BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN HỮU TÂM
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VKSND CẤP HUYỆN - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN CƢ JUT, TỈNH ĐĂK NÔNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60380102
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ HÀNH CHÍNH
ĐĂK LĂK - 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: NGUYỄN QUỐC SỬU
Phản biện 1: PGS.TS: VŨ TRONG HÁCH
Phản biện 2: TS: NGUYỄN HẢI NINH
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn
Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Học viện Hành chính Quốc gia - Phân viện khu vực Tây Nguyên.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Lê Cảm (2011), Về Viện kiểm sát Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát số 21 tháng 11/2011.
- Vũ Việt Hùng (Chủ nhiệm) (2011), Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm
sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trong giải quyết các vụ việc xâm phạm trật tự xã hội,
Chuyên đề khoa học, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Nguyễn Hải Phong (2014), Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động
điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Sách tham khảo, Nxb chính trị
Quốc gia – Sự thật, Hà Nội
- Vũ Việt Hùng (Chủ nhiệm) (2011), Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công
tố,kiểm sát các vụ án giết người. Chuyên đề khoa học, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
bày những lý luận căn bản về chức năng của VKSND theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật TTHS,
chỉ ra những đặc điểm trong các khâu công tác của VKSND. Tuy nhiên, chưa có công trình này đi sâu
nghiên cứu đặc điểm công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện. Do
vậy, đề tài của luận văn đã đáp ứng các yêu cầu thực tiễn cũng như lý luận đang đặt ra hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của
VKSND (cấp) huyện thông qua thực tiễn Cư Jút – Đắc Nông. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác này trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và các quy định của Hiến pháp năm 2013.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận án đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ các đặc điểm của công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án
hình sự dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; xây dựng một số khái niệm, nội dung, phương
pháp công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Khảo sát, thống kê, đánh giá tình hình thực tế của công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ
án hình sự của VKSND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông từ năm 2012 đến năm 2016;
3
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên
sâu nghiệp vụ kiểm sát
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 03
Chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông những năm qua
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân
4
Chƣơng 1
NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
1.1 Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm khởi tố, điều tra vụ án hình sự
1.1.1.1 Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của hoạt động khởi tố vụ án hình sự
- Khái niệm: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có
thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không
khởi tố vụ án.
1.1.1.2. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được xác định dựa trên các quy định tại Điều 100 Bộ luật TTHS
năm 2003 về Thẩm quyền điều tra và Chương 2 pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ
sung năm 2006, 2009) về tổ chức và thẩm quyền điều tra của CQĐT
1.1.1.3 Một số vấn đề về điều tra vụ án hình sự
Thứ chín, kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án hình sự
1.3 Yếu tố ảnh hƣởng tới kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp
huyện
1.3.1 Sự hoàn thiện của pháp luật
Xác định VKSND nước ta là hệ thống cơ quan độc lập tuy nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp
nhưng sẽ do Quốc hội lập ra, Viện trưởng VKSND sẽ do Quốc hội bầu và bãi miễn, Viện trưởng có trách
nhiệm báo cáo kết quả công tác trước Quốc hội và cơ quan đại biểu nhân dân ở địa phương.
1.3.2 Trình độ và ý thức pháp luật của cán bộ thi hành công vụ
Cán bộ và công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cán bộ là cái
gốc của mọi công việc" "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"
1.3.3 Sự kiểm tra, giám sát của chủ thể có liên quan
Khoản 2 Điều 108 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện
kiểm sát khác do luật định”.
1.3.4 Sự tích cực hỗ trợ pháp lý từ giới luật sư, luật gia
Hoạt động của luật sư là hoạt động bổ trợ tư pháp nên tất yếu liên quan đến hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng nói chung và VKSND nói riêng ở tất cả các giai đoạn tố tụng trong đó có giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CƢ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG NHỮNG NĂM QUA
2.1. Tình hình và đặc điểm của phạm tội trên địa bàn huyện Cƣ Jút, tỉnh Đắk Nông trong giai
đoạn từ năm 2012 - 2016
2.1.1. Diễn biến tình hình tội phạm
Nhìn chung tình hình tội phạm vẫn diễn ra phức tạp, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng,
tình trạng người chưa thành niên phạm tội vẫn diễn ra đáng lo ngại. Một số đối tượng phạm tội manh động
ngang nhiên chống đối pháp luật dẫn đến gây bức xúc lo lắng, căng thẳng trong quần chúng nhân dân.
2.1.2. Đặc điểm của tình hình tội phạm
trong trường hợp truy nã, bảo đảm việc bắt, tạm giữ đúng đối tượng, đúng tội, đúng pháp luật 215 vụ/240 vụ.
Thực tế công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động áp dụng, hủy bỏ, thay thế các
biện pháp ngăn chặn trong các vụ, đã bộc lộ một số vấn đề còn vướng mắc
2.2.2.2 Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định trong điều tra
vụ án
Trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường VKSND huyện đã xây dựng mối quan hệ về
việc trao đổi thông tin với CQĐT, bảo đảm mọi vụ việc khi CQĐT tổ chức khám nghiệm, thu thập tài liệu
chứng cứ ban đầu đều có Kiểm sát viên tham gia kiểm sát các hoạt động điều tra. Kết quả nghiên cứu 330 vụ
án CQĐT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường 85 vụ, chiếm tỷ lệ 27%, trong đó, KSV đã tham gia kiểm
sát việc khám nghiệm hiện trường 310 vụ. CQĐT không tiến hành khám nghiệm là 03 vụ ( trộm cắp tài sản).
2.2.2.3 Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can
Kiểm sát viên đã kiểm sát trực tiếp 239 lượt hỏi cung bị can, đạt tỷ lệ 33,3%. KSV đã tiến hành kiểm
sát trực tiếp việc hỏi cung đối với bị can từ hai lần trở lên và trực tiếp hỏi cung bị can ít nhất là một lần. Khi
kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung, ngoài việc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của Bộ Luật TTHS về hỏi cung
bị can, Kiểm sát viên còn chú ý đến việc sử dụng chiến thuật hỏi cung và thái độ của Điều tra viên, không để
xảy ra tình trạng mớm cung, bức cung… trong quá trình hỏi cung, chú trọng việc đề ra những yêu cầu cụ thể
để Điều tra viên làm rõ hành vi phạm tội của bị can, làm rõ các mâu thuẫn giữa các lời khai của bị can với
các chứng cứ khác.
- Kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng
Trong 330 hồ sơ kiểm sát điều tra vụ người cho thấy Kiểm sát viên sử dụng phương thức kiểm sát
gián tiếp thông qua việc nghiên cứu các biên bản lấy lời khai người làm chứng có 462 người, đạt tỷ lệ trên
67,1%; 174 vụ có văn bản yêu cầu Điều tra viên khắc phục các vi phạm thủ tục tố tụng trong hoạt động lấy
lời khai người làm chứng, chiếm tỷ lệ 25,3%, các dạng vi phạm như: Khắc phục tình trạng trước khi lấy lời
khai không giải thích quyền và nghĩa vụ người làm chứng, việc tẩy xóa, sửa chữa biên bản ghi lời khai không
đúng quy định, việc lấy lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi mà không có mặt của người giám hộ...
2.2.2.4 Kiểm sát việc khám xét, thu giữ vật chứng, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra
CQĐT đã tiến hành khám xét 193 trường hợp, trong đó có 72 trường hợp khám xét khẩn cấp;
VKSND tiến hành nghiên cứu, xem xét tính có căn cứ, tính hợp pháp của lệnh khám xét và đã phê chuẩn 183
trường hợp khám xét bình thường và không phê chuẩn 10 lệnh khám xét . Đối với những trường hợp CQĐT
thực hiện việc khám xét mà không có sự phê chuẩn của VKSND, thì ngay sau khi nhận được văn bản thông
trương “gắn công tố với hoạt động điều tra” theo tinh thần của cải cách tư pháp là động lực mạnh mẽ thúc
đẩy các cán bộ, Kiểm sát viên quyết tâm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng
nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
2.3.2. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân
2.3.2.1. Những hạn chế, tồn tại
Bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được, công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án
hình sự trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót cơ bản sau:
Thứ nhất, vẫn còn Kiểm sát viên chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng và trách nhiệm của
công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Các biện pháp, phương thức kiểm sát còn chung
chung, nặng hình thức, chủ yếu áp dụng biện pháp kiểm sát gián tiếp qua hồ sơ do CQĐT thu thập.Thứ hai,
năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số KSV trong công tác kiểm sát các hoạt động điều tra
như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ... còn hạn chế .Thứ ba, một số Kiểm sát viên chưa chủ
động kiểm sát toàn diện hồ sơ khởi tố vụ án hình sự nên có một số trường hợp chưa rõ thủ phạm, CQĐT chỉ
ra quyết định khởi tố vụ án, đến khi hết thời hạn điều tra thì nộp hồ sơ lưu trữ mà không tiến hành hoạt động
điều tra làm rõ vụ án. Một số Kiểm sát viên chưa nhận thức đúng về quy định “dấu hiệu tội phạm” là căn cứ
khởi tố vụ án hình sự nên cho rằng, chỉ khi nào phát hiện được người phạm tội mới được khởi tố vụ án, do đó
trong một số trường hợp không thống nhất với việc khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, làm ảnh hưởng đến
việc xử lý vụ án. Thứ tư, quá trình kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự còn chủ quan, không
thường xuyên bám sát tiến trình điều tra.Thứ năm, trong quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKSND trong một
số trường hợp do quá coi trọng tính độc lập của mỗi ngành mà không chủ động phối hợp hoặc thiếu sự phối
hợp.
2.3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế tồn tại
Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự của VKSND có
những hạn chế, tồn tại là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, trong thời gian vừa qua BLHS năm 1999 có nhiều nội dung được bổ sung, thay đổi hoàn
thiện và phù hợp với thực tiễn, nhưng nhiều điều luật còn chung chung, không cụ thể. Hai là, lực lượng cán
bộ, Kiểm sát viên làm nhiệm vụ kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự còn thiếu Ba là, năng lực,
trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ kiểm sát của một số Kiểm sát viên còn hạn chế, yếu kém, dẫn đến
việc nhận thức, áp dụng pháp luật không đúng.Bốn là, việc quản lý, chỉ đạo, điều hành còn những hạn chế
- Tình trạng người lao động từ các tỉnh, thành lân cận đến tìm việc làm, sinh sống, lập nghiệp.
- Các hoạt động quản lý xã hội như quản lý văn hóa, quản lý vũ khí, chất nổ, chất độc, quản lý con
người... trong điều kiện dân nhập cư đông sẽ gặp nhiều khó khăn
- Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm hình sự của lực lượng Công an và các ban ngành
trên địa bàn huyện Cư Jut đã được quan tâm, đầu tư đáng kể, nhưng vẫn diễn biến phức tạp, tăng giảm không
theo quy luật và có xu hướng ngày càng tăng
- Công tác điều tra, khám phá, xử lý các vụ án hình sự của CQĐT, VKSND, TAND huyện Cư Jut
đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn tồn tại những nguyên nhân khách quan, chủ quan làm ảnh
hưởng đến công tác điều tra, xử lý đối với loại tội phạm này.
- Các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có VKSND huyện Cư Jut nói riêng ngày càng được hoàn
thiện về cơ cấu, tổ chức; về trình độ chính trị, pháp luật, nghiệp vụ nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Dù đã có nhiều hình thức tuyên truyền và phổ biến pháp luật nhưng sự tiếp thu và hiểu biết pháp
luật của một bộ phận người dân còn hạn chế; ý thức xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe
của người khác vẫn còn tồn tại trong một bộ phận dân cư.
3.1.2. Nội dung dự báo
Từ những cơ sở dự báo tình hình tội phạm và căn cứ vào thực tế tình hình tội phạm trên địa bàn
huyện Cư Jut từ năm 2012 đến năm 2016, có thể đưa ra những dự báo về tình hình tội phạm trong thời gian
tới với những nội dung như sau:
- Về tình trạng, cấu trúc, diễn biến của tội phạm: Trong những năm tới, tình hình tội phạm trên địa
bàn huyện Cư Jut sẽ diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng đối với các tội cố ý gây thương tích, trộm
cắp tài sản, phá hoại tài sản, các tội về ma túy, hiếp dâm; phương thức, thủ đoạn phạm tội và che giấu tội
phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt; tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra ngày càng cao.
- Về đối tượng gây án: Ðối tượng phạm tội trong thời gian tới vẫn rất đa dạng về thành phần, trình
độ văn hóa, lứa tuổi. Tuy nhiên, vẫn tập trung nhiều ở các đối tượng có trình độ văn hóa thấp, không nghề
nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định; số lượng đối tượng phạm tội là công nhân, người lao động tự do
9
nội dung và quy trình thực hiện nhiệm vụ. Từ đó, mới góp phần cùng CQĐT làm tốt công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm hình sự
3.2.3 Tăng cường năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKSND đối với công tác
kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy chế tổ chức, hoạt động của đơn vị
đảm bảo đúng các quy định của pháp luật.Thứ hai, xây dựng chương trình hoặc kế hoạch công tác cụ thể,
trên cơ sở chỉ thị công tác hàng năm của Viện trưởng VKSND tối cao, kế hoạch công tác của VKS cấp tỉnh,
VKSND cấp huyện phải bám sát tình hình và dự báo tình hình tội phạm xảy ra tại địa bàn công tác và yêu
cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương. Ba là, lãnh đạo VKSND hai cấp phải tổ chức, thực hiện nghiêm
túc các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong chương trình hoặc kế hoạch công tác. Phân công, bố trí cán bộ quản
lý, Kiểm sát viên phải “vì việc mà chọn người”, phù hợp với khả năng, trình độ chuyên môn của từng người;
khuyến khích, phát huy năng lực sở trường, tính năng động, vận dụng sáng tạo các biện pháp, cách thức thực
hiện kỹ năng nghề nghiệp nhằm thực hiện nhiệm vụ trong từng vụ án. Đồng thời, phải tăng cường vai trò của
lãnh đạo VKS để nâng cao trách nhiệm trong việc trực tiếp thực hiện công tác kiểm sát việc khởi tố, điều tra
vụ án hình sự. Bốn là, lãnh đạo VKS cần ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý án hình sự, trong
đó có các vụ án hình sự để theo dõi quản lý tình hình tội phạm, tiến độ điều tra, kiểm sát điều tra, không để
xảy ra việc vi phạm thời hiệu điều tra, thời hạn tạm giữ hoặc Kiểm sát viên không kiểm sát thường xuyên
hoạt động điều tra vụ án hình sự.
3.2.5 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKSND trong hoạt động điều tra vụ án hình
sự
10
Một là, quá trình phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi
ngành theo quy định của pháp luật. Hai là, mối quan hệ giữa CQĐT và VKSND dựa trên những nguyên tắc
về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, các nguyên tắc chung được quy định tại Bộ luật TTHS.
3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện, kỹ thuật cho công tác kiểm sát việc hoạt
động khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Trong thời gian tới, cần đầu tư, nâng cấp xây dựng trụ sở làm việc, đảm bảo cho các đơn vị thực hiện
thực hiện công tác kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện.
2. Phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa CQĐT với VKSND, ĐTV với KSV trong quan hệ phối
hợp đối với các hoạt động điều tra. Đồng thời chỉ ra những vấn đề khó khăn, vướng mắc từ quy định của
BLHS, Bộ Luật TTHS, các Thông tư liên tịch hướng dẫn về mối quan hệ giữa hai Ngành trong hoạt động
khởi tố, điều tra.
3.Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của
VKSND huyện Cư Jut, luận án đã phân tích đưa ra một số dự báo về tình hình tội phạm và phương hướng
nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện.
5. Đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược đồng bộ, toàn diện, cụ thể và khả thi, phục vụ công tác
nghiên cứu hoàn thiện pháp luật nhất là pháp luật hình sự và TTHS; góp phần nâng cao vị trí, vai trò của
VKSND cấp huyện trong kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
11
12