Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG THỊ BẢO TRANG

.

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
Ở HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG THỊ BẢO TRANG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
Ở HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

của tác giả.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã
có những chia sẻ thông tin và tài liệu quan trọng, động viên khích lệ tinh thần để
tác giả hoàn thành tốt luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giải đã cố gắng tìm hiểu tài liệu, học hỏi
kinh nghiệm, tiếp thu ý kiến của PGS.TS Lê Thị Hương để hoàn thành luận văn.
Tuy nhiên, do hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên luận
văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ
bảo của các Thầy, Cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn, sự đóng góp của bạn
đọc để bản thân được tiếp thu, học tập và nghiên cứu tốt hơn trong những công
trình tiếp theo.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Bảo Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 9
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HỘ TỊCH .............................................................................. 14
1.1. Quan niệm về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch ................................................... 14
1.2. Quan niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch .................................................... 20
1.3. Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch .................... 32
1.3.1. Yêu cầu thực hiện pháp luật về hộ tịch ...................................................... 32
1.3.2. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch ................................... 35
Kết luận chƣơng 1 .................................................................................. 42
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH Ở
HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................... 43
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mê Linh ................................ 43

3.2.5. Áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý
hộ tịch ................................................................................................................... 87
3.2.6. Cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký hộ tịch ............................ 89
Kết luận chƣơng 3 .................................................................................. 91
KẾT LUẬN ............................................................................................. 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................ 95
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 97


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1.

UBND

Uỷ ban nhân dân

2.

THADS

Thi hành án dân sự

3.

TP - HT

Tư pháp – Hộ tịch

4.


Thực hiện pháp luật về hộ tịch là quyền và nghĩa vụ của mỗi người được
thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định. Những sự kiện
hộ tịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản và ghi vào
sổ hộ tịch. Những giấy tờ, hộ tịch đã được xác nhận và được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ghi nhận nhằm để cá biệt hoá một công dân, đây là những chứng
cứ pháp lý trong các trường hợp cần thiết. Mặt khác việc đăng ký hộ tịch giúp
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý dân số, là cơ sở khoa
học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật
tự, an toàn xã hội.
Trong quản lý nhà nước, thực hiện pháp luật về hộ tịch là một lĩnh vực hoạt
động được chú trọng và là nhiệm vụ của ngành Tư pháp.
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con
người từ khi sinh ra đến khi chết. Thực hiện pháp luật về hộ tịch không những
liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ
cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối
quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.
Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của việc thực hiện pháp luật về
hộ tịch nên trong những năm qua, kể từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐCP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như Luật
Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch cùng với Thông tư số 15/2015/TT-BTP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số

9


123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Hộ tịch... Đây chính là cơ sở pháp lý để công dân thực hiện
các quyền nhân thân và Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với công dân.
Có thể nói, từ khi có các VBQPPL nói trên, công tác đăng ký và quản lý hộ


- Ths. Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc gia, 2004;
- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Bảo vệ quyền trẻ em
trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2000;
- Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Chuyên đề thông tin
khoa học pháp lý về hộ tịch, Hà Nội, 1995;
- Nguyễn Thị Hồng Liên: Quản lý hộ tịch ở thành phố Hồ Chí Minh, luận
văn thạc sĩ luật học, 1996;
- Lê Thị Hoàng Yến: Đăng ký hộ tịch thực tiễn và hướng hoàn thiện, Luận
văn thạc sĩ luật học, 2002;
- Tổng cục Thống kê: Một số kết quả về dự án cải tiến đăng ký hộ tịch và
thống kê dân số, NXB. Thống kê, 1989;
- Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp – hộ tịch trong giai
đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9
năm 2006;
- Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch:, phần 2 hộ tịch và
quốc tịch", Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;
- Bài “Tư pháp Hà Nội không khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác
giả Đàm Thị Kim Hạnh, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 03 năm 2008;
- “Hôn nhân biên giới và những vướng mắc trong thủ tục đăng ký kết hôn”,
tác giả Phạm Trọng Cường, Tập san Biên giới và lãnh thổ, số 9 (tháng 4-2001)...
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những vấn đề chung
của thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã
hội. Nhưng đến nay chưa có công trình nào dưới góc độ lý luận và thực trạng
thực hiện pháp luật, lý giải các nguyên nhân và đề ra phương hướng bảo đảm
thực hiện pháp luật về Hộ tịch nói chung và ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích

một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Trong Chương 1, để làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật
về hộ tịch, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ thêm
quan niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về hộ tịch.
- Trong Chương 2, để minh họa về thực tiễn thực hiện pháp luật về hộ tịch ở
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân
tích, so sánh, sơ đồ hóa… từ những phân tích về thuận lợi và khó khăn tác giả chỉ ra

12


nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật về hộ tịch chưa đạt hiệu quả cao từ
đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh nói riêng và cả nước nói chung.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về hộ tịch
ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
- Luận văn đánh giá thực trạng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm thực
hiện pháp luật về hộ tịch.
- Làm tài liệu tham khảo trong việc tổng kết thực tiễn, đề xuất giải pháp
bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch, cũng như nghiên cứu giảng dạy của các
cơ sở đào tạo luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch;
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ
tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.


niệm riêng về hộ tịch.
Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các
người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh,

14


khai tử. Quan niệm thứ hai lại cho rằng, việc ghi chép vào sổ sách không phải là
hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên quan đến tình trạng nhân thân của con người
mới là hộ tịch. Có thể xem cách hiểu thứ hai là cách hiểu khá thấu đáo và toàn
diện, được khoa học công nhận và được quy định khá rõ ràng trong văn bản quy
phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày
10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì: Hộ tịch là những sự kiện cơ
bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Có thể xem những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng. Nếu theo quan niệm cũ
trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quy
định hiện nay của pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết
hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải
chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc. Các sự kiện
hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự kiện này có thể làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân.
Như vậy, có thể thấy về mặt ngôn ngữ học, từ "hộ tịch" đang được sử
dụng trong pháp luật Việt Nam hiện hành đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa
với các khái niệm của pháp luật về hộ tịch của nước ngoài.
Theo điều 1, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này
thay thế cho NĐ số 83 ngày 10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ
bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Theo Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014: Hộ tịch là những sự kiện được quy
định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi
sinh ra đến khi chết.

Theo quan niệm hiện tại: Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi,
thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện
khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khái niệm này được mở rộng phạm
vi đăng ký tại Điều 1 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của
Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Khái niệm đăng ký hộ tịch được định nghĩa như sau: Đăng ký hộ tịch là
việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử;
nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều
chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào Sổ
hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết
hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.

16


Trước khi có Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 thì trong Nghị
định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 cũng đã đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch
tương đối giống với nội dung như trong Nghị định 158. Quay về thời điểm 1995,
khi Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự, thì tại điều 54 của Bộ luật cũng có quy
phạm định nghĩa về khái niệm đăng ký hộ tịch: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi
con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định lại dân tộc, cải chính hộ tịch và
các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch”
Như vậy, Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã sử dụng phương pháp mô tả để
phán ánh đầy đủ, toàn diện khái niệm đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, về mặt kỹ
thuật, trong khái niệm đăng ký hộ tịch, chữ “tịch” đã có giá trị biểu đạt tương
đương với “đăng ký”. Chữ “tịch” có nghĩa là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ
thuộc”. Điều này tạo nên sự trùng lặp về ý nghĩa khi giải thích khái niệm (tương

nuôi. Khác với hành vi xác nhận, đối với các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng
ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn cứ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ghi chú việc đó vào sổ hộ tịch. Điểm phân biệt cơ bản giữa hành vi này với
nhóm hành vi thứ nhất là nó không làm phát sinh hiệu lực pháp lý, bởi vì bản
thân các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã đem lại hiệu lực
pháp lý cho các việc đó.
1.1.2. Pháp luật về hộ tịch
Ở nước ta, pháp luật về hộ tịch có lịch sử lâu đời từ thời phong kiến nhà
Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo. Tuy nhiên, việc quản lý hộ tịch được
thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc.
Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳ Pháp thuộc
là có một đội ngũ hương chức chuyên làm công tác hộ tịch, gọi là Hộ lại. Hộ lại
là người nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc hộ tịch trong địa
bàn cấp xã do mình phụ trách. Vì việc quản lý hộ tịch đòi hỏi phải nắm rất kỹ
từng người dân, từng gia đình nên chức danh Hộ lại được bổ nhiệm suốt đời (trừ
phi bị truất chức do vi phạm), thậm chí được khuyến khích “cha truyền con nối”.
Điểm nổi bật thứ hai trong quản lý hộ tịch thời Pháp thuộc là có hệ thống sổ sách
hộ tịch (gọi là “sổ bộ”) đầy đủ, khoa học và được bảo quản rất cẩn thận. Hiện
nay, một số sổ sách hộ tịch thời Pháp thuộc vẫn còn được lưu giữ tại các thành
phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ.
Sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần của Sắc lệnh
số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệ đăng ký hộ

18


tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ,
Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc Kỳ vẫn được tiếp
tục áp dụng.



