Phòng GD & ĐT Thạch Hà
Tên đề tài :
KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
THEO CẶP, NHÓM CÓ HIỆU QUẢ MÔN TIẾNG
ANH THCS
Người làm sáng kiến : Trần Thị Nga
Trường : THCS Thắng Tượng
Năm học : 2016 - 2017
Phòng GD & ĐT Thạch Hà
Tên đề tài :
Kinh nghiÖm tæ chøc ho¹t ®éng
theo cÆp, nhãm cã hiÖu qu¶
m«n TiÕng anh thcs
Năm học : 2016 - 2017
Kinh nghiÖm tæ chøc ho¹t ®éng theo cÆp, nhãm cã hiÖu
qu¶ m«n TiÕng anh thcs
a- §Æt vÊn ®Ò
Tiếng anh ngày càng trở nên phổ biến , nó được xem là cầu nối con người
từ những nước khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Hơn thế nữa nhờ
có tiếng Anh mà con người đã có được những bước tiến đáng kể trong nhiều
lĩnh vực. Việc học Tiếng Anh là quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, đã nhiều
năm nay Bộ GD& ĐT quyết định môn Tiếng Anh là một trong những môn học
cần thiết trong quá trình luyện tập nói, viết biết chủ động
trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp nói
hoặc viết.
Việc tổ chức luyện tập thành cặp không khó mà lại rất
cần thiết để đạt đợc mục tiêu cuối cùng của các chơng trình
dạy ngoại ngữ là trang bị cho ngời học khả năng giao tiếp, trao
đổi dễ dàng và trôi chảy bằng ngôn ngữ. lợi thế của loại hình
bài tập này là việc tạo cho học sinh những cơ hội để luyện
nói và giao tiếp gần giống ngoài đời thực.
II Cơ sở thực tiễn.
ở hoàn cảnh Việt Nam chúng ta, lớp học thờng đông học
sinh , giờ học ngắn không đủ cho đại bộ phận học sinh tham
gia đóng góp vào bài học. Trừ việc luyện đọc đồng thanh,
trung bình mỗi học sinh trong lớp chỉ có tổng cộng 10- 15
giây để nói. Muốn tăng thời gian học sinh
đợc luyện nói
trong buổi học phải tổ chức hoạt động để tất cả đều đợc
nói.
Những ngời theo quan điểm lấy ngời học làm trung tâm
thờng cho rằng nếu tất cả học sinh trong lớp cùng tham gia nói
một lúc thì lớp học sẽ trở lên hết sức ồn ào, mất trật tự, khó
kiểm soát. Nhng thực tế không hẳn nh vậy: Với sự hớng dẫn
kiểm soát của giáo viên và việc thiết lập những quy định khi
làm việc ở nhóm, cặp thì tiếng ồn trao đổi bằng ngoại ngữ
là tiếng ồn tích cực, là biểu hiện của việc học hành.
6
2,8%
3
%
17.6
%
8.3%
T.Bình
SL
%
Yếu
SL
%
Kém
SL
%
11 32.3
%
thức hoạt động học tập tốt. Thông qua hình thức học tập này
các em có điều kiện trình bày, trao đổi và bộc lộ những suy
nghĩ của mình về các lợng thông tin về bài học mà mình
hiểu, mình cảm nhận .Lợng thông tin của từng học sinh có thể
đúng hoặc có thể sai một phần. Từ đó ngời dạy nắm bắt đợc
mức độ t duy, hiểu biết của các em. Quá trình này đợc diễn
ra theo quan hệ hai chiều. Xét về lý luận dạy học thì đây là
mối quan hệ biện chứng. Ngoài ra khi trao đổi cặp, nhóm
học sinh đợc rèn luyện thêm về kỹ năng và thói quen suy nghĩ,
diễn đạt và trình bày một vấn đề trớc một tập thể. Thông
qua hoạt động này, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học
sinh ngày càng đợc nâng cao.
1.2. Các bớc tiến hành luyện tập theo cặp.
Bớc 1: Chuẩn bị
Cần chuần bị hết sức cẩn thận thông qua việc giới thiệu
và thực hành ngữ liệu, làm sao cho tất cả mọi ngời đều tự tin
khi sử dụng ngoại ngữ. Sau bớc giới thiệu và thực hành ngữ liệu
nên lu tất cả các thông tin lại trên bảng.
Bớc 2: Giáo viên làm mẫu với một học sinh
Giáo viên cùng với một học sinh khá trong lớp đóng vai trò
làm mẫu trọn gói một bài tập để cho tất cả học sinh hiểu đợc
yêu cầu và biết cách thực hiện.
Bớc 3: Hai học sinh làm mẫu
Gọi hai học sinh khá giỏi lên làm mẫu trớc lớp một lần nữa.
Nếu cho phép học sinh đứng tại chỗ thì phải yêu cầu học sinh
nói đủ to cho cả lớp nghe đợc.
Bớc 4: Quy định thời gian
Báo cho học sinh biết họ sẽ có bao nhiêu thời gian để
trong việc thực hiện các yêu cầu của bài tập. Điều này sẽ giúp
cho việc kiểm soát tất cả các nhóm trong lớp của giáo viên nhẹ
nhàng, dễ dàng hơn. Nên chỉ định hoặc hớng dẫn những
học sinh có khiếu khẩu ngữ và hoạt bát hơn để làm việc này.
Nhng đôi khi cũng cần thay đổi: chọn một học sinh khá nhng
còn rụt rè để tạo điều kiện cho học sinh đó rèn luyện để trở
nên mạnh dạn hơn. Hoặc cũng có thể để các thành viên trong
nhóm lần lợt làm nhóm trởng. Điều quan trọng là công việc này
cần phải làm nhanh dứt khoát và học sinh phải đợc thông báo
ngay ai là nhóm trởng của họ để họ có thể bắt tay vào việc
đợc, không bị lãng phí thời gian. Việc chia nhóm có thể bằng
tiếng mẹ đẻ, nếu dùng tiếng Anh thì trớc hết phải cho học
sinh làm quen và hiểu đợc các mệnh lệnh nh: The first row,
turn and face the second. The third row, turn and face the
fourth please. Now work in groups.
3.1. Vai trò của giáo viên
Giáo viên là ngời quản lí tất cả mọi hoạt động ở lớp học.
Do vậy họ phải đặt kế hoạch cho nó, tổ chức nó, bắt đầu
nó, theo dõi nó, canh chừng thời gian cho nó và kết thúc nó..
Giáo viên có thể đi từ nhóm nọ sang nhóm kia, kiểm tra xem
học sinh có thực hiện đúng yêu cầu của bài tập hay không.
Giáo viên cần phải tích cực và nhạy cảm với bầu không khí lớp
học cũng nh nhịp điệu làm việc của cả nhóm, ghi nhớ các lỗi
lặp đi lặp lại trong học sinh để điều chỉnh lại bài dạy của
mình sau này. Nếu nhận thấy đa số học sinh gặp khó khăn
trong việc thực hiện nhiệm vụ của bài tập, nên dừng tất cả các
nhóm lại, giải thích thêm yêu cầu của bài tập, về cấu trúc hay
vấn đề ngữ pháp, hoặc cho cả lớp luyện lại vấn đề đó rồi mới
2.5 Luyện hội thoại đóng vai trong các đoạn hội thoại có
nhiều hơn hai ngời tham gia.
2.6 Chơi các trò chơI theo đội: Slap the board, lucky number,
nought and crosses
V/ Phơng pháp tổ chức học sinh hoạt động theo cặp,
nhóm có hiệu quả.
1. Đối với giáo viên- ngời tổ chức đóng vai trò điều khiển
hoạt động cần:
1.1
Chỉ dẫn bài tập hay nêu ra nhiệm vụ cần phảI thật rõ
ràng.
Example 1:
Teacher: Work in pairs to practise asking and answering
about the time in 2 minute:
S1: What time do you.?
S2: I at .oclock.
Teacher: point the students in the raws and number the:
one- two- one two Number one hand upok number two
hand up Number one asks, number two answers.
Teacher points one student and asks: What is your number?
What do you have to do first? And then?
Then change the positions Number two asks, number one
answers.
Example 2: Unit 4 lesson 5 Write English 9
Write a letter of inquiry to request for information or action.
Teacher asks students to work in groups of 4- 8 to write.
1.4. Giáo viên cần quy định thời gian cụ thể cho từng hoạt
động.
1.5. Giáo viên nên linh động phân cặp, nhóm hợp lý có thể
chọn học sinh cùng trình độ để làm việc với nhau tuỳ theo
từng ý đồ và tính chất của từng bài tập, mẫu câu. Việc phân
nhóm này nên quy định cho học sinh theo thói quen.
1.6. Sau khi học sinh thực hành bài tập theo cặp, nhóm cần có
sự kiểm tra, nhận xét, góp ý kiến kịp thời từ bạn mình ở
nhóm khác. Chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.
1.7. Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp,
nhóm
2. Học sinh - ngời thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội
kiến thức qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng
thói quen tuân theo một số những quy định cần thiết.
2.1. Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập.
2.2. Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào.
2.3. Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên
yêu cầu.
3. Phơng pháp tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm.
3.1. Hoạt động theo cặp (pair work).
3.1a. Cặp giữa thầy và một trò (teacher and a student).
3.1b. Cặp mở (open pair) giữa hai học sinh không ngồi gần kề
nhau.
