BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
……/……
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MAI ANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
……/……
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MAI ANH
Danh mục các bảng, biểu đồ
Trang
MỞ ĐẦU …………………………………………………………...………………………….. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài …………...………………………………...………. …….……1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn ……...………..…………..…….….. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………..…………. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………………………………………………..….. 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ……………....………………….. 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ………………..……………………....... 5
7. Kết cấu của luận văn ………………………………………….……….…………………. 6
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG,
CHỐNG MA TÚY ……………………………..………………....……….……......……… 6
1.1. Những khái niệm cơ bản ……………………………………………………………... 6
1.1.1. Ma túy và tác hại của ma túy …………..…………….………………….. 6
1.1.2. Phòng, chống ma túy ……………………………………...………………..8
1.1.3. Quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ……..…………………..10
1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ……..…….... 11
1.2.1. Định hướng cho công tác phòng, chống ma túy ………..….…...… 11
1.2.2. Bảo đảm cho công tác phòng, chống ma túy ……………..……...... 12
1.3. Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ……………………..... 15
1.3.1. Hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình về PCMT...... 15
1.3.2. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống ma túy ….... 17
1.3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và bố trí nguồn lực về PCMT…... 18
1.3.4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyêt khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
trong quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ……...……..…... 21
1.3.5. Hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma túy ………………….…… 22
1.4. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy…… 23
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ở một số địa
chống ma túy với các chương trình, mục tiêu, chiến lược đấu tranh
phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh …………...…………………..…… 66
3.1.2. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi người trước hiểm họa của
tệ nạn ma túy ……………………………………………………………………...… 67
3.1.3. Thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, quần chúng
nhân dân vào công tác quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy …………. 68
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy trên địa
bàn tỉnh Phú Yên ……………………………………………………...................…… 71
3.2.1. Nâng cao chất lượng xây dựng văn bản hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức
thực hiện pháp luật về phòng, chống ma túy trên địa bàn tỉnh ……. 71
3.2.2. Kiện toàn bộ máy, tăng cường nguồn nhân lực, vật lực và nâng cao
trách nhiệm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện
trong phòng, chống ma túy trên địa bàn tỉnh ………….....…… 73
3.2.3. Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan chức năng và các cơ quan,
tổ chức liên quan trong quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy ……….…. 76
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy
trên địa bàn tỉnh ……………………...…...………...…………………...……….…. 79
Tiểu kết chương 3 ………………………………..……………………..………..….….….. 82
KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .………………………….…...…..…….. 84
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng
Trang
Bảng 2.1. Thống kê tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Phú Yên
ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do chịu ảnh hưởng trực tiếp
tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trong khu vực, trên thế giới, tình hình hoạt
động tội phạm ma túy ở nước ta diễn biến hết sức phức tạp. Các đường dây vận
chuyển ma túy vào Việt Nam không chỉ từ các nước láng giềng, trong khu vực,
các nước ASEAN, Châu Á, mà còn từ các nước thuộc các châu lục khác như
Bắc Mỹ, Châu Âu. Đặc biệt, nghiêm trọng hơn là nhiều băng nhóm tội phạm
ma túy cấu kết chặt chẽ với nhau hoạt động theo kiểu “xã hội đen” để vận
chuyển trái phép chất ma túy vào nước ta với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh
vi, xảo quyệt. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống ma túy là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu không chỉ của mỗi quốc gia, dân tộc mà còn là nhiệm
vụ cao cả của cộng đồng quốc tế.
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của công tác này, những năm qua
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách pháp luật về phòng,
chống ma tuý như Nghị quyết 06/CP ngày 29/01/1993 của Chính phủ về tăng
cường chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; Chỉ thị số 06CT/TW ngày 30/11/1996 của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo
công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày
26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và
kiểm soát ma túy trong tình hình mới; Chiến lược Quốc gia phòng, chống và
kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Trên
cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã tích cực xây dựng và hoàn
thiện hệ thống văn bản pháp luật về phòng, chống ma túy làm cơ sở pháp lý tổ
1
chức và hoạt động phòng, chống và kiểm soát ma túy như: Sửa đổi, bổ sung Bộ
luật hình sự; Ban hành Luật phòng, chống ma túy (tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội
khóa X) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy
(tại kỳ họp lần thứ 3, Quốc hội khóa XII)…
Triển khai thực hiện các Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị quyết và các
Chương trình hành động phòng, chống ma túy của Chính phủ, công tác phòng,
lý nhà nước về phòng, chống ma túy dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho những
giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về ma túy”
của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phùng Hồng, Tạp chí CAND và Đại tá Vũ Hùng
Vương, Cục CSĐT tội phạm về ma túy năm 2001 [37]. Đề tài tập trung đi sâu,
phân tích làm rõ thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma
túy, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó phân tích làm rõ những luận
cứ khoa học cho các giải pháp mà tác giả nghiên cứu và đưa ra.
- Công trình “Một số vấn đề về xây dựng thế trận phòng, chống tội phạm
về ma túy của lực lượng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về ma túy” của Đại tá Vũ
Hùng Vương, Nhà xuất bản CAND, Hà Nội, năm 2000 [38]. Công trình đã trình
bày cơ sở khoa học để xây dựng thế trận phòng, chống tội phạm về ma túy của
lực lượng Công an nhân dân, đưa ra khái niệm về thế trận phòng chống tội
phạm ma túy, cơ sở lý luận để xây dựng thế trận phòng, chống tội phạm ma túy
của lực lượng Công an nhân dân.
- Cuốn sách “Tội phạm về ma túy, thực trạng, nguyên nhân và các giải
pháp phòng ngừa” của Tiến sỹ Vũ Quang Vinh, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà
Nội năm 2005 [39]. Tác giả đã phân tích sâu về tình hình phạm tội sản xuất,
buôn bán, vận chuyển chất ma túy trên thế giới. Đánh giá những thực trạng,
nguyên nhân tình hình phạm tội về ma túy ở Việt Nam. Tác giả đã đưa ra một
số biện pháp phòng ngừa và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
ngừa các tội phạm về ma túy.
Tuy nhiên qua nghiên cứu khảo sát thì ở Phú Yên chưa có một công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống công tác quản lý nhà
nước về phòng, chống ma túy trên địa bàn tỉnh. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
3
để đánh giá chính xác thực trạng tình hình từ nhiều khía cạnh làm cơ sở đề xuất
những phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng,
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Chủ
nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; lý luận khoa học luật, khoa học
điều tra hình sự, tâm lý và tội phạm học; các quan điểm đường lối chính sách
của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống ma túy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tài liệu, sách, các tạp
chí, các thông tin khoa học về kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã
được công bố trên các ấn phẩm và các báo cáo khoa học; các văn bản chủ
yếu về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước về đổi mới
công tác đấu tranh đối với tệ nạn ma túy và quản lý nhà nước về phòng, chống
ma túy để tiếp thu có chọn lọc các thành quả nghiên cứu trước đó về những vấn
đề có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng các số liệu thống kê thu thập được và
trong các báo cáo.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp những
dữ liệu thu thập được làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài luận văn,
từ đó xây dựng cách tiếp cận toàn diện, khách quan những nội dung nghiên
cứu; Khảo sát và phân tích tài liệu thu thập được nhằm phát hiện những vấn đề
trong phòng, chống ma túy để tìm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với tệ nạn này trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp luật về phòng, chống
ma túy và các số liệu nghiên cứu từ thực tiễn, luận văn chỉ ra những ưu điểm,
bất cập, hạn chế của quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy và những nguyên
nhân làm hạn chế trong lĩnh vực này để đề xuất các giải pháp phù hợp. Kết quả
5
1. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được qui định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, để gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [19
tr 9 -10].
Theo Nghị định của Chính phủ số 67/2001/NĐ - CP ngày 01/10/2001 ban
hành các danh mục chất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy gồm
227 chất, chia làm 3 danh mục và 22 hóa chất không thể thiếu được trong quá
trình điều chế chất ma túy cần kiểm soát [8].
Vì vậy có thể quan niệm ma túy là chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng
hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái
ý thức và sinh lý của người đó. Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào
nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.
7
1.1.1.2. Tệ nạn ma túy
Tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các
hành vi trái phép khác về ma túy. Tệ nạn ma túy là hiểm họa gây ra nhiều tác
hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây tổn hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng
xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của dân tộc. Tính chất xã
hội của tệ nạn ma túy ngày càng trở nên phức tạp, đã lôi kéo nhiều người thuộc
các thành phần xã hội tham gia trong việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử
dụng ma túy....
1.1.1.3. Tác hại của ma túy
- Ma túy gây tác hại nhiều mặt về kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội và
đã trở thành hiểm họa chung của cả nhân loại.
- Ma túy gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế của đất nước
nghiên cứu, giám định, sản xuất vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân
phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất ma túy,
tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và phòng ngừa ngăn chặn việc
lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác [30].
Chỉ thị 21- CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng
cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình
hình mới yêu cầu các mục tiêu:
Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hậu quả, tác
hại của ma túy để mỗi người tích cực tham gia và tự phòng, chống ma túy, tạo
nên phong trào hành động phòng, chống ma túy rộng khắp trong cả nước, làm
giảm thiểu tệ nạn ma túy; nêu cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành,
đồng thời kiên trì sử dụng đồng bộ các biện pháp, giải pháp, huy động sức mạnh
tổng hợp và tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong phòng, chống ma túy, nhằm
từng bước kiềm chế, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi cho được tệ nạn ma túy, tạo
môi trường lành mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh
quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì cuộc sống bình yên và
hạnh phúc của nhân dân [2, tr 2].