Pháp luật về hộ tịch có các đặc điểm sau đây:
- Pháp luật về hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con
người, bởi vì mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu
hiệu về cha, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính, là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt
từng cá nhân con người.
- Có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng, đa dạng, phức tạp, bao gồm các
quan hệ xã hội phát sinh của mỗi một con người từ khi sinh ra cho tới khi chết đi
bao gồm: khai sinh, kết hôn, nhận cha mẹ con, cải chính, bổ sung hộ tịch….
- Chứa đựng các loại quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau
như: Luật hiến pháp, Luật Hành chính, Luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình….
- Có hình thức thể hiện phong phú, gồm các văn bản luật và các văn bản
dưới luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành: Luật hộ tịch năm 2014, Nghị
định số: 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật hộ tịch, thông tư số: 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch…
1.2. Quan niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân. Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm
chủ của nhân dân và có vị trí tối cao trong cách ứng xử của cả công dân, các
tổ chức và Nhà nước. Song mục đích đó có đạt được hay không, pháp luật có
triển khai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ thuộc vào hiệu
quả thực hiện pháp luật của các chủ thể.
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của
con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Dưới góc độ của pháp lý
thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Thực hiện pháp luật là một quá
trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc

Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến hành các
hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Các
quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong
phú và khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, có thể
xác định thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành
pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là
một hình thức thực hiện pháp luật, các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp
lý của mình bằng hành động tích cực. Sử dụng pháp luật là hình thức trong đó

21


các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành
vi mà pháp luật cho phép), ở hình thức này các chủ thể pháp luật có thể thực hiện
hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình. Thực
hiện pháp luật về hộ tịch được thực hiện chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật
(đối với chủ thể là công dân) và áp dụng pháp luật (đối với chủ thể là chính
quyền và các tổ chức chính trị cơ sở). Nếu xem xét thực hiện pháp luật về hộ tịch
cơ sở chính là thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch.
Tuân thủ pháp luật về hộ tịch: Là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch,
trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện các quy định cấm của
pháp luật hộ tịch.
Để đảm bảo công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện kịp thời,
đầy đủ theo các quy định của pháp luật về hộ tịch, những yêu cầu chủ thể pháp
luật phải luôn luôn tự kiềm chế mình một cách chủ động và tự giác trong mọi
điều kiện, hoàn cảnh tình huống luật định mà bản thân mình đang gặp phải để
không thực hiện những hành vi pháp luật ngăn cấm trong lĩnh vực hộ tịch.
Ví dụ: Điều 12 Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định Các hành vi bị nghiêm
cấm: Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy
tờ của người khác để đăng ký hộ tịch; Đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện

nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình đăng ký, quản lý hộ tịch.
Ví dụ: Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về Trách nhiệm đăng ký
khai sinh:
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm
đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho
con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi
dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký
khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết
thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động.
Điều 33 quy định Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con,
cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký
khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử
cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử

23


thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.
Với các quy định đã nêu trên các chủ thể ở trong các trường hợp đó,
nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời nộp phí theo quy định của
pháp luật. Như vậy, bằng hành động tích cực trong khi thực hiện các nghĩa vụ
của mình các chủ thể đã tích cực thực hiện các quy phạm pháp luật về Hộ tịch.
Sử dụng pháp luật về hộ tịch: là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch,
trong đó các chủ thể sử dụng các quyền về đăng ký, quản lý hộ tịch để bảo vệ
các quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hình thức này khác với hình thức tuân thủ
pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ có thể thực hiện hoặc không thực hiện

hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung
thông tin hộ tịch; Khai tử.
- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác
định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi
con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết,
bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ
tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của
pháp luật.
Việc đăng ký hộ tịch cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
- Tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân.
- Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung
thực, khách quan và chính xác; trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hộ tịch
theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối
bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Đối với những việc hộ tịch mà Luật này không quy định thời hạn giải
quyết thì được giải quyết ngay trong ngày; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà
không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.
- Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có
thẩm quyền theo quy định của Luật này.
Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi
thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status