NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI NUÔI CON BẰNG SỮA
MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU TẠI HUYỆN CỦ CHI
ThS. Đinh Thị Hải Yến
Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe TPHCM
Đặt vấn đề: Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu hiện nay gặp rất nhiều
khó khăn. Tìm ra các rào cản là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giúp tìm ra những giải
pháp hỗ trợ bà mẹ NCBSM hoàn toàn, nâng cao tỷ lệ NCBSM hoàn toàn tại TP.HCM.
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở bà
mẹ có con dưới 12 tháng tuổi tại huyện Củ Chi.
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả kết hợp nghiên cứu định tính. 420 bà mẹ được chọn
trả lời bảng câu hỏi. 16 cuộc phỏng vấn sâu, 3 thảo luận nhóm được tiến hành.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn chỉ chiếm 4% do tỷ lệ sữa bột là thức ăn đầu tiên
cao (59%), 92% bà mẹ cho con ăn/uống thức ăn khác ngoài sữa mẹ. Những yếu tố ảnh hưởng:
nghề nghiệp công nhân, thiếu sữa, kinh tế khó khăn, thiếu sự hỗ trợ của gia đình, suy nghĩ NCBSM
là không thể thực hiện được và không vắt sữa.
Kết luận: Để hỗ trợ bà mẹ NCBSM hoàn toàn, các chính sách y tế, xã hội cũng như công tác truyền
thông cần được tập trung nhiều hơn nữa.
Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, yếu tố ảnh hưởng
Factors influenced exclusive breastfeeding in first
6 months at cu chi district
Background: Nowadays, exclusive breastfeeding in 6 months have many problems. Finding these
problems is an important way which can figure out solutions to support mothers in practicing
exclusive breastfeeding and raising the rate of exclusive breastfeeding in Ho Chi Minh city.
Objectives: Finding influenced factors in practicing exclusive breastfeeding of mothers with under
12 month-old child at Cu Chi district.
Method: This was a cross – sectional study combine with qualitative research. 420 mothers were
interviewed by questionaire. 16 depth-interviews, 3 focus group discussions were conducted.
Results: The rate of exclusive breastfeeding was very low (4%) because formula milk was the first
drink was high (59%) and 92% of mothers fed their babies other food and drink in 6 months.
Influenced factors include: worker, deficiency of breast-milk, poor, deficiency of the family’s support,
bà mẹ có con từ 6 - 12 tháng tuổi tại huyện Củ Chi năm 2014.
5. Tìm hiểu rào cản của bà mẹ có con từ 6 - 12 tháng tuổi trong việc nuôi con bằng sữa mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại huyện Củ Chi năm 2014.
2. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính. Nghiên cứu định lượng sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả
cắt ngang. Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm. 420 bà
mẹ có con dưới 12 tháng tuổi đang sinh sống tại huyện Củ Chi được chọn theo công thức ước tính
tỷ lệ một quần thể. Thực hiện 16 cuộc phỏng vấn sâu, cụ thể như sau gồm 11 bà mẹ và 5 đối tượng
liên quan (người hỗ trợ bà mẹ chăm sóc trẻ: 3 người, cán bộ Trạm y tế xã: 1 người, cán bộ Hội phụ
nữ ấp: 1 người) và 3 thảo luận nhóm ( 2 thảo luận nhóm là bà mẹ NCBSM không hoàn toàn, 1 nhóm
là các trưởng trạm y tế).
3. KẾT QUẢ
3.1. Kiến thức
2
Biểu đồ 1: Kiến thức đúng
Tỷ lệ có kiến thức đúng về bú sớm sau sinh là cho bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu là 46%. Tỷ lệ
bà mẹ biết đúng về khái niệm NCBSM hoàn toàn chỉ chiếm 21%, Tỷ lệ bà mẹ trả lời đúng về việc
không cần uống nước khi cho trẻ bú mẹ hoàn toàn chỉ chiếm 22%. Bà mẹ trả lời NCBSM hoàn toàn
là cho trẻ bú mẹ và uống nước chiếm đến 53%.
3.2. Thái độ
Thái độ chung phù hợp về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ chiếm có 10%. Chỉ có
9% bà mẹ có thái độ phù hợp về việc cần uống nước để làm sạch miệng sau khi bú và 10% có thái
độ phù hợp về việc trẻ bú mẹ cần uống nước để không bị khát. Chỉ có 29% bà mẹ có thái độ phù
hợp về việc cần uống sữa bột trong ngày đầu sau sinh.
28
50
13
9
240
10
5
80
3
2
Mẹ không có sữa
Mệt và đau
Khác (bác sỹ chỉ định, bệnh viện tư
vấn dùng sữa bột…)
Thức ăn đầu tiên của bé
Sữa mẹ
Sữa bột
Nước trắng
Nước đường/mật ong
Khác (không biết)
Cho ăn/uống thức ăn khác ngoài sữa mẹ
trong 6 tháng đầu
Dưới 4 tháng
N= 382
364
95
Nước trắng
16
4
Nước trái cây
154
40
Sữa bột
10
3
Bột/cháo
4
1
Các sản phẩm từ sữa
Dưới 6 tháng
N= 382
375
98
Nước trắng
87
23
Nước trái cây
241
63
Sữa bột
Theo nhận xét của nhiều bà mẹ, nhân viên y tế, cán bộ phụ nữ và của cán bộ y tế, thì khó
khăn thứ nhất mà các bà mẹ gặp là bà mẹ làm nghề công nhân.
“Hầu như những bà mẹ là người ta không ở nhà cho nên cái thời gian khi mà người ta làm
công nhân mà vô đâu được cho về đâu thì phải tập cho nó bú bình. Tới cái thời điểm đó rồi em đi
làm con em nó không bú được, rồi nó không có cái sữa gì để nó bú, nó không chịu bú rồi làm sao.
Thì đó, nó rất là khó khăn cho nên cái đó bản thân mình còn chưa có giải pháp để mình có thể hỗ
trợ cho người ta.” (T5)
Điều kiện kinh tế khó khăn của gia đình khiến bà mẹ phải đi làm từ tháng thứ 3, thứ 4. Khi đi
làm sớm bà mẹ không có ở nhà thì phải cho bé bú sữa bột.
“4 tháng là bắt đầu là em bắt đầu đi bán, rồi sao cái sữa nó ít lại. Giờ khổ quá phải đi chứ
sao giờ. Mình đi mần rồi phải cho bú bình chứ không có bú mẹ đi rồi đâu có ở nhà đâu. Đâu có điều
kiện đâu ở nhà cho nó bú mẹ không.” (BM7)
Một rào cản ảnh hưởng đến NCBSM hoàn toàn là các bà mẹ không vắt sữa khi đi làm. Có 3
nhóm lý do chính khiến các bà mẹ không vắt sữa: thứ nhất là họ không tin tưởng sự an toàn và chất
lượng của sữa vắt, thứ hai là việc vắt sữa rất bất tiện, thứ ba là bà mẹ không biết cách bảo quản.
“Vắt sữa trước á nó đông lại nó tanh lắm nên nó bú sữa vú thì nó bú còn vắt ra thì lạnh lạnh
nó đông lại nó không chịu bú đâu. Thà đi làm chảy sữa ra thì bỏ thôi chứ không ai vắt sữa để lại”
(BM6)
Rào cản tiếp theo là hiện nay trong vấn đề nuôi dưỡng trẻ nhỏ, các bà mẹ vẫn còn chịu
nhiều tác động, ảnh hưởng của những người có kinh nghiệm đi trước. Về vấn đề uống sữa bột,
BM8 thì được khuyên cho bé uống sữa bột trong 1, 2 ngày đầu sau sanh để bé không bị đói. Về vấn
đề ăn dặm, bà ngoại, bà nội vẫn khuyên bà mẹ nên cho ăn từ 4 tháng.
Các bà mẹ biết về thời
điểm cho ăn dặm tốt nhất nhưng vẫn nghe theo lời khuyên của người lớn trong nhà vì họ là người
có nhiều kinh nghiệm trong nuôi dưỡng trẻ.
“Em cũng tính là để cho nó 6 tháng đi rồi hãy cho ăn mà bà ngoại cứ nói: trời ơi, hồi đó tụi bấy á…
có 3 tháng mấy tao cho ăn rồi. Rồi cũng nghe bà ngoại nói vậy rồi cái cũng cho nó ăn luôn.”(BM7).
4. BÀN LUẬN
4.1. Kiến thức
Chỉ có 31% bà mẹ có thái độ phù hợp khi không đồng ý việc cần cho trẻ uống thêm sữa bột
trong ngày đầu sau sinh để trẻ không bị đói. Tỷ lệ này thấp hơn so với báo cáo của A&T với tỷ lệ là
60%. Niềm tin này khiến các bà mẹ không cho trẻ bú sớm và không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong
những ngày đầu sau sinh . Với thái độ như vậy nên có lẽ cũng đã góp phần khiến tỷ lệ sữa bột là
thức ăn đầu tiên chiến đến 59%.
4.3. Thực hành
Trong mẫu khảo sát, tỷ lệ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 28%. Kết quả này
tương đương với báo cáo của Huỳnh Văn Tú thực hiện tại bệnh viện phụ sản nhi bán công Bình
Dương năm 2009, tỷ lệ là 29% và khảo sát tại Hà Nội của Lưu Ngọc Hoạt năm 2010 với 30% bà
mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu . Điều này cho thấy các bà mẹ chưa được hỗ trợ tốt trong thời
gian mới sinh. Ngoài ra niềm tin của bà mẹ về việc cần cho trẻ uống sữa bột trong những ngày đầu
sau sinh và vấn đề quảng cáo sữa bột nhất là việc tặng sữa bột cho bà mẹ trong những ngày này là
những yếu tố làm cản trở việc NCBSM ngay sau sinh. Điều này cũng phù hợp với tình trạng tỷ lệ
sữa mẹ là thức ăn đầu tiên của trẻ là 31%. Lý do bà mẹ đưa ra cho việc không cho bé bú trong 1
giờ đầu cũng minh họa phần nào cho vấn đề nêu trên. Lý do được nêu ra nhiều nhất chiếm đến
81% là không được gần con sớm và tiếp theo chiếm 47% là do mẹ không có sữa.
Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn của mẫu nghiên cứu là 4% cao hơn nhưng không nhiều so với số
liệu báo cáo của Trung tâm Dinh dưỡng năm 2010, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn của Thành phố Hồ Chí
Minh là 1 % và báo cáo của Vũ Quỳnh Hoa về tỷ lệ NCBSM hoàn toàn tại một quận vùng ven và nội
thành của Thành phố Hồ Chí Minh là 1,8% . Theo báo cáo của A&T, thì tỷ lệ NCBSM hoàn toàn
chung cho 11 tỉnh, thành phố là 20%, nhưng nếu tính riêng cho từng tỉnh thành thì tỷ lệ này dao
động từ 0,6% - 37%. Như vậy, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu của mẫu nghiên cứu có tỷ
lệ khá thấp nhưng phù hợp với tỷ lệ chung của toàn thành phố Hồ Chí Minh.
6
4. 4. Khó khăn, rào cản trong NCBSM hoàn toàn
Có 4 khó khăn được nêu ra làm cản trở việc NCBSM hoàn toàn. Theo nghiên cứu của Lưu
Ngọc Hoạt, những khó khăn cản trở NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu là: mẹ phải đi làm sớm,
sau sinh. Các cơ sở y tế cần có chính sách chăm sóc bà mẹ sau sanh tốt hơn cũng như những dịch
vụ y tế thân thiện hơn với trẻ em để bà mẹ được gần con ngay sau khi sanh. Về vấn đề quảng cáo
sữa bột, cần nghiêm cấm mọi hình thức quảng cáo sữa bột tại các cơ sở y tế. Với bà mẹ đi làm, cần
hướng dẫn cách vắt và bảo quản sữa. Cần tăng cường hiệu quả của công tác truyền thông nhằm
cung cấp cho bà mẹ kiến thức đúng và thái độ đúng.
Tài liệu tham khảo
7
1. Alive and Thrive, Viện nghiên cứu Y - Xã hội học (2012) Nghiên cứu đánh giá Nuôi dưỡng trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ Việt Nam, tr. 40-98.
2. Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng (2012) "Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và
tầm nhìn đến năm 2030". tr. 3.
3. Bùi Thị Duyên, Trần Hà Linh, Phạm Hồng Tư (2013) "Mô tả kiến thức và một số yếu tố ảnh hưởng
đến kiến thức về bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của những bà mẹ
có con dưới 1 tuổi tại 3 xã thuộc cụm Long Vân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa". Tạp chí
Y tế Công cộng, Hội Y tế Công cộng Việt Nam, số 27 (27), tr.16-22.
4. Lưu Ngọc Hoạt, Lê Thị Hương, Lê Thị Thanh Xuân, Neymat Hajeebhoy (2010) "Kiến thức và thực
hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ Hà Nội năm 2010 - Các rào cản và yếu tố thúc
đẩy". Tạp chí Y học Thực hành, Bộ Y tế, số 6 (723), tr.43-47.
5. Huỳnh Văn Tú, Nguyễn Vũ Linh (2010) "Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm
viện sau sinh tại bệnh viện phụ sản nhi bán công tình Bình Dương". Tạp chí Y học Thành
phố Hồ Chí Minh, tập 14 (số 2), tr.366-370.
6. Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM (2010) Số liệu dinh dưỡng 2010, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1-4.
7. Viện dinh dưỡng, UNICEF (2011) Tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009 – 2010, tr.5-6.
8