm với 51 tín đồ. Tín ngưỡng có 248 đình, đền, miếu. 27 ên
cạnh những mặt đạt được thì công tác tôn giáo của huyện còn tồn tại một số vấn đề như:
ợi dụng địa bàn rộng, có nhiều nơi h o lánh ít người qua lại, ây dựng cơ sở thờ tự khi
chưa được cơ quan có th m quyền cho ph p.
Việc tổ chức l ngoài đăng k thường niên, tổ chức ngoài cơ sở thờ tự, nhiều tín đồ trong và
ngoài địa bàn a Vì tham dự khi chưa được in ph p, chưa được cấp có th m quyền cho ph p.
Những hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt đạo trái ph p của một số cá nhân, tổ chức của các
hội, nhóm Tin ành của một số , đơn vị du lịch trên địa bàn huyện đ lợi dụng du lịch trại h vào
kế hoạch thăm h i, tặng quà các cơ sở thờ tự, chức sắc, một số đối tượng chính sách nhân dịp l
Phật đản, Noel, tập trung giải quyết các vụ việc liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, cơ
sở thờ tự của các tôn giáo.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì công tác
NN đối với hoạt động tôn giáo trên
địa bàn huyện Mê inh còn tồn tại một số vấn đề như:
Nhận thức về tôn giáo, quản l nhà nước về tôn giáo của một bộ phận cán bộ, công chức làm
công tác tôn giáo còn đơn giản, có biểu hiện né tránh, chưa am hiểu sâu về l nh vực tôn giáo. Do
vậy chất lượng tham mưu, giải quyết các vụ việc còn hạn chế.
Công tác vận động, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân noi chung và cho
đồng bào có đạo nó riêng còn hạn chế.
Ở một số cơ sở thờ tự trong huyện v n xảy ra một vài trường hợp mâu thu n giữa các vị sư
trụ trì với nhau hoặc với nhân dân trong thôn, tạo ra sự mất đoàn kết trong cộng đồng dân cư, ảnh
hưởng đến tình hình an ninh nông thôn.
V n còn một số bộ phận lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng gây mất trật tự an ninh, gây
rối nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết trong nhân dân. Sự phối hợp giữa chính quyền và MTTQ, các
đoàn thể quần chúng ở cấp cơ sở trong việc tuyên truyền, giải thích, vận động nhân dân trong công
tác tôn giáo còn nhiều hạn chế.
Việc quản lí hồ sơ địa chính cơ quan Tài nguyên môi trường), việc s dụng đất của các cơ
sở qua nhiều giai đoạn bị thay đổi, thất lạc, hồ sơ tranh chấp, khiếu nại về đất đai v n chưa được
giải quyết dứt điểm.
Từ thực ti n những mặt đạt được và những tồn tại trong việc
NN đối với hoạt động tôn
giáo, tín ngưỡng của huyện Mê inh c ng là bài học kinh nghiệm để giải quyết đối với các vấn đề
còn tồn tại của huyện Mê inh đối với công tác
NN về tôn giáo, tín ngưỡng c ng như được áp
dụng đối với công tác
NN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện oài Đức, thành phố
à Nội.
Đ
Đ
Đ
ột
ặ
ể
t -
ộ
o gt t
ủ
o
g
oạt ộ g t g o
oài Đức là huyện ngoại thành của thành phố à Nội có vị trí địa l thuận lợi, có nền văn
hóa truyền thống phong phú, đa dạng, được hình thành từ lâu đời. Mặt khác, trong những năm qua,
dưới sự l nh đạo của uyện ủy, ĐN ,
N huyện oài Đức, sự đoàn kết thống nhất của nhân
dân trong các l nh vực kinh tế, văn hóa,
hội có bước phát triển khá tốt, đời sống các tầng lớp
nhân dân được cải thiện r rệt; hệ thống chính trị được củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động; chất lượng đội ng cán bộ, công chức từng bước được nâng lên; cải cách hành chính được
triển khai thực hiện có hiệu quả dần đi vào thực tế. o vậy, về cơ bản đ tạo điều kiện thuận lợi cho
tôn giáo, phong tục tập quán các làng trên địa bàn huyện thâm nhập và phát triển; pháp luật về tôn
giáo được thực hiện nghiêm túc, từng bước hạn chế những điều kiện làm phát sinh, phát triển những
hiện tượng mê tín, dị đoan và các tôn giáo có giáo l , giáo luật và các hoạt động tôn giáo trái với
a h , ch a Đồng Nhân, h a ương
Trai
ương i u, Chùa Linh Tiên, ch a An Trai, ch a a Tinh Đông a, ch a Đa húc
i
Trạch…
12
V ho
c và từ thi n xã h i: Với tư cách là thành viên của khối đại đoàn kết
toàn dân. Phật giáo oài Đức luôn gắn liền các hoạt động phật sự với công tác xã hội, phục vụ nhân
dân. an đại diện thường uyên động viên Tăng Ni phật t , mỗi chùa hoàn thành tốt ngh a vụ công
dân, tham gia các phong tròa ích nước lợi dân, xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ môi trường xanh
sạch đ p, thực hiện tốt đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tăng
Ni phật t huyện oài Đức luôn nêu cao tình thần xây dựng chính quyền địa phương, ây dựng
khối đại đoàn kết, thực hiện nếp sống văn minh, ây dựng chùa tiên tiến, hưởng ứng tốt cuộc vận
động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phòng chống tệ nạn xã hội, người
Việt Nam ưu tiên tiêu d ng hàng Việt Nam.
gg o
Hiện nay, huyện oài Đức có 25 họ giáo và được chia thành 06 Hội đồng giáo xứ gồm: Xứ
Giang Xá, xứ Lại Yên, xứ Cát Quế, xứ Đông ao, ứ Mộc Hoàn, xứ Cát Ngòi chịu sự ch đạo của
hai Tòa giám mục Hà Nội và ưng óa ơn Tây . ó hai
át uế, Vân Côn chịu sự quản lý
của hai Tòa giám mục Cát Quế và Vân Côn. [28]
V giáo dân: Hiện nay 17/20 xã, thị trấn ở oài Đức có đồng báo công giáo với 1.763 hộ
(khoảng trên 9.000 giáo dân), trên toàn huyện có 25 nhà thờ Công giáo (06 nhà th chính xứ và 19
nhà th họ lẻ) và 04 ngôi nhà nguyện (t i các thôn Lai Xá – xã Kim Chung; thôn Kim Hoàng – xã
;
– xã An Khánh và thôn Yên Thái – xã Ti n Yên), có 06 linh mục làm mục
nước” của đồng bào công giáo. Bà con giáo dân luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật
của Đảng và pháp luật của Nhà nước c ng như các phong trào của địa phương, tiếp thu các tiến bộ kỹ
thuật áp dụng đưa vào sản xuất đại trà trên diện tích canh tác và các chuồng trại chăn nuôi, nâng cao
cuộc sống thi đua hoàn thành ngh a vụ của người công dân và người Ki tô hữu đúng như huấn thị của
đức thánh ha ê nê đích tơ XVI, nói người công giáo tốt c ng là người công dân tốt.
* ạo Tin Lành
Từ năm 1997 đến nay, số người theo đạo Tin Lành ở huyện oài Đức là 73 người và sinh
hoạt dưới hình thức đơn l : Hội thánh Tin Lành lẽ thật Đắc Sở do ông Nguy n Văn M o sinh năm
1938 ở thôn ơn à,
Đắc Sở, oài Đức làm nhóm trưởng với 23 tín đồ (tron ó 12
là
13
S
Đắc S ; 02
là công nhân xã Bình Phú huy n Th ch Thất; 04 tín
S S
n Qu O
03
ợng Cách, huy n
Qu c Oai) chủ yếu hoạt động tại gia đình ông m o ở Thôn ơn à
Đắc Sở . Còn 01 nhóm khác
với 50 tín đồ còn lại thuộc hệ phái “ húc âm toàn v n Việt Nam” sinh hoạt tại căn nhà F 50 – Khu
biệt thự Thiên Đường Bảo ơn. 28
Đạo Tin lành hoạt động thuần túy theo quy định của pháp luật nên không phát sinh vấn đề
phức tạp, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tuy
nhiên, vì đạo Tin Lành không thờ cúng ông bà tổ tiên, trái với phong tục tập quán truyền thống, nên
an đoàn kết công giáo đ đ y mạnh phong trào thi đua yêu nước như: “
i công giáo t t là
i công dân t ; “Đ o pháp – Dân t c – Chủ
;“
t xây d
i
s
ă ó
, óa đói giảm ngh o…. ác phong trào đ đạt được những kết quả đáng
khích lệ, đặc biệt trong v ng đồng bào có đạo các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, các vi phạm
pháp luật được hạn chế rõ rệt, luôn giữ vững mỗi đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và không theo
đạo trong cộng đồng dân cư.
14
Đ
ể
ểt ể
oạt ộ g
oạt ộ g t
g ot
Trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đ có sự đổi mới trong chính
sách đối với tôn giáo bằng Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị (khóa VI)
“Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”. iến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt
- Ch thị 10/CT-HUngày 26/11/2009 của Huyện ủy huyện oài Đức “ Về triển khai thực
hiện Đề án số 107/UBND ngày 27/11/2009 của UBND thành phố Hà Nội về tăng cường công tác
quản l nhà nước về tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội ”.
15
- Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 17/01/2010 của UBND huyện oài Đức “Về việc rà soát
và cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất cho các cơ sở tôn giáo trên địa bàn huyện oài Đức”.
ộ
oạt ộ g t g o
o
Nhân sự của hòng Nội Vụ huyện oài Đức gồm 10 người, bộ phận phụ trách
NN về
công tác tôn giáo gồm có 02 thành viên: 01 hó trưởng phòng và 01 chuyên viên là bà Nguy n Thị
ường. án bộ làm công tác quản lý tôn giáo chịu sự ch đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công
tác của UBND huyện oài Đức, đồng thời chịu sự ch đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của Ban Tôn giáo
cơ quan cấp trên.
Ở cấp xã, theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/10/2009 quy định cấp
xã không có chức danh cán bộ làm công tác tôn giáo nên tất cả các
đều không bố trí cán bộ
chuyên trách làm công tác tôn giáo, một số xã có phân công nhiệm vụ cho công chức văn hóa hoặc
công chức văn phòng - thống kê kiêm nhiệm công tác tôn giáo.
Có thể nói, mặc dù phải kiêm nhiệm, nhưng các cơ quan, bộ phận, cán bộ làm công tác tôn
giáo đ làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền trong giải quyết các vấn đề, vụ
việc liên quan đến tôn giáo, không để xảy ra “điểm nóng” về tôn giáo trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, các cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo còn thiếu và không được đào tạo
chuyên môn chính quy về quản l nhà nước đối với công tác tôn giáo mà chủ yếu được đào tạo
thông qua các lớp bồi dưỡng, lớp tập huấn về công tác tôn giáo.
t
đ tiến hành 22 cuộc kiểm tra việc trùng tu, xây dựng các cơ sở thờ tự trên địa bàn huyện; UBND
huyện giao Thanh tra huyện thanh tra chuyên đề về công tác xây dựng tại 05 đền tự; x lý 02 vụ
khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, cụ thể:
16
UBND huyện oài Đức đ ch đạo các ngành chức năng, chuyên môn và
N
ong
hương giải quyết tranh chấp quyền quản lý, trụ trì ch a hượng Tiên thôn 4
ong hương giữa
sư trụ trì Thích Đàm Trung và một số già vãi.
UBND huyện đ ch đạo các ngành chức năng ,
N
Vân ôn em xét giải quyết các
vấn đề liên quan đến Nhà thờ xứ Mộc Hoàn lấy khu đất Nhà văn hóa c sát nhập thành khuôn viên
chung của Nhà thờ. Qua kiểm tra xác minh Ban hành giáo của thôn đ thực hiện các biện pháp xây
dựng trả lại nguyên trạng Nhà văn hóa như c .
2
gt
ợ to g
oạt ộ g t g o t
o
* Công tác ph i hợp tuyên truy
ng l i chính sách củ Đ
ó ó
chính sách tôn giáo cho cán b , h i viên và qu n chúng nhân dân các tôn giáo
Từ năm 2009 đến năm 2015,
N huyện phối hợp Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện
kéo họ.
Với Công giáo: Công tác an ninh tranh thủ tất cả các giáo sỹ, thường xuyên gặp gỡ, hướng
d n, uốn nắn họ thực hiện các quy định của Nhà nước về tôn giáo. Số có hoạt động vi phạm, kịp
thời phát hiện, đấu tranh, nhắc nhở không để gây ảnh hưởng đến việc tranh thủ số giáo sỹ khác.
17
Với Phật giáo: Nhận rõ vai trò, vị trí của chức sắc, công tác an ninh hết sức tranh thủ họ,
thông qua số chức sắc có uy tín, cảm hoá tác động số có vi phạm, mâu thu n, không để tình hình
phức tạp thêm.
ưới sự ch đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền và mặt trận các cấp đ quan tâm giúp đỡ tạo
điều kiện cho Ban Trị sự Phật giáo huyện oài Đức hoạt động. Qua các k đại hội Phật giáo, chính
quyền, mặt trận đ chú kiện toàn Ban trị sự Phật giáo huyện về nhân sự, đảm bảo người có uy tín
trong hàng giáo ph m tham gia vào ban l nh đạo, các tăng ni tr tuổi có năng lực và đạo hạnh c ng
được bổ sung đáng kể.
Với đạo Tin lành: Công tác an ninh tranh thủ số đứng đầu, s dụng số này tác động, cảm hoá
số có hoạt động vi phạm, nhóm đối tượng đặc biệt thì đấu tranh, cô lập.
* Công tác xây d
i, xây d ng l
ợng c t cán của M t tr n và các
.
Trong mấy năm gần đây công tác ây dựng chi đoàn, chi hội vững mạnh v ng có đông đồng
bào ông giáo, Tin lành được các đoàn thể chính trị quan tâm đ y mạnh, số chi đoàn chi hội được
công nhận vững mạnh ngày càng tăng thu hút trên 30% số tín đồ vào tham gia hoạt động với tổ
chức đoàn, tổ chức hội (từ năm 1997 trở về trước ch thu hút tập hợp khoảng trên 20%) có thể nói
đây là sự cố gắng, tiến bộ đáng ghi nhận. Trong đó ội phụ nữ, Hội nông dân, Hội người cao tuổi
có tỷ lệ thu hút tập hợp cao hơn trên 50%.
Đ
Đ
Công tác quản l Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở oài Đức được các cấp,
các ngành, đặt trong tổng thể, gắn với các nhiệm vụ kinh tế, xã hội ở huyện, phục vụ cho chính sách
đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
ột
ạ
to g
gt
oạt ộ g t g o t
o
M t là, Công tác phát hiện các biểu hiện phức tạp còn chậm. Công tác nắm tình hình có lúc
còn chưa theo kịp với di n bi n thực tế, với yêu cầu giải quyết. Vì vậy trong nhiều vụ việc phức tạp
còn phải bị động đối phó.
Hai là, Quản l Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở oài Đức thiếu một đường
hướng lâu dài, còn chạy theo vụ việc; một số trường hợp còn k o dài, chưa dứt điểm; nhất là những
vụ liên quan đến nhà đất.
Một số cán bộ làm công tác quản l tôn giáo
còn chưa nắm được nghị quyết của Đảng,
những qui định của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Ba là, Trong các vụ việc, sự hướng d n ch đạo của một số cơ quan còn bất cập, chưa ngang
tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Trong một số trường hợp, sự hướng d n, trả lời này chưa ph hợp với
chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.
g g
ủ ạ
Thứ nhất, Từ trước đến nay, các thế lực th địch v n tìm mọi cơ hội thực hiện âm mưu lợi
dụng tôn giáo chống lại cách mạng nước ta.
Thứ hai, Nhiều đồng chí cấp ủy và cán bộ đảng viên ở cơ sở chưa nhận thức được tầm quan
trọng của công tác tôn giáo, chưa thấy được trách nhiệm của ngành mình, cấp mình đối với công tác
này, nên chưa phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị do Đảng l nh đạo, mà phổ biến
còn giao khoán cho Mặt trận Tổ quốc và các ngành chức năng.