9
Đối với các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, phải tập trung chỉ
đạo trực tiếp, quyết liệt đối với công tác phòng, chống ma túy, đưa nội dung này
vào chương trình hoạt động, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính
quyền bằng việc cụ thể hóa thành các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp phù
hợp với từng đơn vị, địa phương. Trước mắt, cần rà soát, bổ sung nội dung, kế
hoạch để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã được Chính phủ đề ra; thường
xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện công tác phòng, chống ma túy và kịp thời
chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện
- Khách thể quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy
Khách thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực ma túy rất rộng lớn, liên quan
đến các đối tượng trực tiếp và gián tiếp buôn bán, vận chuyển, sản xuất, tàng
trữ, sử dụng ma túy và chịu ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động trên.
- Đối tượng quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy
Là các tổ chức, cá nhân, là công dân Việt Nam hoặc nước ngoài cư trú
tại Việt Nam có hành vi mua bán, vận chuyển trái phép, sản xuất, tàng trữ, sử
dụng các chất ma túy.
- Mục tiêu quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy
Huy động sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành và toàn xã hội để
phòng, chống ma túy có hiệu quả nhằm xây dựng nước Việt Nam phồn thịnh,
văn minh, không có tệ nạn ma túy.
1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy
1.2.1. Định hướng cho công tác phòng, chống ma túy
Mặc dù công tác phòng, chống ma túy đã được tổ chức thực hiện rất
quyết liệt bằng nhiều giải pháp, với sự nỗ lực của toàn xã hội, nhưng tệ nạn ma
túy vẫn có xu hướng gia tăng. Diễn biến hoạt động của tội phạm ma túy trong
thời gian tới sẽ ngày càng càng gia tăng, hình thành các đường dây mua bán,
vận chuyển trái phép chất ma túy liên tỉnh với số lượng, quy mô lớn hơn.
Vì vậy, trong những năm tới công tác phòng, chống ma túy phải liên tục
là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ
chức đoàn thể xã hội, là một trong chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển
11
kinh tế xã hội của mỗi địa phương, đơn vị và đánh giá năng lực lãnh đạo của
cấp ủy Đảng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước.
Với những lý do nêu trên, ngày 27/6/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 1001/QĐ-TTg về việc phê duyệt "Chiến lược Quốc gia
tác động tiêu cực của vấn đề sử dụng, mua bán, vận chuyển hơn là làm giảm
quy mô, phạm vi của nó.
Nghiên cứu đổi mới các chính sách xã hội liên quan đến phòng, chống
ma túy, như: Chính sách giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, chính sách
xóa đói giảm nghèo, chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc, chính sách giáo
dục, cảm hóa người lầm lỗi.
Kiểm soát và quản lý chặt chẽ các loại tiền chất của ma túy, chất gây
nghiện, chất hướng thần. Quan tâm đầu tư, phát triển kinh tế cho đồng bào vùng
biên giới, nhất là những vùng trước đây trồng cây thuốc phiện để họ có cuộc
sống tốt hơn, tự nguyện từ bỏ trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy.
Các trung tâm có chức năng cai nghiện và chính quyền địa phương nơi
người nghiện cư trú cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ trong việc hỗ trợ cai
nghiện ma túy tại cộng đồng.
Thứ hai, tăng mức đầu tư ngân sách, đồng thời tích cực tranh thủ các
nguồn viện trợ khác; vận động tự nguyện đóng góp của các tổ chức xã hội, các
doanh nghiệp và nhân dân bảo đảm đủ nguồn lực cho công tác phòng, chống và
kiểm soát ma túy.
Việc phân bổ ngân sách phòng, chống ma túy hiện nay vẫn thiên về lĩnh
vực hành pháp hơn là phòng ngừa hoặc y tế cộng đồng. Cần chuyển đổi việc
phân bổ kinh phí từ lĩnh vực thi hành pháp luật sang lĩnh vực phòng ngừa nói
chung và lĩnh vực bảo vệ sức khỏe cộng đồng nói riêng sẽ có tác động rất lớn
đối với việc giảm tác hại liên quan đến ma túy.
Bố trí kinh phí hỗ trợ lực lượng chuyên trách trong phòng, chống tội
phạm về ma túy theo chương trình công tác phòng, chống ma túy, vì hiện nay
kinh phí thường xuyên chưa đáp ứng yêu cầu nên ảnh hưởng không nhỏ đến
việc thực hiện nhiệm vụ của cả lực lượng.
Củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị kiểm soát cho
lực lượng làm công tác phòng, chống ma túy và trang thiết bị điều trị cho các
Trung tâm cai nghiện, đảm bảo cai nghiện có hiệu quả. Thực hiện tốt chủ trương
14
mỗi quốc gia, bởi lẽ đây sẽ là một trong những cơ sở pháp lý cốt lõi khởi đầu
15
cho việc thực hiện chương trình nhằm đạt được các mục tiêu trước mắt và lâu
dài. Đồng thời cũng sẽ là căn cứ để Chính phủ dự toán và phân bổ ngân ngân
sách nhằm giải quyết tổng thể các vấn đề giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại
liên quan đến ma túy.
Chính sách phòng, chống ma túy ở nhiều nước hiện tập trung các nỗ lực
làm giảm quy mô thị trường ma túy bất hợp pháp thông qua các giải pháp mang
tính trừng phạt với mong muốn làm giảm tác hại liên quan đến ma túy. Tuy
nhiên, sau 50 năm những nỗ lực này không đạt kết quả mong muốn. Số loại ma
túy và số lượng ma túy nhìn chung đang có dấu hiệu gia tăng. Về lý thuyết, tập
trung giải quyết quy mô thị trường ma túy bất hợp pháp thì giảm tác hại, tuy
nhiên, trên thực tế thì kết quả lại ngược lại. Ví dụ, tăng cường đấu tranh với
mạng lưới mua bán, vận chuyển lại làm gia tăng bạo lực do các băng nhóm tội
phạm tranh giành địa bàn. Hoặc các nỗ lực làm giảm một loại ma túy nào đó sẽ
dẫn đến việc người nghiện chuyển sang sử dụng loại ma túy khác. Đơn giản là,
theo đuổi một mục tiêu lâu dài “xã hội không ma túy” sẽ là một chính sách
không thực tế và dẫn tới một định hướng sai lệch về hành động và đầu tư nguồn
lực. Trên thị trường tiêu thụ ma túy bất hợp pháp, việc bắt giữ ồ ạt người sử
dụng ma túy sẽ làm gia tăng các ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe cộng đồng và
vấn đề xã hội. Cho nên hiện nay, trong chính sách phòng, chống ma túy ở nhiều
nước, thay vì tập trung vào bắt giữ, họ tập trung vào việc tăng mức độ an toàn
cho cộng đồng và làm giảm các tác hại liên quan đến ma túy.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng cho thấy, có định hướng
đúng, chọn đúng các mục tiêu cần ưu tiên là rất quan trọng song chưa đủ. Để
đạt được các mục tiêu mà đã đề ra trong chương trình cần có sự tham gia tích
cực của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và thiết lập một cơ chế phối hợp chặt
chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan. Vấn đề ma túy không thể giải quyết bởi một cơ
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống ma túy,
những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách và
chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy. Tổng kết 10
17
năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 30/11/1996 về tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; 5 năm thực hiện Kế
hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010 cho thấy: Nhờ triển khai
quyết liệt và đồng bộ các giải pháp, công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy
đã đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực; nhận thức về tác hại
của tệ nạn ma túy và trách nhiệm đối với công tác phòng chống ma túy của cán
bộ, đảng viên và nhân dân đã có những chuyển biến tích cực góp phần từng
bước kiềm chế tệ nạn ma túy; tình trạng tái trồng cây có chứa chất ma túy cơ
bản được giải quyết; công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm ma túy, trong
đó có tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm nguy hiểm, v.v… thu được
những kết quả đáng khích lệ, góp phần ngăn chặn tình trạng thẩm lậu ma túy
qua biên giới; hoạt động truy tố, xét xử được nghiêm minh, kịp thời; hợp tác
quốc tế về phòng, chống ma túy được tăng cường và đẩy mạnh [35].
Thuộc lĩnh vực này sẽ bao gồm các hoạt động cụ thể như: Xây dựng chủ
trương, chính sách, luật pháp làm cơ sở dựng chiến lược, kế hoạch về phòng,
chống ma túy; Ban hành các văn bản qui định danh mục chất ma túy, tiền chất,
thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần… Cụ thể như: Thông tư số 11/2010/TTBYT ngày 29/4/2010 hướng dẫn các hoạt động liên quan đến thuốc hướng thần
và tiền chất dùng làm thuốc; Quyết định số 1203/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 Phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2012 2015; Thông tư số 57/2012/TT-BCA ngày 18/9/2012 của Bộ Công an Quy định
chi tiết thi hành việc nhập khẩu, quản lý, sử dụng, tiêu hủy mẫu các chất ma
túy vì mục đích quốc phòng, an ninh; Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày
15/11/2012 của Chính phủ Quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc