Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ QUÝ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC THU HỒI
ĐẤT XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP
QUANG MINH ĐẾN ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM
CỦA NGƢỜI DÂN Ở HUYỆN MÊ LINH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Quản lý đất đai
Mã
số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Điền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá
nhân, tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Trần Văn Điền đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn UBND huyện Mê Linh, Phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện Mê Linh, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Mê Linh, các
Phòng ban chức năng của huyện Mê Linh, UBND thị trấn Quang Minh, các cán bộ
chuyên môn làm việc tại UBND thị trấn và nhân dân trong thị trấn Quang Minh đã
giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè
đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
bị thu hồi đất 16
1.4.1. Kinh nghiệm ở Thái Lan 16
1.4.2. Kinh nghiệm ở Đài Loan 16
1.4.3. Kinh nghiệm ở Trung Quốc 17
1.4.4. Kinh nghiệm cho Việt Nam 19
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Đối tượng, phạm vi, địa bàn và thời gian nghiên cứu 22
2.2. Nội dung nghiên cứu 22
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Mê Linh 22
2.2.2. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt
bằng khi thu hồi đất để thực hiện các dự án tại khu công nghiệp Quang Minh,
thị trấn Quang Minh huyện Mê Linh thành phố Hà Nội 22
2.2.3. Ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến đời sống, việc làm của người
dân tại khu vực nghiên cứu 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
2.2.4. Một số tồn tại và giải pháp thực hiện 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1. Phương pháp điều tra 23
2.3.2. Phương pháp thống kê, so sánh 23
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu 23
2.3.4. Phương pháp chuyên gia 24
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Mê Linh 25
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 28
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Mê Linh 30
3.2. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
GPMB
:
Giải phóng mặt bằng
KCN
:
Khu công nghiệp
NĐ
:
Nghị định
QĐ
:
Quyết định
BTC
:
Bộ Tài chính
BTNMT
:
Bộ Tài nguyên và Môi trường
TĐC
:
Tái định cư
TT
:
Thông tư
UB
:
Ủy ban
UBND
:
Ủy ban nhân dân
Bảng 3.7: Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân 49
Bảng 3.8: Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất 53
Bảng 3.9: Đánh giá về điều kiện cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng sau khi thu
hồi đất của các hộ dân 55
Bảng 3.10: Kết quả đánh giá tình hình an ninh, trật tự xã hội tại thị trấn Quang
Minh của các hộ dân 56
Bảng 3.11: Kết quả đánh giá chất lượng môi trường KCN Quang Minh của các
hộ dân 58
Bảng 3.12: Thu nhập bình quân của người dân thuộc khu vực nghiên cứu 61
Bảng 3.13: Thu nhập của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 61
Bảng 3.14: Sự thay đổi về thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất 64
Bảng 3.15: Sự thay đổi về lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau
khi bị thu hồi đất 66
Bảng 3.16: Đánh giá về tình hình việc làm của các hộ 70
Bảng 3.17: Sự thay đổi ngành nghề của người lao động trước và sau khi thu
hồi đất 71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Vị trí Khu công nghiệp Quang Minh 32
Hình 3.2: Sơ đồ quy hoạch tổng thể KCN Quang Minh 33
Hình 3.3: Đường vào trong Khu công nghiệp Quang Minh 34
Hình 3.4: Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Quang Minh 35
Hình 3.5: Đường trong Khu công nghiệp Quang Minh 35
Hình 3.6: Công ty cổ phần Woodsland 58
Hình 3.7: Rãnh nước thải của khu công nghiệp 60
nguồn thu hút cho các đầu tư phát triển. Việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất để xây dựng nhiều các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, các công trình kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của quốc gia và địa phương đã được triển khai. Quá
trình này diễn ra mạnh ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước, trong đó có thành phố Hà
Nội. Đặc biệt, trên địa bàn huyện Mê Linh những năm gần đây đang phát triển
mạnh mẽ về đầu tư xây dựng và kết cấu hạ tầng, hình thành khu công nghiệp, khu
đô thị mới, khu thương mại, khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng… thu hút đầu tư trong
và ngoài thành phố rất lớn góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế, xã hội
của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được của việc đổi mới kinh tế đất
nước trong đó có hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai hiện vẫn còn những bất
cập chưa được giải quyết kịp thời. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng
diễn ra mạnh mẽ đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
người dân, làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôn truyền thống. Sự thay
đổi đời sống của người nông dân có đất bị thu hồi là một vấn đề mang tính thời sự,
vấn đề mang tính xã hội trên cả nước. Thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng
với sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên thành phố tìm kiếm việc làm đang
đặt ra cho các nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định cần giải quyết.
Ảnh hưởng của việc thu hồi đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp đến
đời sống, việc làm của người dân đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm. Đó chính
là mục tiêu của đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây
dựng Khu công nghiệp Quang Minh đến đời sống, việc làm của người dân ở
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”.
* Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mê Linh;
- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà
đề sống còn của họ.
1.1.1.1. Thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn quản lý
theo quy định của Luật.
1.1.1.2. Bồi thường
Bồi thường là đền bù những tổn thất đã gây ra. Đền bù là trả lại tương xứng
với giá trị hoặc công lao. Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc
công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Trong đền bù đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của nông hộ để xây
dựng khu công nghiệp thì Nhà nước phải tính toán “đền” tiền cho người dân một
khoản tương ứng và phù hợp với giá trị hiện tại mảnh đất đó, và “bù” bằng tiền cho
những giá trị tương lai mà mảnh đất này có thể tạo ra trên cơ sở tính toán ở hiện tại.
Ngoài ra, khi thu hồi đất thì người nông dân không có việc làm do mất tư liệu sản
xuất, Nhà nước tiếp tục tính toán “bù” thêm một khoản cho người nông dân chuyển
đổi nghề mới, tạo việc làm và ổn định cuộc sống.
Nội dung của các khoản tiền đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
- Tiền đền bù đất: Là khoản tiền đền bù cho hộ do bị mất tư liệu sản xuất, cụ
thể ở đây là đất nông nghiệp.
- Tiền đền bù hoa màu: Là khoản tiền đền bù do việc thu hồi đất làm thiệt
hại đến hoa màu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức đền bù đối với
cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước tính bằng giá trị sản lượng thu
hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá
nông sản, thuỷ sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính
sách giải phóng mặt bằng. Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và
phải được thực hiện như các dự án phát triển khác.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng (hay đền bù giải phóng mặt bằng) là
quá trình đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy định tại điều 27 của Luật đất
đai năm 1993.
Bản chất của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) là chuyển
quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Do vậy để tiến hành công tác bồi thường GPMB của công trình, cần phải dựa vào
những cơ sở dưới đây:
- Nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Dựa vào kinh phí bồi thường GPMB của công trình.
- Dựa vào các loại bản đồ, sổ sách có liên quan đến công tác bồi thường GPMB.
GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án,
nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu
vực nội thành, mức độ tập chung dân cao, ngành nghề của dân cư đa dạng, giá trị
đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định. Đối với
khu vực ven đô, mức độ tập chung dân cư khá cao ngành nghề dân cư phức tạp,
hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn
bán nhỏ v.v quá trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó. Đối với khu vực
ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp. Do đó
GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt[14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
7
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ
sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất
và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ
sung về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi
đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính quy định
việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Đến năm 2013, nước ta có Luật Đất đai năm 2013 thay thế Luật Đất đai năm
2003; cùng với sự thay đổi này chúng ta có:
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc
phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24
tháng 4 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng Giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất do
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định trên cơ sở khung giá đất do
Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP. Khung giá đất để tính bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Nghị định số 87/CP được áp
dụng trong một thời gian dài trên mười năm, mặc dù trong quá trình áp dụng có quy
định việc điều chỉnh khung giá đất để tính bồi thường bằng hệ số K nhưng mức tăng
cao nhất cũng chỉ là 1 đến 2 lần đối với đất nông nghiệp hạng i. Do vậy giá đất để
tính bồi thường vẫn thấp hơn nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinh hàng loạt
các khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa phương.
- Từ khi có Luật Đất đai năm 2003: Theo quy định tại Điều 55: Giá đất được
hình thành trong các trường hợp sau đây:
+ Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá theo quy
định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của Luật này;
+ Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
+ Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan
khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Phương pháp và nguyên tắc xác định giá đất, bồi thường, GPMB, TĐC đã
được quy định khá cụ thể tại Luật Đất đai năm 2003. Đặc biệt, việc xác định giá đất
được thực hiện theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên
thị trường trong điều kiện bình thường” (khoản 1 Điều 56). Thực hiện các quy định
về giá đất tại Luật Đất đai năm 2003, ngày 16 tháng 11 năm 2004 Chính phủ đã ban
công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Điều này có nghĩa quan niệm
KCN ở Việt Nam chỉ là phần diện tích đất đai dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng cho
thuê. Tất cả các công trình phúc lợi xã hội ngoài hàng rào và gần KCN không nằm
trong khái niệm này. Từ những quan niệm như vậy mà công tác quy hoạch KCN,
mới chỉ quan tâm đến các điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng cho các cơ sở sản xuất
công nghiệp, dịch vụ. Về thực chất, đây là quá trình tập trung các cơ sở sản xuất
kinh doanh vào thành KCN, chưa tính đến một quy hoạch tổng thể gắn KCN với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
việc hình thành các cụm công nghiệp, hình thành các đô thị công nghiệp gắn phát
triển KCN cùng với phong tục, truyền thống, văn hóa dân tộc của người Việt Nam.
Hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008
quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế, đây là văn bản pháp quy mới nhất
có nêu đến khái niệm về KCN, theo đó: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý
xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị
định này [11].
Như vậy, xét về bản chất các định nghĩa không có sự khác biệt lớn, tuy
nhiên do yêu cầu của từng thời kỳ của phát triển kinh tế cũng như các quan
điểm khác nhau trong định hướng vĩ mô thì các định nghĩa này cũng có những
điểm khác nhau.
1.2.2. Xây dựng KCN tập trung
* Mục tiêu:
- Thu hút đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế.
- Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
- Tạo việc làm cho người lao động.
- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
- Xây dựng KCN dẫn tới nhu cầu về lao động vào các ngành công nghiệp tại
KCN sẽ tăng lên, lực lượng lao động ở độ tuổi còn trẻ trong vùng sẽ có cơ hội học
tập để đáp ứng được công việc. Từ đó sẽ có công việc ổn định và thu nhập cao hơn
lao động nông nghiệp trước đây. Ngoài ra, việc xây dựng KCN kéo theo nhiều loại
hình dịch vụ phát triển, vì vậy những người dân trong vùng có thêm các cơ hội về
các loại hình việc làm mới nhờ đó nâng cao thu nhập. Đối với vấn đề phát triển xã
hội, công nghiệp hoá tại các KCN góp phần phát triển xã hội một cách toàn diện:
nâng cao dân trí; cuộc sống văn minh; mở rộng và phát triển nền văn minh nhân
loại. Các KCN đã thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng: cùng với sự phát triển đô
thị, các khu vực ven đô, ngoại thành, các khu vực khác đều trở thành nơi cung cấp
lao động, cung cấp thực phẩm, lương thực, nguyên liệu cho KCN nhờ vậy mà sản
xuất cộng đồng phát triển. Không chỉ vậy, sự phát triển các KCN có thể làm thay đổi
bộ mặt văn hoá của địa phương, thay đổi theo hướng tốt hơn của nếp sống cộng đồng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
có cơ hội tiếp xúc và hưởng thụ phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá mới hiện đại,
có tiêu chuẩn tốt hơn[1].
* Tác động tiêu cực
- Bên cạnh các mặt tích cực đã nêu, việc xây dựng KCN cũng có những tác
động tiêu cực trong việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, nó sẽ phát triển theo hướng
xấu đi nếu không có sự kiểm soát, định hướng có quy hoạch của các cấp thẩm quyền.
Đặc biệt là vấn đề của người nông dân bị mất đất sản xuất, một số hộ nông dân do
quá tuổi lao động, không có trình độ theo yêu cầu của nhà tuyển dụng đã không
chuyển đổi được việc làm dẫn đến tình trạng thất nghiệp và giảm thu nhập nên kinh tế
những hộ này ngày càng đi xuống.
- Nếu vùng hoặc địa phương không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học sẽ
dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức
và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
thành lập được 79 KCN, sau 2 năm (1987) theo số liệu thống kê đã đạt 111 KCN ở 40
nước, nhìn chung mô hình KCN đã trở thành làn sóng phát triển mạnh mẽ ở nhiều
nước trên thế giới và trở thành mô hình tiến bộ đối với chương trình phát triển công
nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển vào những năm 1960 -
1970 như Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Hiện
nay, trên thế giới có hàng ngàn KCN được thành lập, tuy nhiên sự phát triển các KCN
các nước không đều, thậm chí ở một số nước không thành công nhưng số lượng loại
hình này vẫn không ngừng tăng lên [15].
Đến nay, việc xây dựng phát triển các KCN có nhiều thay đổi. Các nước tập
trung đi sâu vào quản lý chất lượng hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi, dịch vụ,
chính sách và đặc biệt là cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, nhằm hướng tới lợi
nhuận cao hơn cho các nhà sản xuất, kinh doanh đến đầu tư nhờ giảm chi phí sản
xuất về nhân công, thuế, giao thông vận tải, dịch vụ, phục vụ nhanh chóng trên cơ
sở khuyến khích từ các chính sách của nước chủ nhà dành cho các nhà đầu tư ở
trong KCN làm cho các sản phẩm hàng hoá ở đây giá rẻ, chất lượng cao lại có khả
năng cạnh tranh với các nơi khác trên thị trường thế giới và khu vực. Với các nhà
đầu tư nước ngoài vào KCN của nước sở tại còn có điều kiện thuận lợi để thâm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
nhập vào thị trường nước đó có điều kiện được cung cấp nguyên liệu tại chỗ tạo sự
ổn định về nguyên liệu và thị trường mở rộng hơn.
1.3.2. Tình hình thu hồi đất xây dựng các KCN, đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay
Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tới hơn 70% số dân là nông dân.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đang là nền tảng đối với sự phát triển của
đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, sự ra đời của
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị khang trang… thì đồng nghĩa với đó
là diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp cũng bị mất đi và một điều tất yếu là
hàng vạn người nông dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề…
phương để kiếm sống và họ phải đổ về các đô thị tìm kế mưu sinh. Tuy nhiên, do
không có nghề, phải làm thuê theo thời vụ nên cuộc sống rất bấp bênh. Đây cũng là
một trong những nguyên nhân khiến cho việc thu hồi đất thường bị kéo dài và dẫn
đến nhiều trường hợp khiếu kiện trong thời gian qua (Theo ĐCSVN, 2012) [12].
1.4. Kinh nghiệm các nƣớc trên thế giới về giải quyết việc làm cho ngƣời dân
khi bị thu hồi đất
1.4.1. Kinh nghiệm ở Thái Lan
Kinh nghiệm quan trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở
Thái Lan là sự liên kết theo mô hình tam giác giữa nhà nước, công ty và hộ gia
đình. Trong đó: Công ty giao nguyên liệu cho hộ gia đình gia công những công
đoạn phù hợp. Nhà nước hỗ trợ vốn và kỹ thuật, bồi dưỡng tay nghề cho nông dân
cũng như tạo quan hệ hợp đồng gia công giữa các hộ gia đình, các doanh nghiệp
nhỏ với các doanh nghiệp lớn. Do vậy, các ngành nghề truyền thống, các ngành phi
nông nghiệp đều phát triển mạnh, góp phần to lớn vào giải quyết việc làm và nâng
cao thu nhập cho lao động nông thôn (Đồng Văn Tuấn, 2011) [18].
1.4.2. Kinh nghiệm ở Đài Loan
Đài Loan là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, diện tích tự nhiên
là 35.981km
2
với dân số hơn 20 triệu người, là nước có mật độ dân số rất cao, diện
tích canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới. Kinh nghiệm của Đài
Loan có hai điểm đáng chú ý: Thứ nhất là thực hiện cải cách ruộng đất và phát triển
mạnh các trang trại nông nghiệp, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
hóa nông thôn; thứ hai là phát triển các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trong
nông thôn.
Cuộc cải cách ruộng đất thời kỳ 1949-1953 đã tạo điều kiện cho các trang trại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17