Đề án thương mại: Vấn đề huy động vốn trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật hiện hành - Pdf 47

MỤC LỤC


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, công ty cổ phần là một trong những loại hình doanh
nghiệp mới ra đời nhưng đang ngày càng phát triển và phổ biến hơn ở Việt Nam
trong những thập kỷ qua. Là một công ty đối vốn nên nó luôn có sức hút đối với
những người kinh doanh ưa chuộng sự hữu hạn trong chế độ trách nhiệm về tài sản.
Đặc biệt, loại hình doanh nghiệp này còn cho phép huy động vốn nhằm mở rộng
quy mô cũng như tạo uy tín trong thị trường các doanh nghiệp hiện nay.
Nói về huy động vốn, đây vừa là một lợi thế nhưng cũng là một khó khăn của công
ty cổ phần. Bên cạnh việc tạo nguồn vốn dồi dào cho công ty - vấn đề có vai trò hết
sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì công ty đó cũng sẽ phải đối
mặt với rất nhiều vấn đề trong việc quản lý và tổ chức do không giới hạn về thành
viên của công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của công ty cổ phần trong thời đại ngày nay,
với mong muốn tìm hiểu thêm về huy động vốn trong loại hình công ty này, cũng
như nhận thức được rằng quyền phát hành cổ phần đang là vấn đề hết sức mới mẻ,
tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về các hình thức huy động vốn trong công ty
cổ phần theo quy định của pháp luật hiện hành”. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được,
tôi tập trung vào các hình thức huy động vốn, qua đó phân tích và rút ra được những
mặt còn hạn chế của các cách thức này. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm đóng
góp để vấn đề về huy động vốn được dễ dàng hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về các hình thức huy động vốn

hình thức huy động vốn cũng như rèn luyện kỹ năng tư duy, phân tích để hoàn thiện
bản thân ngày một tiến bộ hơn.
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài
kết cấu thành 2 Chương, gồm:
Chương 1: Khái quát về công ty cổ phần và một số vấn đề huy động vốn trong công
ty cổ phần
Chương 2: Một số hình thức huy động vốn trong công ty cổ phần

3


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về công ty cổ phần
Pháp luật hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về công ty cổ
phần mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết công ty cổ phần 1. Điều 110 Luật
Doanh nghiệp 2014 có quy định:
“1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không
hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ

Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân có tài sản riêng, độc lập với tài sản của tổ chức,
cá nhân khác, có khả năng tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình. Một
khi khối tài sản doanh nghiệp được bảo vệ, tách bạch như vậy, doanh nghiệp mới có
thể tự do sử dụng, bán, thế chấp tài sản của mình cho những người vay. Nếu không
có tư cách pháp nhân, doanh nghiệp sẽ rất khó giao kết hợp đồng được, không tạo
lập được nhiều sự tin tưởng ở khách hàng một khi có sự không rõ ràng, minh bạch
trng hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời sự độc lập về tài sản nó cho
phép các chủ nợ của doanh nghiệp quyền ưu tiên siết nợ với tất cả các loại tài sản
của doanh nghiệp. Tư cách pháp nhân góp phần phân biệt với nợ doanh nghiệp và
nợ thành viên, giúp chủ nợ dễ dàng thực hiện quyền đòi nợ.2
1.2. Khái niệm về vốn trong công ty cổ phần
Hiện nay pháp luật Việt Nam không có khái niệm về vốn của công ty cổ
phần. Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm vốn của doanh nghiệp nói chung thì có thể
hiểu vốn của công ty cổ phần là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc
quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được sử dụng trong kinh
doanh.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành các hoạt động kinh doanh,
công ty cổ phần phải có vốn. Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn
của công ty cổ phần là hết sức phức tạp, được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên
những tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, vốn của công ty cổ phần được chia thành:
vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay).

2 />
5


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung


CHƯƠNG 2: MỘT SỐ HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN
2.1. Phát hành cổ phiếu
2.1.1. Khái niệm cổ phần, cổ phiếu
Cổ phần:
Luật doanh nghiệp hiện hành quy định cụ thể và rõ ràng các loại cổ phần mà
công ty cổ phần được phép phát hành, bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu
đãi.
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần do công ty phát hành một cách rộng rãi,
theo đó các chủ thể có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty
đều có quyền mua để trở thành chủ sở hữu của công ty cổ phần.Hay nói cách khác,
đây là loại cổ phần bắt buộc phải có khi thành lập công ty cổ phần . Người sở hữu cổ
phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Cổ đông phổ thông được hưởng đầy đủ
quyền và lợi ích theo quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014.
Ngoài cổ phần bắt buộc là cổ phần phổ thông ra, công ty cổ phần có thể có
cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi cho phép người nắm giữ sở hữu một phần của công
ty với những quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông. Thông thường, cổ
phần ưu đãi được công ty sử dụng để tăng vốn khi tỉ trọng nợ đã quá cao làm giảm
vị thế tín dụng của công ty4. Theo khoản 2 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ
phần ưu đãi gồm: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi
hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác. Trong đó:
Cổ phần ưu đãi biếu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so
với cổ phần phổ thông. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng
lập được quyền nắm giữ cổ phần này. Luật Doanh nghiệp cũng quy định cổ phần ưu
đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công
ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu
đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.

4 />
7

- Chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty (nếu có);
- Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;
- Các nội dung khác theo quy định tại các Điều 116, 117 và 118 của Luật này đối
với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi.
Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát
hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng. Người đại diện
8


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

theo pháp luật công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra.
Trường hợp cổ phiếu bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng dưới hình thức khác thì cổ
đông được công ty cấp lại cổ phiếu theo đề nghị. Điều này nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cổ phiếu cũng như của công ty, với tư cách là một
tổ chức phát hành cổ phiếu.
2.1.2. Phát hành cổ phiếu và quy định của pháp luật về phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần cho người
đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty. Kết quả của việc chào bán cổ
phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm
tăng vốn điều lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động. Việc phát
hành cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có trong công
ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông 5. Đặc trưng của hình thức
này là tăng vốn những không tăng nợ của doanh nghiệp bởi những người sở hữu cổ
phiếu sẽ trở thành thành viên công ty. Kết quả của việc bán cổ phiếu sẽ làm tăng
vốn điều lệ của công ty. Do vậy, việc quyết định loại cổ phần, tổng số cổ phần của
từng loại được chào bán sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định còn Hội đồng quản

lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty.
- Chào bán ra công chúng: là phương thức phát hành trong đó cổ phiếu được bán
rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư với khối lượng cổ phiếu
phát hành đạt được một tỉ lệ quy định nhất định và phải dành một tỉ lệ nhất định cho
các nhà đầu tư nhỏ.
- Chào bán cổ phần riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể được
bán cho phạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông thường bán
cho những người trong công ty.
Các quy định về hồ sơ, thủ tục chào bán của ba hình thức trên được thực hiện theo
Điều 123, 124, 125 và 126 Luật Doanh nghiệp 2014.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán. Công ty cổ phần muốn phát hành cổ
phiếu ra công chúng phải đáp ứng các yêu cầu về vốn, thời gian hoạt động, đội ngũ
quản lí, hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính khả thi của dự án sản xuất trong tương
lai6 được quy định rõ trong Khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ
sung năm 2013:
“Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười
tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi,
đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán;
6 />
10


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán

11


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

Như vậy, khác với cổ phiếu (là chứng từ xác nhận cổ phần trong công ty), trái phiếu
chỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn định
trong trái phiếu. Quan hệ giữa người sở hữu trái phiếu với công ty là quan hệ giữa
chủ nợ với con nợ. Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi ích tài sản, trái
phiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan đến việc hình thành
thị trường chứng khoán.7
Phát hành trái phiếu:
Phát hành trái phiếu là cách thức vay vốn, theo đó người vay phát hành một
chứng chỉ thường là với một mức lãi suất xác định, đảm bảo thanh toán vào một
thời hạn xác định trong tương lai. Người mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của
công ty, nhận được một mức lãi suất cố định và thanh toán khoản vay khi đáo hạn.
Phát hành trái phiếu là một trong những cách thức vay vốn quan trọng của công ty
cổ phần8. Đặc trưng cơ bản của hình thức này là tăng vốn gắn liền với tăng nợ cho
công ty. Với hình thức này, công ty cổ phần có thể huy động được một lượng vốn
cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn và không bị người cho vay kiểm
soát chặt chẽ so với các hình thức vay vốn khác như ngân hàng, doanh nghiệp.
Nguyên tắc phát hành trái phiếu:
Theo điều 4 Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
(sau đây gọi tắt là NĐ 90/2011), nguyên tắc phát hành trái phiếu như sau:
- Danh mục phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách
nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn.
- Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công

chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Báo cáo tài
chính được kiểm toán của doanh nghiệp phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý
kiến chấp nhận toàn phần. Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước
ngày 01 tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được
kiểm toán thì phải có:
- Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh có lãi;
- Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi
được kiểm toán (nếu có);
- Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có
lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt
theo Điều lệ hoạt động của công ty.
c) Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn
trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp
luật chuyên ngành;
13


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

d) Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và
chấp thuận quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định này.
2. Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, doanh
nghiệp phát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này
còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo
chứng quyền;


phần đi vay, thẩm định tính khả thi của phương án sử dụng vốn vay. Từ đó, ngân
hàng mới đưa ra quyết định cho vay vốn, công ty cổ phần phụ thuộc hoàn toàn vào
sự phân tích chủ quan của ngân hàng.9
Điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi công ty cổ phần có nhu cầu vay vốn ngân
hàng, ngân hàng thường yêu cầu công ty đó phải có các bảo đảm tiền vay. Theo
Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì công ty cổ phần có thể thực hiện giao dịch bảo đảm
bằng cách cầm cố, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh bằng tài sản
của bên thứ ba.
Khi vay vốn có các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trên, công ty và ngân hàng phải
lập hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm có chứng nhận của Công chứng nhà
nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Việc kiểm tra tính
hợp pháp và điều kiện của tài sản đảm bảo tiền vay do ngân hàng thực hiện.
Sự kiểm soát của ngân hàng: Công ty cổ phần chịu sự kiểm soát của ngân
hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay ngân hàng. Thông qua sự kiểm soát
đó, ngân hàng đảm bảo tiền của mình sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Trong
một số trường hợp, công ty cổ phần có thể mất đi quyền tự chủ trong kinh doanh
của mình, ngân hàng có thể tham gia quá sâu vào việc ra các quyết định của công
ty.10
2.2.3. Tín dụng thuê mua
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng khó
tiếp cận vốn vay ngân hàng. Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính là một giải
pháp để tài trợ vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp.
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi
nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990
với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính. Cho đến nay, sau khi Luật các tổ chức
tín dụng 2010 được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều
chỉnh một cách chi tiết và hệ thống (tại Điều 4, Điều 112 đến Điều 116).
9 />10 />
15

thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác...) giữa bên cho thuê là công ty cho
thuê tài chính (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) với khách hàng thuê (khách hàng có
nhu cầu thuê thường là các doanh nghiệp, các bên đối tác trong liên kết kinh tế).
Trong trường hợp này khách hàng thuê là các công ty cổ phần.
- Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng.
- Công ty cho thuê tài chính giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê, bên thuê có nghĩa vụ
nộp tiền thuê (tiền trích khấu hao tài sản cho thuê) cho công ty cho thuê tài chính.
16


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các
thỏa thuận trong hợp đồng thuê.
- Loại hình cho thuê tài chính có lợi thế là người thuê không cần bỏ toàn bộ số tiền
ra một lúc để có máy móc, thiết bị, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản
như trong các giao dịch vay vốn khác; bên đi thuê tài chính không phải chịu những
rủi ro do sự mất giá của tài sản, hao mòn tự nhiên...11
Công ty cổ phần khi sử dụng hình thức này được hưởng các quyền ghi trong hợp
đồng thuê tài chính, ngoài ra theo Nghị định 39/2014 của Chính phủ quy định công
ty cổ phần cũng có quyền nhận và sử dụng tài sản thuê theo quy định của hợp đồng
cho thuê tài chính, quyết định việc mua tài sản hoặc tiếp tục thuê sau khi kết thúc
thời hạn thuê, và yêu cầu bên cho thuê bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê vi
phạm các điều khoản, điều kiện theo quy định của hợp đồng cho thuê tài chính. Bên
cạnh đó công ty cổ phần cũng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ
của bên thuê tài chính (Điều 20 Nghị định 39/2014)
Các sản phẩm cho thuê tài chính hiện nay cũng đa dạng và phát triển theo


Phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bên bán và thuê lại
Không có tranh chấp
Không được sử dụng để đảm báo thực hiện các nghĩa vụ khác
Đang hoạt động bình thường.
Ngày nay, doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin về các công ty cho thuê tài

chính một cách nhanh chóng. Các công ty cho thuê tài chính với đội ngũ nhân viên
chuyên nghiệp, tận tình và am hiểu về thị trường cam kết mang lại cho doanh
nghiệp sự hài lòng và hơn hết là tính hiệu quả trong các quyết định đầu tư của mình,
đảm bảo cho một sự đồng hành tin cậy trên con đường phát triển của doanh nghiệp
và cả công ty cho thuê tài chính.
2.3. Một số bất cập và giải pháp về cách thức huy động vốn trong công ty cổ
phần
2.3.1. Về vốn chủ sở hữu
Bên cạnh những mặt lợi ích về vốn chủ sở hữu mà công ty cổ phần có được
thì còn có những mặt hạn chế, bất cập mà các nhà đầu tư không thể tránh khỏi.
Việc phát hành cổ phiếu cũng có nghĩa là bán một phần quyền sở hữu công ty cho
người mua cổ phiếu. Điều này có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông trong
công ty và vì vậy có thể thay đổi cơ cấu quản lí và kiểm soát công ty.
Tại điều 113 Luật Doanh nghiệp 2014, nên nêu rõ, cụ thể hoặc bao quát các loại cổ
phần ưu đãi khác là những cổ phần ưu đãi gì hay tính chất như thế nào. Việc thêm
các loại cổ phần ưu đãi nhằm thu hút nhà đầu tư từ các nước trên thế giới, trong giai
đoạn Việt Nam là chủ nhà của diễn đàn APEC, cũng như đang là một nước thành
viên của hiệp định TPP… Một số nước châu Á hiện nay còn có các cổ phần ưu đãi
như cổ phần ưu đãi dồn lãi, cổ phần ưu đãi mua lại…
2.3.2. Về vốn tín dụng
Trái phiếu:

18

Hình thức này cũng tồn tại những hạn chế không tránh khỏi như hệ thống văn bản
pháp luật còn chồng chéo. Hơn nữa khi doanh nghiệp vay vốn thì khoản vay thường
lớn nên lãi suất cao, mặt khác, nguồn vốn của ngân hàng thương mại là nguồn tài
trợ ngắn hạn nên doanh nghiệp chỉ được vay tối đa là 12 tháng. Điều này gây khó
khăn rất lớn cho các doanh nghiệp khi đi vay vốn ngân hàng là phải chịu áp lực trả
lãi và thời hạn trả.
12 />
19


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

Tín dụng thuê mua:
Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ
biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các
doanh nghiệp Việt Nam không mấy quan tâm đến loại hình dịch vụ này, nguyên
nhân có thể là vì:
Doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê tài chính còn hạn chế;
Hợp đồng thua mua khá phức tạp; hoạt động quảng bá, giới thiệu dịch vụ này đến
doanh nghiệp còn yếu;
Chi phí thuê mua (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê, phí, bảo hiểm...) hiện nay
còn khá cao. Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn, chi phí bỏ ra ban đầu thấp... thì cho đến
hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ phải thanh toán tổng
số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với đi vay từ các nguồn khác như ngân hàng.
Như vậy, nếu tính ra lãi suất thì lãi suất thuê tài chính cao hơn lãi suất vay ngân
hàng, bởi vì lãi suất thuê tài chính còn phải cộng thêm các chi phí về lắp đặt, vận
hành, bảo hiểm... của bên cho thuê phải bỏ ra.

những vấn đề về huy động vốn sẽ thực hiện dễ dàng, rõ ràng hơn.

21


Đề án môn Luật Thương mại
Đào Thị Nhung

GVHD:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành:
1. Luật doanh nghiệp 2014
2. Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung năm 2013
3. Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
4. Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
5. Luật các tổ chức tín dụng 2010
6. Nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho
thuê tài chính
Luận văn, luận án, bài viết, bài báo đã tham khảo:
1. Tiểu luận huy động vốn trong công ty cổ phần.
/>2. Tổ chức có tư cách pháp nhân có những ưu điểm gì.
/>3. Tiểu luận văn giải pháp tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
/>4. Khái niệm cho thuê tài chính
/>5. Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần
/>6. Công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng những cách nào?
/>7. Thực trạng huy động vốn trong công ty cổ phần hiện nay
/>22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status