1/ Tên đề tài:
KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THI ĐUA HỌC TẬP VÀ
RÈN LUYỆN HẠNH KIỂM TRONG LỚP CHỦ NHIỆM2/ Đặt vấn đề:
a / Tầm quan trọng của vấn đề:
Như chúng ta đã biết, thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia
tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất
trong lao động sản xuất, công tác, học tập để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
của một tập thể. Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công
trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với tập thể, cá nhân có thành
tích xuất sắc trong phong trào thi đua.
Công tác thi đua và khen thưởng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau đem đến hiệu quả chung là nâng cao năng suất lao động, công tác và
học tập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng
là thu hoạch”. Để tổ chức tốt các phong trào thi đua, cần tuân thủ theo đúng
quy trình, các bước tiến hành như xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung,
thang bảng điểm, phát động, tuyên truyền, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ
kết, tổng kết và tiến hành khen thưởng. Thi đua góp phần xây dựng những
nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, cùng tập thể phấn đấu hoàn thành
những mục tiêu đã đề ra.
1
Đối với học sinh, thi đua cũng có ý nghĩa quan trọng như đã nêu trên.
Mục tiêu là để động viên các em hăng say học tập và rèn luyện hạnh kiểm,
thực hiện nhiệm vụ năm học.
b/ Thực trạng:
Trong những năm làm công tác chủ nhiệm lớp tại các trường THCS,
tôi đều đề ra kế hoạch tổ chức thi đua, tổ chức đánh giá xếp loại hạnh kiểm
học sinh trên cơ sở các nội dung thi đua. Tuy nhiên, việc tổ chức thi đua để
đánh giá học sinh khá phức tạp, có nhiều vấn đề nảy sinh ngoài dự kiến chủ
kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực”.
Người yêu cầu mọi phong trào thi đua yêu nước đều phải có sơ kết,
tổng kết, kịp thời biểu dương, nêu gương, khen thưởng. Những hình thức
khen thưởng đều có tác dụng động viên, khích lệ những người tham gia
phong trào. Trong Thư gửi thanh niên, ngày 01-8-1951, Người viết: “Sau
đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen
thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”.
Những lời dạy của Bác đã động viên tôi để tôi có cơ sở xây dựng kế
hoạch tổ chức thi đua.
4/ Cơ sở thực tiễn:
3
Những năm trước đây, ở các lớp chủ nhiệm đã qua, tôi đều có tổ chức các
hoạt động theo dõi thi đua, cũng có thiết lập hồ sơ theo dõi thi đua, nhưng
cũng chỉ ở mức độ đơn giản. Tôi cũng có ý học tập ở các thầy cô khác nhưng
hầu như không thấy ai thực hiện tổ chức thi đua cho bài bản.
Chính vì thế, tôi phải xây dựng một kế hoạch tổ chức thật chu đáo, thiết
lập hồ sơ theo dõi kỹ càng, tập huấn cho học sinh thực hiện.
5 / Quá trình thực nghiệm giải pháp mới ( nội dung nghiên cứu)
Tôi xin trình bày cụ thể các bước thực hiện như sau:
5.1. Việc tổ chức theo dõi và xếp loại thi đua học sinh:
Cứ hai tuần, các tổ học sinh tiến hành xếp loại thi đua một lần( vào tuần
chẵn). Nội dung xếp loại từng học sinh bao gồm hai mặt: Tổng kết điểm học
tập đạt được trong hai tuần đã qua và đánh giá về mặt hạnh kiểm cũng như
các hoạt động khác trong hai tuần đó.
5.1.1* Cách tính điểm học tập: Nhiệm vụ chính của học sinh là học
tập thật tốt. Do đó, điểm học tập trong là cơ sở để đánh giá xếp loại học sinh.
Trong thời gian giữa 2 ký xếp loại, tổ trưởng có nhiệm vụ theo dõi và ghi
vào sổ của tổ số điểm mỗi học sinh đạt được qua các lần kiểm tra (KTM, KT
15 ph, KT 1 tiết). Đến ngày xếp loại, tổ trưởng cộng tất cả điểm và lấy điểm
trung bình cho mỗi học sinh.
quy để tiến hành dự kiến xếp loại. ( Kết quả học tập và hạnh kiểm của ngày
Thứ Bảy được tính vào hai tuần sau đó).
Vào giờ sinh hoạt lớp( ngày Thứ Bảy), tổ trưởng thông qua kết quả xếp loại
cho tổ viên biết và điều chỉnh nếu có. Sau đó, sẽ báo cáo và nêu nhận xét
trước tập thể lớp để cả lớp có ý kiến. GVCN tổng hợp và nhận xét chung.
5.1.5. Sử dụng kết quả xếp loại thi đua:
Kết quả xếp loại thi đua hai tuần một lần như trên được sử dụng để xếp loịa
hạnh kiểm cuối mỗi học kỳ và thông báo cho phụ huynh biết hàng tháng.
5.2. Các biện pháp hỗ trợ cho việc đánh giá thi đua học sinh.
6
5.2.1. Phối hợp với Cha mẹ học sinh:
Trước khi tiến hành quy định về xếp loại thi đua, tôi tổ chức họp phụ
huynh học sinh đầu năm học và trình bày kế hoạch xếp loại thi đua cho phụ
huynh biết để phụ huynh nhắc nhở con em thực hiện. Tôi cũng nêu quy ước
là: Hàng tháng khoảng từ ngày 25 đến cuối tháng, tôi sẽ gởi “ Thông báo
tình hình học tập và hạmh kiểm” của tất cả học sinh trong lớp đến mỗi phụ
huynh. Và yêu cầu: Hàng tháng, sau khi nhận được bản thông báo tình hình,
PHHS xem và ký xác nhận đã xem. Những ngày kế tiếp, học sinh mang bản
thông báo đã có chữ ký và ý kiến của PHHS giao lại cho tôi xem. Sau đó, tôi
gởi trả lại cho PH lưu giữ.
5.3.1. Biện pháp khen thưởng: Cuối mỗi tháng, tôi tổ chức cho lớp
tổng kết, đánh giá kết quả học tập và hạnh kiểm tháng qua. Trong các buổi
tổng kết này, tôi đều có mời Ban Giám hiệu và Đại diện Cha mẹ học sinh
lớp đến dự. Tùy theo tình hình kinh phí của Hội cha mẹ học sinh lớp mà Hội
có khen thưởng cho những học sinh xuất sắc nhất.
6/Kết quả nghiên cứu:
Nội dung cách làm này thể hiện những điểm mới sau đây:
6.1. Về việc tổ chức xếp loại thi đua:
- Học sinh thấy rõ mục tiêu cần đạt được trong mỗi tuần để được xếp
loại hạnh kiểm tốt. Vì thế, các em nỗ lực trong học tập để đạt số điểm cao, ít
8
Việc làm của tôi trên đây được phụ huynh hoan nghênh và có tác
dụng trong việc phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
7/ Kết luận:
Việc thực hiện SKKN này đối với lớp 9/6 đã mang lại kết quả rất tốt.
Các năm học trước ( Lớp 7/6 và 8/6), tập thể học sinh lớp này nổi tiếng
quậy phá trong trường. Nhiều học sinh lười học. Nhiều em có những hành vi
vô lễ với thầy cô giáo.
Khi được phân công làm chủ nhiệm lớp 9/6 này ( lớp 8/6 năm học trước
lên), nhiều thầy cô tỏ ra ái ngại cho tôi vì gặp phải một lớp yếu kém về mọi
măt. Nhưng từ khi thực hiện SKKN này, tình hình lớp đã chuyển biến rất
tích cực. Hầu như tuần nào tập thể lớp cũng nhận được cờ thi đua nhất nhì
hoăc ba tổng kết hàng tuần. Các phong trào thi đua khác cũng được giải
thưởng như:
- Đội bóng chuyền nam và đội bóng đá nữ: giải tư toàn trường.
- Giải nhì toàn đoàn Hội khỏe Phù Đổng cấp trường.
- Giải ba phong trào đạt điểm 9, 10 ngày 20/11.
- 2 giải thưởng tìm hiểu Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.
- Giải nhất làm báo tập chào mừng 20/11. Cuối Học kỳ I, lớp đạt
điểm thi đua cao nhất của trường. Cuối năm là lớp xuất sắc.