- Có thể gọi hai học sinh đóng vai nhân vật trong bài hội thoại
(1 học sinh bên trái, 1 học sinh bên phải ....)
- Có thể gọi một học sinh đặt câu hỏi và cho phép em đó
chỉ định ngời trả lời.
3.1c. Cặp đóng (close pair ) giữa hai học
conversation stuents might have.
Teacher: What kind of music do you like?
Students 1?
Students 1: I like pop music.
Teacher: pop music – which singer do you like best? If you like,
ask 2 Students to have similar conversation while the others
listen.
*3nd step:
- Divide the class into pairs.
Teacher: Now, you are going to work in pair in 3 minutes.
+ Ask and answer the question, number 1 answers 1 asks
number 2 answers then change number 2 asks, number 1
answers. If there is a group of three one asks all questions then
change round turn.
*4th step:
- Students work in pairs. Teacher goes more quickly round the
class, checking that everyone is taking but do not try to correct
mistakes. It will be better for the teacher to silently take ansew
note mistakes.
*5th step:
- When most pairs finished, stop the activities call one by one
pair.
*6th step:
- Teacher remarks the activity.
- VÝ dô: C¸c bíc tæ chøc mét ho¹t ®éng nhãm:
Example:
English 7: UNIT 5 – Work and play
A: Read then answer the question
statements.
Ready? Now discuss in your group and leader or secretary tick
down.
*4th step: Sts work in groups, T. goes round to check .
*5th step: When most groups finish, stop discussing ( Teacher
asks about 2 or 3 groups to read out their predictions).
Teacher: Now group A1, your secretary please read out your
predictions.
S1:……….
Teacher: Group B2, your.
S2:……….
Do the same with group to compare these to your and whose
are correct read the text and find out the keys.
*6h step: T. gives feed back.
VI- Những kết quả đạt đợc sau khi áp dụng đề tài:
Việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi
đã đạt đợc một số kết quả hết sức khả quan. Trớc hết những
kinh nghiệm này rất phù hợp với chơng trình, SGK mới. Học
sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo
để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong
việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ
năng. Không khí học tập sôi nổi nhẹ nhàng. Học sinh có cơ
hội để khẳng định mình, không còn lúng túng, lo ngại khi
bớc vào giờ học. Số học sinh giao tiếp đối thoại đợc tăng lên,
đặc biệt số học sinh yếu kém cũng có phần nào hiểu và sử
dụng đợc một số câu lệnh của giáo viên ,bập bẹ trao đổi với
bạn một số câu thông dụng hàng ngày nhng đó cũng là dấu
hiệu đáng mừng đối với các em.
%
SL
%
6A
34
8
11.
6
11
30.2
14
81,
4
1
18.6
0
Việc tổ chức học sinh làm bài tập theo cặp hoặc nhóm
tạo đợc nhiều cơ hội luyện tập và sử dụng ngoại ngữ một cách
sáng tạo trong những tình huống gần với đời sống thật của
học sinh. Hơn thế nữa, sự thay đổi trong các hoạt động học
tập và kiểu giao tiếp giúp duy trì đợc sự tập trung chú ý của
các em. Qua các hoạt động này học sinh cũng ý thức hơn đợc
rằng việc hoàn thiện bản thân họ có quyền tự chủ và chịu
trách nhiệm đôid với sự tiến bộ của chính mình.
Việc tổ chức luyện tập ngoại ngữ theo cặp/ nhóm còn
giúp cho học sinh bạo dạn hơn trong việc sử dụng ngoại ngữ.
Học sinh yếu kém thờng lo sợ sẽ mắc lỗi trớc mặt thầy cô của
học, nhng nếu chỉ có các bạn cùng lớp thì sự e dè đó sẽ ít hơn
nhiều, học sinh sẽ vợt qua đợc những nhợc điểm về tính cách
của bản thân để học tốt hơn. Ngoài ra học cũng có cơ hội
để giúp đỡ , học hỏi nhau nhiều hơn.
Các kết quả thu lợm đợc t việc quan sát, lắng nghe và
chấm bài viết sẽ hết sức quý giá vì chúng giúp hiểu sâu hơn
về quá trình học của học sinh. Giáo viên sẽ nắm đợc các điểm
yếu , điểm mạnh của học sinh, những vấn đề cần bổ sung
cho các bài sau, những chỗ cần điều chỉnh trong giáo trình,
giáo án của mình. Giáo viên cũng học đợc cách khoan dung với
những lỗi không quan trọng, không làm ảnh hởng đến nghĩa
của lời nói và khuyến khích học sinh mạnh dạn hơn khi sử
dụng ngoại ngữ.
Trong chuyên đề này tôi mới chỉ đa ra một số kinh
nghiệm bớc đầu. Tôi rất mong đợc sự góp ý của các bạn đồng
nghiệp để chuyên đề này đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân