Quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ) - Pdf 47

O

V

OT O

N

HỌ V ỆN H NH HÍNH QUỐ

V

A

------------------------------

PH M THỊ HỒN

QUẢN LÝ NH NƢỚ

MON

Ố VỚ HO T

TRÊN ỊA

LUẬN VĂN TH

N

N TỈNH ẮK LẮK

Ố VỚ HO T

TRÊN ỊA

LUẬN VĂN TH

N

BÁO CHÍ

N TỈNH ẮK LẮK

SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03

N ƢỜ HƢỚN

ẪN KHOA HỌ : P S.TS. HO N

ẮK LẮK - 2017

VĂN HỨ


LỜ

AM OAN


trong suốt quá trình học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
PGS.TS. Hoàng Văn Chức là người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa
học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan: Sở Thông tin và
Truyền thông Đắk Lắk, Đài Phát Thanh và Truyền hình Đắk Lắk, Báo
Đắk Lắk, Tạp chí Chư Yang Sin Đắk Lắk.
Xin chân thành cảm ơn gia đình và tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn
thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh
khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của
các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Mong
ii


M

L

MỞ ẦU .................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................ 5
3.1. Mục đích nghiên cứu .......................................................................... 5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................... 6

hƣơng 2: THỰ
HO T

N

TR N

QUẢN LÝ NH

O HÍ TRÊN ỊA
iii

N TỈNH

NƢỚ

Ố VỚ

ẮK LẮK ........ 44


2.1. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động báo
chí ở Đắk Lắk .......................................................................................... 44
2.2. Thực trạng hoạt động báo chí được cấp phép trên địa bàn bàn tỉnh
Đắk Lắk ................................................................................................... 47
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên
địa bàn Đắk Lắk ..................................................................................... 56
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 69
Tiểu kết hƣơng 2 ................................................................................. 78
hƣơng 3: PHƢƠN

chí ở Đắk Lắk ......................................................................................... 82
3.2. Giải pháp nâng cao hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí ở
Đắk Lắk trong thời gian tới ..................................................................... 86
3.3. Khuyến nghị ..................................................................................... 96
Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................ 100
KẾT LUẬN .......................................................................................... 103
T

L ỆU THAM KHẢO .................................................................. 106
ANH M

PH L

……………………………………………..109

iv


DANH M C CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Viết tắt

Nội dung

1

UBND


Cơ quan thường trú

7

VPĐD

Văn phòng đại diện

8

VHNT

Văn học nghệ thuật

9

TTĐT

Thông tin điện tử

v


MỞ ẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt
Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, đồng hành
cùng dân tộc trong công cuộc đấu tranh giải phóng trước đây và sự nghiệp
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt trong hơn 30 năm qua, thực hiện

xã, thành phố; 2.470 thôn, buôn, tổ dân phố, trong đó có 608 buôn đồng bào dân
tộc thiểu số tại chỗ; tín đồ các tôn giáo chiếm gần 25%.
Hiện nay, các cơ quan báo chí của tỉnh được Bộ Thông tin – Truyền
thông cấp giấy phép hoạt động, gồm: Báo Đắk Lắk, Đài Phát thanh – Truyền
hình tỉnh và Tạp chí Chư Yang Sin (Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh). Bên
cạnh 01 Đài Phát thanh – Truyền hình cấp tỉnh còn có 15 Đài truyền thanh –
truyền hình cấp huyện, thị xã, thành phố và 184 Đài truyền thanh cấp xã,
phường, thị trấn. Ngoài ra, còn có một số cơ quan báo chí Trung ương và báo
ngành thường trú tại địa phương (11 cơ quan báo chí đặt văn phòng đại diện
và 05 cơ quan báo chí có phóng viên thường trú).
Hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua đã có
những đóng góp quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến cán bộ, đảng viên, các tầng lớp
nhân dân; sự chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương về các
chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp của tỉnh nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ đề ra; chú trọng tuyên truyền, biểu dương gương điển hình tiên tiến; phê
phán những tiêu cực, thói hư, tật xấu trong đời sống xã hội; đấu tranh phản
bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số biểu
tình, gây rối, vượt biên trái phép…Các cơ quan báo chí của tỉnh ngày càng
được đổi mới cả về hình thức và nội dung; cung cấp, truyền tải thông tin ngày
2


càng phong phú, nhanh chóng kịp thời, góp phần quan trọng vào sự phát triển
trên mọi lĩnh vực của tỉnh; thực hiện nghiêm tôn chỉ, mục đích, phục vụ có
hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, hiệu quả, hoạt động báo
chí của tỉnh Đắk Lắk vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định: Nội dung,
hình thức báo chí chưa thật hấp dẫn, hiệu quả tuyên truyền chưa cao, chưa
thật sự chi phối làm chủ thông tin và dư luận xã hội; tuyên truyền các điển