Thứ ba, Quản l Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của cấp xã còn nhiều sơ hở, việc xây
quyết số 25/N -TW về công tác tôn giáo. Nghị quyết tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của hủ
ngh a Mác – enin và Tư tưởng ồ hí Minh về tôn giáo, đ cụ thể hóa một bước quan trọng trong
ch đạo thực ti n đối với công tác tôn giáo của Đảng, đặt ra những nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện
chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng và hợp pháp của công
dân, làm cho tín đồ, chức sắc, các tôn giáo tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng, yên tâm
sống đạo, giữ đạo hài hòa trong lòng dân tộc, ngày một gắn bó mật thiết hơn với chế độ, đoàn kết
trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động được tiềm năng của các tôn giáo tham gia đóng góp
tích cực vào công cuộc ây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn khởi c ng toàn dân thi đua ây dựng
hội mới.
ể
ạo ủ
ủ
t
ộ
* V vi
ng dẫn các qu n, huy n, th
a bàn Thành ph trong vi c th c hi n
Pháp l nh s 21/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủ
ng vụ Qu c h i v
ỡng,
tôn giáo và Ngh nh s 92/2012/ Đ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ
nh chi ti t và bi n
pháp thi hành Pháp l
ỡng, tôn giáo:
Thực hiện hướng d n của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo Thành phố đ tham mưu
UBND Thành phố xây dựng Kế hoạch triển khai, tuyên truyền, quán triệt, phổ biến Pháp lệnh cho
đội ng cán bộ l nh đạo chủ chốt các quận, huyện, thị xã và các sở, ban, ngành có liên quan trên địa
bàn Thành phố. Đồng thời, phối hợp c ng các địa phương triển khai quán triệt đến tận cơ sở là các
phường, xã, thị trấn một cách sâu rộng.
Thực hiện Kế hoạch số 17/KH-UBND ngày 13/02/2012 về việc tuyên truyền, phố biến pháp
của Chính phủ qui định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Đ
o t
t ể
tí g ỡ g t g o
Đến thời điểm này chúng ta cần bổ sung, s a đổi một số điều của của háp lệnh tín ngưỡng,
tôn giáo sao cho ph hợp với đặc điểm tình hình hiện tại của nước ta, đồng thời không vi phạm các
điều ước mà chúng ta đ tham gia k kết. Đặc biệt, cần có sự phân cấp mạnh hơn cho cấp huyện và
cấp
trong công tác quản l hoạt động tôn giáo để tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo, chức
sắc, giáo dân và các cơ quan
NN như: Nên phân cấp cho cấp huyện trong việc em t đăng k
các trường hợp được bổ nhiệm, bầu c , suy c vào an ộ tự ch a của đạo hật Nghị định 92 quy
định thuộc th m quyền cấp t nh ; iao cho cấp
em t cho ph p tổ chức hội nghị, đại hội của
các tổ chức tôn giáo cơ sở háp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định thuộc th m quyền
N cấp
huyện .
Thực tế hiện nay, pháp luật mới ch điều ch nh về l nh vực tôn giáo, còn l nh vực tín ngưỡng
v n còn quản l l ng l o. ần bổ sung vào các văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hệ thống
những khái niệm cơ bản liên quan như tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan, tà đạo… ần phải ác
định r cơ chế cơ sở pháp l để phân biệt giữa tín ngưỡng với tôn giáo và hoạt động mê tín dị đoan
để các địa phương tổ chức thực hiện được hiệu quả.
Về lâu dài, pháp luật về tôn giáo phải từng bước ổn định và hướng tới giải quyết được các
mâu thu n trong thực ti n hoạt động tôn giáo giữa quy định của pháp luật và quy định của giáo hội
theo hướng: Khi Nhà nước cấp đăng k hoạt động tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo nào thì
tôn giáo đó phải có hiến chương, điều lệ, giáo luật, nghi l ph hợp với pháp luật về tôn giáo và
được Nhà nước thông qua. au khi được cấp đăng k hoạt động và công nhận về tổ chức thì tổ chức
tôn giáo đó được hoạt động tự do theo hiến chương, điều lệ, giáo l , giáo luật đ được chính quyền
chấp nhận. Trong quá trình hoạt động, nếu tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc tôn giáo và giáo
Với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình,
N cấp huyện và cấp
thực hiện việc
tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về tôn giáo; Ch đạo và kiểm tra việc thực
hiện chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào
của công dân địa phương; uyết định những biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo làm trái những quy định của pháp luật và chính sách của Nhà nước. Việc tổ chức
thực hiện tốt pháp luật về tôn giáo c ng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao
hiệu lực, hiệu quả của
NN đối với l nh vực này, nhất là đối với cấp cơ sở. Khi người dân nhận
thức được vấn đề thì việc tự giác chấp hành pháp luật là điều đáng hoan nghênh.