SKKN này của tôi là quá trình tích lũy qua nhiều năm tổ chức thi đua
trong học sinh nhằm mục đích động viên các em thực hiện nhiệm vụ học tập
của mình. Vì thế, tôi nhận thấy đây là một kế hoạc tổ chức thi đua khá hoàn
chỉnh, đáp ứng được các yêu câu về cơ sở lý luận và thực tiễn.
9
Tôi ghi lại cách làm của tôi để các bạn đồng nghiệp tham khảo. Và rất
mong nhận được sự góp ý từ các nhà quản lý và các thầy cô giáo.
8/ Đề nghị:
SKKN của tôi trên đây đã được áp dụng trong thực tế và đã thực sự mang
lại hiệu quả, làm xoay chuyển về mọi mặt từ một lớp yếu kém trở thành một
b. Những HS có tiến bộ về học tập trong tháng là các em: Vy
Ngà; Quốc; Minh Quý; Sáng; Công Lợi; Thắm; Nghiêm; Đ T Trinh;Vương;
Minh; K. Yến; Luyện; Thạch; Bốn.
II. Tình hình hạnh kiểm:
1. HS có những hành vi, việc làm tốt đáng biểu dương: Nghiêm;
Minh; Mai t Tâm; Huỳnh t Tâm; Vy Ngà;Hiền Trang; Văn Đại ( xung phong
tham gia thi Hội khỏe Phù Đổng) và các em cán sự lớp thực hiện tốt nhiệm
vụ như: em Trâm, Thiện; Phượng; Quang; Bốn; Thạch; Ngà; Hồng Nhung;
Ngọc; N.Quý.
2. Kết quả xếp loại hạnh kiểm:
a. Hạnh kiểm Tốt : có 28 em; tỉ lệ 77,7%; tăng 16,6% so với
tháng trước.
11
b. Hạnh kiểm Khá gồm các em: Sáng; Văn Lợi; Nga; Minh;
Phú; Thịnh.(6em)
c. Hạnh kiểm TB gồm các em: Đại; Công Lợi.
d. Hạnh kiểm yếu : Không có HS yếu về hạnh kiểm( giảm 2
em)
III. Danh sách HS được khen thưởng:
1. Học sinh được thưởng “BẢNG DANH DỰ” gồm: Thảo Vy; Trâm;
Lạc;
Ngọc Quý; Thiện; Ngọc Phượng (6 em).
2. Học sinh được thưởng “BẢNG TUYÊN DƯƠNG” gồm: Quang;
Bốn; Kim Yến; Quốc; Sương; Hằng; Thạch; Ngà; Minh Quý; Thắm; Hồng
Nhung; Luyện; Huỳnh T Tâm; Đặng T Trinh; Phạm Văn Nghiêm; Nguyễn
Ngọc Vương; Tiến.
3. Thông báo riêng cho phụ huynh em:
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
thanh niên
về thi đua
ái quốc
Báo Nhân Dân Số 22;
ngày
23/8/1951
3 Nguyễn
Xuyến
Bác Hồ nói
về thi đua
yêu nước
Bản tin Y tế tỉnh Thừ Thiên- Huế Số 6/2010
13
MỤC LỤC
1. Tên đề tài: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 1.
2. Đặt vấn đề . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 1
3. Cơ sở lý luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 2
4. Cơ sở thực tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 3
5. Nội dung nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 3
6. Kết quả nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 5
7. Kết luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 6
8. Đề nghị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 6
9. Phụ lục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 7
10. Tài liệu tham khảo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 9
11. Mục lục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 10
12. Phiếu đánh giá xếp loại SKKN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang 11
14
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Điện Bàn thống nhất xếp loại: . . . . . . . . . . .
Người thẩm định CT HĐKH Phòng GD_ĐT huyện
( Ký tên, đóng dấu)
III. Đánh giá xếp loại SKKN của HĐKH Sở GD và ĐT Quảng Nam:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD và ĐT
Quảng Nam:
thống nhất xếp loại: . . . . . . . . . . .
Người thẩm định CT HĐKH Sở GD - ĐT Quảng Nam
( Ký tên, đóng dấu)
17
18