nhà nước và pháp luật về báo chí, Nxb Văn hóa Thông tin.
- TS. Lê Minh Toàn (2009), Quản lý nhà nước về thông tin và truyền
thông, Nxb Chính trị quốc gia.
- TS. Hoàng Quốc Bảo (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí
ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính.
- TS. Nguyễn Thế Kỷ (2012), Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong
25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia.
-Ths. Phí Thị Thanh Tâm (2009) “Quản lý nhà nước về báo chí trong
thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
- Một số bài viết trên các báo tạp chí như:
- TS Hà Huy Phượng, (2017) Báo chí – Công cụ hoạt động hiệu quả
trong công tác tư tưởng 2017;
- Ths. Doãn Thị Thuận, (2016) Kinh nghiệm quản lý báo chí điện tử ở
một số quốc gia trên thế giới;
- Ths. Nguyễn Thị Mai Anh, ( 2016) Quản lý nhà nước về báo chí trong
thời kì đổi mới.
Tóm lại tất cả các công trình liên quan đến lĩnh vực Quản lý nhà nước
đối với hoạt động báo chí và truyền thông mà tác giả liệt kê ở trên là các công
trình xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về hoạt động báo chí và
quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí, vai trò và đóng góp của báo chí
4


trong đời sống xã hội. Phân tích những bất cập của pháp luật nước ta trong
những quy định về quản lý hoạt động báo chí. Trình bày các ưu khuyết diểm
trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí của Nhà nước ta
và tìm ra các nguyên nhân. Từ cơ sở trên, hầu hết các tác giả đề ra những biện
pháp mang tính khả thi cho công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo
chí truyền thông và đưa ra những ý kiến mới cho việc xây dựng pháp luật
hoàn thiện và chặt chẽ hơn, nhằm tạo ra hành lang pháp lý tích cực cho công

báo chí, vận dụng trong quản lý nhà nước đối với báo chí trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động báo chí và quản lý nhà nước
đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua.
- Phân tích phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk trong thời gian tới.
4. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quản lý nhà nước đối với hoạt
động của báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những nội dung quản lý nhà nước
đối với hoạt động của báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo quy định của
pháp luật.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt
động báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, thuộc thẩm quyền quản lý của UBND
tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
6


Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Việt Nam về báo chí cách mạng và quản lý nhà nước đối với hoạt động báo
chí trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

nhà nước đối với báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.

8


hƣơng 1
Ơ SỞ KHOA HỌ QUẢN LÝ NH NƢỚ
HO T

N

Ố VỚ

BÁO CHÍ

1.1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1. Thông tin và truyền thông
- Thông tin:
Chúng ta đang sống trong thời đại mà ngôn ngữ thông tin được đề cập
mọi lúc, mọi nơi, chẳng hạn như, một nền công nghiệp thông tin, một xã hội
thông tin, thông tin là nguồn lực của sự phát triển, thông tin là lợi nhuận…Có
thể nói, khái niệm thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học, cũng là khái
niệm trung tâm của xã hội trong kỷ nguyên số. Mọi quan hệ, mọi hoạt động
của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Mọi tri
thức đều bắt nguồn bằng một thông tin về những điều đã diễn ra, về những cái
người ta đã biết, đã nói và đã làm. Và điều đó luôn xác định bản chất và chất
lượng của những mối quan hệ của con người
Thông tin được hiểu là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm
tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao
tiếp, một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các

hiện. Trong thực tiễn báo chí hiện nay, khi đề cập tới thuật ngữ thông tin, các
nhà báo cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau. Có trường hợp, các nhà báo
sử dụng nó để biểu thị tính chung nhất của các thông báo ngắn, không kèm
theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin vắn, tin ngắn). Trong
trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi
chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn…
Thông tin hiện thực là những thông tin được nhà báo sáng tạo và được
công chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ
là người nhận thứ hai (nghe người đã từng đọc, từng xem qua kể lại). Việc
10


đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng
được thể hiện qua các tác phẩm và chương trình là cần thiết, đảm bảo cho
thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực.
- Truyền thông:
Truyền thông (communication) là quá trình truyền đạt, chia sẻ thông
tin, là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của ít nhất 02 tác nhân. Lịch
sử loài người cho thấy, con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và
tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn
ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi…để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ
thái độ cảm xúc). Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn
kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi. Chính
vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con
người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội. Nói cách
khác, truyền thông là một trong những hoạt động căn bản của bất cứ một tổ
chức xã hội nào. Thông thường người ta thường chia truyền thông thành 3
loại đó làTruyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác);Truyền
thông tập thể (truyền thông trong nội bộ một tổ chức);Truyền thông đại
chúng.

thông chính là phương tiện hữu hiệu trong việc cung cấp, trang bị thông tin,
kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, góp phần nâng cao nhận thức cho công
chúng. Đây cũng là lý do tạo nên sự tin tưởng của công chúng đối với chất
lượng và nội dung thông tin được báo chí đưa ra. Chính từ sự tin tưởng đó,
công chúng mới đi theo định hướng của báo chí, có phản hồi và tích cực hợp
tác, thậm chí trở thành nguồn tin của báo chí.
1.1.2. Báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin, tuyên truyền. Trong xã hội có giai
cấp, báo chí là công cụ đấu tranh giai cấp. Theo các nhà nghiên cứu, báo chí
12


là một mặt của đời sống xã hội, từ khi ra đời đến nay đã tồn tại song hành
cùng quá trình phát triển của loài người. Trong quá trình đó, báo chí có những
tác động to lớn đối với xã hội loài người được thể hiện trên nhiều phương
diện kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…
Việc nhận thức đúng vai trò của báo chí có ý nghĩa rất lớn góp phần
vào việc điều hòa các mối quan hệ xã hội theo định hướng chung của nhà
nước, tạo ra môi trường ổn định để phát triển kinh tế, xã hội. Vì thế, trong quá
khứ cũng như hiện tại có nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra những khái niệm
khác nhau về báo chí dưới những góc độ khác nhau.
Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ
“information” có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như
việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung
quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một
cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo- tác phẩmcông chúng” [47, tr.6].
Một số quan điểm khác thì không định nghĩa báo chí riêng biệt mà gắn
liền báo chí với truyền thông. Ở cách hiểu này, trong Từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học định nghĩa báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung
nhất và trừu tượng nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức

được định nghĩa tại Điều 1 Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 như sau:
áo chí nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện
thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận
của các tổ chức Đảng cơ quan nhà nước tổ chức xã hội; là diễn đàn của
nhân dân”. [45, Đ.1]
Cũng tại Điều 3 Luật Báo chí quy định: Báo chí nói trong luật này là
báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông
tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình,
chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ

14


thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính)
bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.
Luật Báo chí năm 2017 có 6 chương, 61 điều, trong đó có 32 điều mới,
29 điều sửa đổi. Luật Báo chí năm 2017 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 5.4.2016 và Chủ tịch nước công bố
Luật ngày 29.4.2016. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2017. Kết cấu các
chương của Luật Báo chí lần này đã bỏ chương quản lý nhà nước về báo chí,
thay đổi kết cấu chương III (Nhiệm vụ quyền hạn của báo chí), chương IV
(Tổ chức báo chí và nhà báo) của Luật Báo chí 1999 thành chương III (Tổ
chức báo chí) và chương IV (Hoạt động báo chí) trong Luật Báo chí mới. Ở
Điều 4, Luật Báo chí 2017 định nghĩa

áo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là
cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng cơ quan nhà nước tổ chức chính trị xã hội tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp tổ chức xã hội tổ chức xã hội nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân”. [21, Đ.4]
1.1.3. Hoạt động báo chí

của cụm từ này, chúng ta đi từ khái niệm quản lý.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Theo cách
hiểu chung nhất của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ
thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt
được những mục đích đã định trước.
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến
các đối tượng quản lý; Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi
đó và lúc đó có hoạt động chung của con người.Mục đích, nhiệm vụ của quản
lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt
động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hành động thống nhất của tập

16


thể để hướng đến mục tiêu đã định trước.Quản lý được thực hiện bằng tổ chức
và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong quản lý.
Nói đến Quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt động
của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định và
phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Với vai trò là thiết chế trung
tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho
công dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự
do ngôn luận, tự do báo chí. Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo
báo chí phát triển, đáp ứng các nhu cầu về thông tin của nhân dân, đóng góp
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh chống các thế
lực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận, tự do báo chí để đưa ra các
luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây mất an ninh
chính trị và trật tự trong nước.
Qua việc khái quát trên chúng ta có thể hiểu quản lý Nhà nước đối với
báo chí là tổng thể những hoạt động của bộ máy Nhà nước trên cơ sở những

do pháp luật quy định.
Có thể hiểu quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin là
quyền của mỗi người được tự do bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan điểm; tự do
trao đổi các thông tin trên hệ thống báo chí, xuất bản, Internet, trong các cuộc
hội họp…theo quy định pháp luật. Bằng việc ban hành các bộ luật: Luật xuất
bản, Luật báo chí, Luật công nghệ thông tin…, những quy định của Hiến pháp
về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin đã được cụ thể
hóa. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Công dân có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực
hiện các quyền này do pháp luật quy định. Các quyền tự do ngôn luận, báo chí
đã được khẳng định ngay trong Điều 10, Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) của
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status