ông tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tôn giáo có vai trò rất quan trọng
trong việc nâng cao nhận thức pháp luật về tôn giáo. Để công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật về công tác tôn giáo đạt hiệu quả cao cần chú làm tốt những nội dung như sau:
Trước hết cần củng cố, kiện toàn đội ng làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo điều
kiện cho họ được thường uyên trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; thưởng uyên tổ chức
các cuộc thi tuyên truyền viên gi i để khuyến khích và nâng cao tầm quan trọng của hoạt động này.
ần phải đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả các hình thức, biện pháp phổ biến giáo
dục pháp luật. Tăng cường thời lượng phát sóng các chương ttình phổ biến giáo dục pháp luật về
tôn giáo trên các phương tiện truyền thanh của huyện, của . Mở rộng hoạt động tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật thông qua việc thực hiện hương ước của làng, thôn, tổ dân phố; thông qua
việc giáo dục, thuyết phục trực tiếp các bộ đảng viên, cán bộ đoàn thể, chính quyền, các tổ hòa giải,
trưởng thôn… và những người có uy tín cao trong
hội để tạo phong trào đi đầu, làm gương cho
nhân dân. hú trọng việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc ây dựng tủ sách
pháp luật ở .
Đối với các đối tượng là công dân có đạo – đây là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện
pháp luật về tôn giáo, cần thường uyên mở các cuộc họp, hội nghị học tập tìm hiểu và trao đổi về
tôn giáo cho họ nắm vững kiến thức và nhận thức đầy đủ chủ trương, chính sách và các quy định
của pháp luật về tôn giáo. Song song với việc tuyên truyền, vận động, tranh thủ, việc thực hiện
tổ chức quyên góp và phân phối, s dụng nguồn kinh phí, tài sản thu được thông qua việc quyên
góp trái quy định của các cơ sở tôn giáo, hạn chế tình trạng khiếu kiện.
ần ây dựng kế hoạch khảo sát nắm tình hình, xây dựng phương án giải quyết khiếu kiện
của tổ chức tôn giáo với các giải pháp x l trước mắt và lâu dài, chủ yếu khiếu kiện đất đai. Đồng
thời tăng cường kiểm tra, x lí không để tình trạng xây dựng cơ sở thờ tự trái phép, kiên quyết ngay
từ đầu, không để sự việc đ rồi, hạn chế các biện pháp cưỡng chế, gây ảnh hưởng xấu tới tình cảm
tôn giáo của tín đồ, tạo dư luận không tốt; chủ động phòng chống, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả,
không để người dân bị lôi kéo bởi một số tổ chức phản động, tìm ra hướng giải quyết phù hợp với
tình hình địa phương;
g
g
ợ
g
to g
oạt ộ g t g o
ông tác tôn giáo có liên quan đến nhiều l nh vực của đời sống
hội, liên quan đến các
cấp, các ngành, các địa bàn nên cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, MTT , các đoàn thể
chính trị – hội và các ngành ở các cấp. o vậy, để hoạt động
NN đối với tôn giáo đạt hiệu quả
cao,
N cấp huyện cần phải kết hợp với MTT và các tổ chức chính trị – hội trong công tác
quản l , c ng như phối hợp với nhau trong công tác giải quyết các công việc có liên quan đến tôn
giáo. Trong đó, nhà nước cần làm nòng cốt trong việc
NN về tôn giáo, tạo điều kiện cho MTT
và đoàn thể tham gia trong việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, giáo dân, giám sát
việc thực hiện chức năng
NN về tôn giáo và vận động đoàn viên, hội viên, quần chúng nhân dân
châp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật về tôn giáo.